1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tieu luan pldc moi

23 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 41,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài - Trong nhiều thập kỉ qua, với sự phát triển về kinh tế-xã hội và sự thay đổi mạnh mẽcủa nước ta đã đem lại khá nhiều kết quả đáng trân trọng đặc biệt trong quá

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Nhận xét của giáo viên

Mục lục

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 5

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 5

1 Các khái niệm cơ bản 5

1.1 Khái niệm giới và giới tính 5

1.2 Khái niệm hôn nhân và gia đình 5

1.3 Khái niệm về bình đẳng giới 6

2 Bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình 7

2.1 Mục tiêu của bình đẳng giới 8

2.2 Nội dung cơ bản của bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình

2.2.1 Bình đẳng giới trong việc kết hôn

2.2.2 Bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ và chồng

2.2.3 Bình đẳng giới trong quan hệ giữa cha mẹ và con

2.2.4 Bình đẳng giới trong chế định ly hôn

2.3 Vai trò của bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình

2.4 Các quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

2.5 Vai trò của pháp luật trong việc thúc đẩy bình đẳng giới

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

1 Quá trình phát triển của bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

2 Thực trạng bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

3 Những giá trị tiến bộ và vấn đề chưa được giải quyết trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

3.1 Những giá trị tiến bộ

3.2 Một số hạn chế

Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO, HOÀN THIỆN VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1. Đánh giá khái quát và các thành tựu trong việc thực hiện bình đẳng giới theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

2 Một số giải pháp nâng cao, hoàn thiện và thúc đẩy thực hiện

PHẦN 3: TỔNG KẾT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH SÁCH CÁC CHỨ VIẾT TẮT

BĐG: Bình đẳng giới

UNDP: Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc

HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình

CEDAW: Công Ước Loại Bỏ Mọi Hình Thức Phân Biệt Đối Xử Với Phụ Nữ.SDGs: mục tiêu phát triển bền vững đã được 193 quốc gia thành viên của Hội đồng Liên hợp quốc

Trang 6

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

- Trong nhiều thập kỉ qua, với sự phát triển về kinh tế-xã hội và sự thay đổi mạnh mẽcủa nước ta đã đem lại khá nhiều kết quả đáng trân trọng đặc biệt trong quá trình thúcđẩy bình đẳng giới, đây là một trong số những vấn đề quan trọng và có liên quan đến

sự phát triển nhiều lĩnh vực của một quốc gia.Ngày nay, khi nói đến phát triển người takhông chỉ đề cập đến chỉ số phát triển của con người mà còn xem xét chỉ số phát triểnliên quan đến giới,cùng với nhiều nghiên cứu thực tế đã cho thấy được vai trò và vị thế

xã hội quan trọng của phụ nữ Những minh chứng ấy đã chứng tỏ rằng bình đẳng giới

đã trở thành một trong những vấn đề của phát triển mang tính toàn cầu, và được côngnhận là một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỳ, được Đại hội đồng Liên hợpquốc đề ra vào đầu thiên niên kỷ mới

- Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang trong quátrình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam là một trongnhững quốc gia luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và coi đó chính là mục tiêu mangtính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nói chung và quyền bình đẳng giữacác thành viên trong gia đình nói riêng,quan sát thực trạng bình đẳng giới cũng như sựphát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia, UNDP cũng thấy rằng bất bình đẳng giớithực sự vừa là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa làrào cản lớn đối với sự phát triển bền vững và tác động tiêu cực không chỉ đến phụ nữ

mà đến tất cả các thành viên trong xã hội

- Đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình,giới, giới tính cũng là một vấn đề khánhạy cảm, đáng quan tâm liên quan đến quyền của các chủ thể tham gia quan hệHN&GĐ, do đó nhà nước có trách nghiệm thúc đẩy và thế chế hóa BĐG trong hệthồng pháp luật Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã không ngừng quan tâm hoàn thiệnpháp luật HN&GĐ nhằm xây dựng nên tảng,tết bào của xã hội phù hợp với truyềnthống văn hóa đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt nam.Thông qua việc thực thi các quyđịnh của pháp luật HN&GĐ quyền con người, quyền bình đẳng giữa nam giới và nữgiới đã từng bước bảo đảm ,tiến bộ hơn, đặc biệt phụ nữ và trẻ em ngày càng được bảođảm các quyền của mình thay vì bị hạn chế bới những định kiến giới trong xã hội

- Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn sự chênh lệch khá lớn giữa vai trò và vị thế xã hội củaphụ nữ Vì vậy, để tạo ra sự cân bằng giữa vị trí và vai trò của phụ nữ, cần thực hiệnđồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giới và vấn đềbình đẳng giới để xóa dần khoảng cách giới ở nước ta

Trang 7

- Do đó để thúc đẩy và đảm bảo thực hiện triệt để các vấn đề bình đẳng giới đặc biệt

đáng quan tâm hiện nay đó là trong HN&GĐ ta cần nghiên cứu, tìm hiểu đề tài “Vấn

đề bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam”để rút ra được các ý nghĩa lý luận, thực tiên quan trọng trong thời điểm hiện nay

và trong tương lai

2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.

- Đề tài góp phần làm rõ các vấn đề lí luận và thực tiễn pháp luật BĐG ở Việt Nam.

Đặc biệt là BĐG trong pháp luật HN&GĐ

- Đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp người đọc những kiến thức cụ thể để hiểu rõ vềBĐG và chỉ ra những mặt hạn chế, thực trạng BĐG ở Việt Nam để đưa ra kết luận vàphương pháp nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thi hành BĐG trong pháp luậtHN&GĐ ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

- Bình đẳng giới nghĩa là sự công bằng giữa vị trí của nam và nữ trong xã hội,có cơ hộinhư nhau để làm việc và phát triển, BĐG không có nghĩa là chỉ đấu tranh cho quyềncủa phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bình đẳng của tất cả các giới.Tuy nhiên trong thờiđại hiện nay, nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nên đề tài tìmhiểu về vấn đề bình đẳng cho phụ nữ là chủ yếu, nhưng ngoài ra còn đề cập chung đếntất cả các giới trong linh vực đang quan tâm Đồng thời pháp luật BĐG còn là lĩnh vựcmới mẻ với nhiều nội dung trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, vì vậy

ở đề tài này không đi sâu nghiện cứu tất cả các linh vực mà chỉ giới hạn ở lĩnh vựcHN&GĐ

4.Phương pháp nghiên cứu.

- Đề tài này được sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, đối chiếu,

so sánh giữ lí luận và thực tiễn, lấy ví dụ, liên hệ thực tế để làm rõ các quy định củapháp luật về bình đăng giới trong HN&GĐ Các phương pháp này giúp chi việc nghiêncứu đề tài được xét theo nhiều góc độ, phương diện khác nhau, từ đó hoàn thiện hơncác quy định của pháp luật, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu BĐG

5 kết cấu đề tài.

- Đề tài nghiên cứu về “Vấn đề bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân và gia đình

theo pháp luật Việt Nam” bao gồm 3 chương chủ chủ đạo:

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG HÔNNHÂNVÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Trang 8

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM.

Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO, HOÀNTHIỆN VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEOPHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 9

PHẦN 2: NỘI DUNG Chương 1:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG HÔN

NHÂNVÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

1 Các khái niệm cơ bản

1.1 Khái niệm giới và giới tính.

-Khái niệm giới và giới tính giúp ta phân biệt đặc điểm của phụ nữ và nam giới thể hiện qua các nội dung sau:

Giới là khái niệm mới xuất hiện trong khoa học về giới ở các nước nói tiếng

Anh vào cuối những năm 60 và ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX

Giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ

nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay mộtnền văn hóa nhất định

Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,…

- Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội

- Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có

sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học)

Ví dụ: nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú

1.2 Khái niệm hôn nhân và gia đình.

- Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Xã hội nào thì sẽ có hình thái

hôn nhân đó, tương ứng với nó là sẽ có chế độ hôn nhân nhất định: xã hội phong kiến

có hôn nhân phong kiến, xã hội tư bản có hôn nhân tư sản, xã hội chủ nghĩa có hôn nhân xã hội chủ nghĩa

Trang 10

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chungsống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoàn thuận và bền vững

- Theo Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 năm 2014:

1 Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn.

2 Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ

huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này

3.Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết

hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

1.3 Khái niệm bình đẳng giới.

- Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Khái niệm bình đẳng giới ngụ ý rằng nam giới

và nữ giới cần nhận được những đối xử bình đẳng trong tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và nhân quyền|quyền con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi Đây là một chiến lược được Liên Hiệp quốc theo đuổi trong việc xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách để đạt mục tiêu cuối cùng là nữ giới và nam giới được bình đẳng với nhau về pháp lý

- Theo Điều 26 của Hiến pháp năm 2013 quy định: Công dân nam, nữ bình đẳng vềmọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới Nhà nước,

xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò củamình trong xã hội Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới

- Một cách hiểu khác đầy đủ hơn và tương đối phổ biến thì bình đẳng giới là “sự thừanhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa nữ giới và namgiới.’ Nam giới và nữ giới đều có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau có điềukiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơhội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quátrình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởngthành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội

- Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ

từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con sốhoặc tỉ lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất,

Trang 11

vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc cácthành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển tòan diện về mọimặt Đồng thời tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việcmang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại.

- Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006:

“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều

kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia

đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

2 Bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình

2.1 Mục tiêu của bình đẳng giới.

- Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho

nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bìnhđẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữanam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

2.2 Nội dung cơ bản của bình đẳng giới trong hôn nhân và gia đình.

- BĐG vừa là vấn đề cơ bản của quyền con người, vừa là yêu cầu về sự phát triển xãhội một cách công bằng, hiệu quả và bền vững đặc biệt là trong đời sống gia đình thì

sự bình đẳng giới càng quan trọng BĐG bao gồm một số nội dung cơ bản liên quanđến:

2.2.1 Bình đẳng giới trong việc kết hôn

- Quyền kết hôn là quyền gắn với nhân thân mỗi bên nam, nữ.Đảm bảo cho các bênđược tự nguyện quyết định chuyện hôn nhân của mỗi bên nam nữ là yêu cầu quantrọng được nhà làm luật ghi nhận và bảo vệ, với một số quy định sau:

Xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép,trọngnam khinh nữ, coi rẻ quyền lơi của con gái

Cấm tảo hôn, cưỡng ép cưỡng hôn, cản trở hôn nhân tự do, đánh đập ngược đãingười vợ

Việc kết hôn phải được ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của cả hai bêncông nhận và ghi vào sổ kết hôn.Tất cả đều được dựa trên cơ sở tự nguyên, bình đẳnggiữa các bên

Trang 12

- Như vậy, không chỉ ghi nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ về quyền tự do kết hôn,pháp luật còn bảo đảm cho quyền đó được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Đểbảo vệ một cách hiệu quả sự BĐG trong việc thực biện quyền tự do kết hôn cần phảitạo cho người phụ nữ “cơ hội” để họ có thể thực hiện quyền này.

2.2.2 Bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ và chồng

- Bình đẳng giữa vợ và chồng là việc trong sinh hoạt đời sống vợ chồng, mỗi người có

quyền và lợi ích ngang nhau Không ai có quyền hơn người kia về vấn đề gì trong cuộcsống Tôn trọng nhau đảm bảo quyền lợi cho nhau theo quy định của pháp luật

- Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng:

Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặttrong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân (Theo Điều 17:Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng)

Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên

quan đến hôn nhân và gia đình (Theo Điều 18 Luật Bình đẳng giới 2006)

Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếmhữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình vàlao động có thu nhập(Theo Điều 29: Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợchồng)

- Sự bình đẳng về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng còn được thểhiện ở quy định vợ chồng có tài sản riêng của mình: Vợ chồng có quyền độc lập trongviệc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt riêng, có quyền nhập hay không nhập tài sản riêngvào khối tài sản chung Việc quy định như vậy không làm ảnh hưởng tới tính chất củaquan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của gia đình Bêncạnh đó còn góp phần ngăn chặn hiện tượng hôn nhân nhằm vào lợi ích kinh tế màkhông nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và có ý nghĩa quan trọng trong việc định đoạttài sản

- Tình nghĩa vợ chồng là cơ sở để gắn nghĩa vụ của vợ chồng với nhau nên vấn đề cấpdưỡng đặt ra bình đẳng giữa vợ và chồng Trong trường hợp ly hôn, quan hệ hôn nhân

đã chấm dứt nhưng luật vẫn quy định vợ, chồng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bênkia nếu trong tình trạng thiếu thốn, khó khăn và cần được cấp dưỡng (Điều 115 Luậthôn nhân và gia đình năm 2014)

- Đồng thời “luật còn ghi nhận vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau khi một

bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố chết” Quyền này được ghi nhận tại Điều 676 Bộ

luật dân sự 2015 số 91/2015/QH13 mới nhất áp dụng năm 2021 và Điều 66 Luật Hônnhân và gia đình năm 2014

- Về việc nuôi dạy con cái, vợ chồng trong gia đình cũng phải có những quyền vànghĩa vụ nhất định Nó không chỉ được hiện hữu trong giai đoạn hôn nhân mà sau hônnhân vợ hay chồng cũng có quyền ngang nhau và như nhau về việc nuôi dạy con cái

Ngày đăng: 21/02/2022, 20:59

w