1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NGÔN từ NGHỆ THUẬT TRONG tác PHẨM văn học

20 104 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌCI.Khái niệm ngôn từ nghệ thuật Sử dụng ngôn ngữ một cách nghệ thuật là một nhu cầu không chỉ trong sáng tạo văn học.. Là phương tiện vật chất của

Trang 1

NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

I.Khái niệm ngôn từ nghệ thuật

Sử dụng ngôn ngữ một cách nghệ thuật là một nhu cầu không chỉ trong sáng tạo văn học Ngôn ngữ sử dụng trong hùng biện, diễn thuyết, giảng đạo, truyền thông, hay ngay cả trong giao tiếp hàng ngày cũng đều có tính nghệ thuật Tuy nhiên, ngôn ngữ được sử dụng trong sáng tạo văn học là loại ngôn ngữ có tính đặc thù

Nó được gọi là ngôn từ nghệ thuật1 hay còn gọi là lời văn nghệ thuật, ngôn từ văn học Ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ trong tác phẩm văn học, tạo nên văn bản văn học Tiếp xúc với tác phẩm văn học trước hết là tiếp xúc với ngôn từ Ngôn từ là

“yếu tố đầu tiên” của văn học2 Là phương tiện vật chất của văn học, ngôn từ được

mã hóa những cảm xúc thẩm mĩ, biểu hiện thế giới nghệ thuật đặc thù, độc đáo của tác phẩm văn học

Ngôn từ nghệ thuật là một hiện tượng nghệ thuật - thẩm mĩ, nó có những đặc điểm phân biệt với lời nói hàng ngày và ngôn từ trong các lĩnh vực khác Ngôn từ nghệ thuật được tổ chức đặc biệt theo các nguyên tắc thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật, phong cách sáng tạo, thể loại Tổ chức ngôn từ này là vật môi giới trong cuộc giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc Chính vì vậy nó khác với lời nói hàng ngày ở chỗ, nếu lời nói hàng ngày mang tính ngẫu nhiên, tạm thời, một lần, có thể kết hợp với cử chỉ người nói, thì ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ có dụng công chọn lựa, tổ chức thành văn bản cố định, không chỉ thực hiện giao tiếp một lần mà nhiều lần hoặc mãi mãi Ngôn từ nghệ thuật không có ngữ cảnh trực tiếp như lời nói thường, nó có ngữ cảnh nội tại của chính văn bản và ngữ cảnh thời đại, văn hóa Ngôn từ nghệ thuật có quy luật đơn kênh, không một phát ngôn đồng nghĩa nào có thể thay thế được nó (G.V.Xtepanop)

Ngôn từ nghệ thuật có đặc trưng gì? Vấn đề đặc trưng của ngôn từ trong văn học được đặt ra một cách nghiêm túc trong khoa nghiên cứu văn học từ đầu thế kỉ XX Trước thế kỉ XX, ngôn từ được coi như một thứ công cụ để biểu đạt nội dung tư tưởng Giá trị độc lập tự thân của nó chưa được nói đến Các nhà hình thức chủ nghĩa đầu thế kỉ XX bắt đầu nêu vấn đề tính độc lập và tính thẩm mĩ của ngôn từ

1 Lí luận ngôn ngữ của F de Sausure phân biệt ngôn ngữ và ngôn từ Ngôn ngữ là tổng hợp những quy tắc nói năng được hình thành do quy ước của cộng đồng, là hệ thống kí hiệu thuộc về toàn xã hội Ngôn từ là sự sử dụng ngôn ngữ của cá nhân, thực hiện trong các giao tiếp xã hội Văn học là một hình thức giao tiếp, là hoạt động sáng tạo bằng chất liệu ngôn ngữ mang tính cá nhân

2 M.Gorki, Bàn về văn học, Nxb Văn học, H, 1965.

1

Trang 2

văn học Xét trên nhiều bình diện, các nhà nghiên cứu đã xác định các đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật M.Bakhtin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính đa ngữ, V.Skhlovski nêu tính lạ hóa, R.Jakobson nói đến tính văn học, Frye nêu tính hướng nội, W.Empson nêu tính mơ hồ, Timôfeep nói đến tính nguyên hợp, Poxpelov nói đến tính hình tượng, tính biểu cảm Ngoài ra còn có ý kiến nói đến tính tu từ, tính trò chơi, tính cacnavan Căn cứ vào thuộc tính của công cụ biểu đạt, người ta nói đến tính chính xác, tính biểu cảm, tính hàm súc của ngôn từ nghệ thuật Từ phương diện ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ nói đến tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa, cụ thể hóa, tính hệ thống của ngôn từ văn học

Căn cứ vào thuộc tính thẩm mĩ có thể xác định một số đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật như sau

Thứ nhất là tính hình tượng Tính hình tượng của ngôn từ nghệ thuật trước hết

được hiểu đó là lời của một chủ thể thẩm mĩ, một vai văn học, một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra Lời văn trong tác phẩm văn học là lời của các hình tượng nghệ thuật mang tính hư cấu như nhân vật trữ tình, nhân vật, người kể chuyện chứ không phải lời của tác giả Trong văn học, chủ thể lời không phải là tác giả thực tế

Tác giả chỉ có một, những chủ thể lời có thể là một hoặc nhiều Trong Việt Bắc (Tố

Hữu), chủ thể lời luận phiên hai loại nhân vật trữ tình là mình- ta, không phải là lời

của Tố Hữu Tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) có nhiều người kể

chuyện Nhà văn không bao giờ xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm Chủ thể lời trong tác phẩm văn học là chủ thể tư tưởng thẩm mĩ - xã hội có tầm khái quát nhất định Qua lời văn có thể hình dung ra chủ thể phát ngôn từ nghề nghiệp, giới tính, tính cách, đến tâm trạng, trạng thái hoạt động

Lời văn nghệ thuật có khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật, làm cho người đọc có thể hình dung rõ nét về thế giới nghệ thuật qua các hình dáng, màu sắc, âm thanh, nhịp điệu, hoạt động, động tác, chuyển động Đó là một thế giới hình tượng sống động Người đọc có thể hình dung thế giới đó như là nó đang tồn tại thực Mặt khác, nó còn gợi ra một cách hữu hình những tâm trạng, cảm xúc, trạng thái bên trong thế giới tâm hồn Hay nói cách khác, lời văn có khả năng hình tượng hóa thế giới tinh thần Xuân Diệu viết: “Bốn bề ánh nhạc biển pha lê/ Chiếc

đảo hồn tôi rợn bốn bề” (Nguyệt cầm) là phú cho những thứ vô hình như âm nhạc,

hồn người một hình ảnh hiện hữu

Trang 3

Thứ hai là tính nội chỉ Ngôn từ văn học là ngôn từ biểu hiện thế giới nghệ thuật

trong tác phẩm Đó là thế giới hư cấu, nằm trong tác phẩm văn học Vì vậy, ngôn

từ nghệ thuật không nhằm thông tin về sự thực bên ngoài mà mã hóa những thông tin về thế giới bên trong, thế giới tinh thần Ngôn từ văn học không nhằm miêu tả

sự vật, hiện tượng bên ngoài thế giới khách quan mà nó tạo nên một thế giới tưởng tượng, hư cấu, một thế giới mang tính tinh thần Thế giới đó nếu đối sánh với hiện thực thì có thể có hình bóng của hiện thực, nhưng “hiện thực” đó đã thoát khỏi thế giới khách quan thuần túy, được nhìn qua cái chủ quan của nghệ sĩ, trở thành chất liệu tạo dựng thế giới hư cấu Chính ý nghĩa nội chỉ làm cho ngôn từ có nhiệm vụ xây dựng một thế giới tưởng tượng, hư cấu Tính nội chỉ gắn liền với tính nội cảm

Trong Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm) có thể gặp một không gian Kinh Bắc với

dòng sông Đuống, bãi mía bờ dâu, ngô khoai, tranh gà lợn, chợ Hồ, chợ Sủi Song

đó không phải một không gian thực mà là một không gian trong tâm tưởng, được tạo ra từ nỗi đau, sự trăn trở, niềm tự hào, lòng quyết tâm đánh giặc của nhà thơ

Do vậy mới có cảnh sông Đuống “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”, “Mẹ con đàn lợn âm dương/chia lìa trăm ngả/ Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã/ Bây giờ tan tác về đâu” Bài thơ là một tâm ảnh Kinh Bắc

Thứ ba là tính mơ hồ, đa nghĩa Ngôn từ nghệ thuật là một hiện tượng nghệ

thuật do nghệ sĩ sáng tạo ra theo quy luật thẩm mĩ Nó có tính mơ hồ, không xác định, giống như hoa ở trong gương, trăng nơi đáy nước Thơ Lí Bạch có câu “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” (Mây ngỡ xiêm y hoa ngỡ mặt người), mây - áo, hoa - người chập chờn, ảo thực, mờ chồng Mơ hồ cũng là cơ sở tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau Nghĩa của ngôn từ có thể được mở rộng, thoát khỏi nghĩa bề mặt thông thường Ngôn từ văn học có nhiều nghĩa, ngoài nghĩa đen còn có các nghĩa bóng, nghĩa phức, nghĩa trượt, nghĩa ngoài lời Câu thơ “Đầu súng trăng treo” (Chính Hữu) có thể hiểu theo nhiều cách Nguyễn Du tả Thúy Kiều đánh đàn “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay” thì có thể hiểu dây tơ nhỏ máu hay ngón tay đàn

nhỏ máu, tiếng đàn hay cõi lòng nhỏ máu, đều được cả W.Empson trong Bảy loại

hình nghĩa mơ hồ (1930) đã khái quát các hiện tượng đa nghĩa trong văn học Ví

dụ, hiện tượng nói sự vật này mà như nói đến sự vật khác vì chúng có những điểm chung, do quan hệ ngữ pháp không chặt chẽ mà có thể hiểu theo nhiều cách, một từ

có thể hiểu hai nghĩa Những bài thơ của Hồ Xuân Hương như Bánh trôi nước,

Vịnh cái quạt đều là cách nói đến sự vật này mà như nói đến sự vật khác Khi

Nguyễn Duy viết

3

Trang 4

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm

Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng

Trong hơi ấm ấm hơn nhiều chăn đệm

Của những cọng rơm xơ xác gầy gò

(Hơi ấm ổ rơm)

thì hơi ấm ổ rơm cũng là sự nồng ấm của tình người, những cọng rơm xơ xác gày gò cũng là sự bình dị, lam lũ, nghèo khổ của những bà mẹ đồng chiêm Đỗ Mục, nhà thơ đời Đường, viết về sự chia ly:

Chiếc nến có lòng còn luyến tiếc

Thay người nhỏ lệ suốt năm canh

(Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt

Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh)

(Tặng biệt)

Những giọt nến chảy hay giọt lệ tiễn nhau, giọt nước mắt trong lòng hay nến vô tri cũng vì người mà nhỏ lệ, hiểu thế nào cũng hợp lí

Trong ngôn từ nghệ thuật, một cái biểu đạt có thể biểu đạt nhiều cái được biểu đạt Không bao giờ chỉ có một nghĩa, minh xác, ổn định Bản thân ngữ cảnh có thể tạo ra các nghĩa khác nhau Nghĩa của ngôn từ phụ thuộc vào ngữ cảnh Ngữ cảnh

là toàn bộ những điều kiện quy định lời văn, ý nghĩa, giá trị của văn bản Có ba loại ngữ cảnh: ngữ cảnh văn bản (văn cảnh), ngữ cảnh thời đại, ngữ cảnh văn hóa

Câu kết bài Hạt gạo làng ta Trần Đăng Khoa viết: “Em vui em hát/ Hạt vàng làng

ta” Đặt trong văn cảnh bài thơ, trong mạch cảm xúc từ khổ đầu tiên đến khổ cuối cùng, hình ảnh hạt gạo chính là “hạt vàng” quý giá, bởi kết tinh trong đó hương vị của đất, gió, nắng, giọt mồ hôi của mẹ, những ngọt bùi cay đắng, cả mùi vị chiến tranh, công sức nhỏ bé của các em thiếu nhi Đó là sự trưng cất tất cả cuộc sống của con người, quê hương Chính ngữ cảnh gợi ra những hàm nghĩa của ngôn từ

Trang 5

Để hiểu ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật rất cần sự hiểu biết về các yếu tố xã hội, văn hóa Ngôn ngữ là một hình thức của văn hóa, ngôn ngữ cùng lịch sử, thần thoại, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo đều là những bộ phận tạo thành của văn hóa Hình ảnh con sói trong nhiều câu truyện ngụ ngôn phương Tây biểu thị sự xảo

trá, gian ngoan Nhưng trong Tôtem sói (Khương Nhung) thì sói vừa có nghĩa thực

- loài sói thông minh, nhẫn nại, hoang dã, hung dữ và thần bí ở thảo nguyên Nội Mông - vừa là một vật tổ có tính biểu trưng cho đời sống tâm linh, tôn giáo, lịch

sử, đồng thời nó cũng ẩn dấu những bài học cho quá trình sinh tồn của con người Ngoài ra, nghĩa của ngôn từ còn phụ thuộc vào ngữ cảnh tiếp nhận của bạn đọc Bạn đọc trong những thời đại khác nhau, ở những tầm đón nhận khác nhau sẽ khai thác những nét nghĩa khác nhau của ngôn từ văn học Như vậy, ngôn từ văn học là ngôn từ tiềm chứa những khả năng sinh nghĩa

Thứ tư là tính lạ hóa Lạ hóa là toàn bộ những thủ pháp trong nghệ thuật được

dùng để đạt đến một hiệu quả thẩm mĩ Mục đích của ngôn từ nghệ thuật là truyền đạt những thông tin thẩm mĩ, do vậy nhà văn luôn tìm kiếm những cách diễn đạt giàu sáng tạo, hướng đến sự chuyển tải cảm xúc Ngôn ngữ trong quá trình sử dụng lâu dài giống như tiền giấy bị cũ đi trong quá trình lưu thông, sự vật đuwọc miêu tả hiện lên một cách quen thuộc, làm mất đi sự cảm nhận tươi mới Lạ hóa là không dùng danh từ chỉ sự vật để gọi tên sự vật, mà sự vật được hiện ra không phải như ta

đã quen biết mà như một cái gì mới mẻ, chưa quen, mới thấy lần đầu, gây nên ở chủ thể tiếp nhận sự ngạc nhiên và hiếu kì Lạ hóa tạo ra một cái nhìn mới, khác lạ, phá vỡ những khuôn hình đã quen thuộc Ngôn từ nghệ thuật thường phá vỡ tính chuẩn mực của ngôn ngữ thông thường, không tuân thủ nghĩa từ điển, sáng tạo những cách nói mới Lạ hóa xảy ra ở các cấp độ: lạ hóa trong cấu tạo từ, tạo ý tượng, lạ hóa trong cách tạo câu Trong văn học ta bắt gặp nhiều cụm từ như “hoa học trò” (Xuân Diệu), “sợ nhớ sợi thương” (Thúy Bắc), “màu dân tộc”, (Hoàng Cầm), “cuộc chia li màu đỏ” (Nguyễn Mĩ), “Đêm tin tưởng” (Chế Lan Viên),

“dáng kiều thơm” (Quang Dũng), “rừng tị nạn”, “rượu giang hồ”, “nỗi niềm cổ tích”, “sa mạc nhân tâm” (Nguyễn Tuân), “lũy thừa yêu”, “lũy thừa nhớ”, “lũy thừa đau”, “triền kí ức”, “kè đời câm”, “đêm lập thể” (Dương Tường), “tóc hong mùi ca dao” (Lê Đạt) Từ ngữ trong văn học không đơn giản là sự diễn tả sự vật hiện tượng mà đó là cách biểu hiện sự vật hiện tượng trong sự cảm nhận, thể nghiệm riêng của chủ thể, mang các khuynh hướng tư tưởng nhất định Sự vật hiện tượng được khoác một cái tên mới, được hiện lên ở những góc cạnh bất ngờ Chiếc

5

Trang 6

cà vạt được Nguyễn Tuân gọi là “những kiếp tơ tằm được nhuộm thắm”, hay sóng sông Đà thì ông gọi là “luồng sinh”, “luồng tử” Hoa, bướm trong thơ Nguyễn Bính thành “hoa khuê các”, “bướm giang hồ”

Lạ hóa trong cách tạo câu là cách sử dụng những câu đặc biệt, đảo trật tự câu

Có khi là một loạt câu ngắn, cụt, cấu tạo bằng một từ: “Chửi Kêu Đấm Đá Thụi Bịch Như mưa vào đầu ” (Nguyễn Công Hoan) diễn tả những hành động liên tiếp Cách đảo thành phần câu cũng tạo những hiệu quả thẩm mĩ đặc biệt: “Xanh

um cổ thụ tròn xoe tán/ Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ” (Bà huyện Thanh Quan)

Có nhà thơ còn thiên về lạ hóa cảm nhận thính giác, khơi gợi ấn tượng về sự vận

động hay nhịp điệu bên trong của sự vật Tập thơ Bóng chữ (Lê Đạt) sử dụng nhiều

âm tiết là những nguyên âm như thể tiếng con trẻ phát ra từ cõi hồn nhiên sơ khai nhất của con người

Thứ năm là tính tổ chức cao Ngôn từ trong tác phẩm văn học là ngôn từ đã

được lựa chọn, tổ chức chặt chẽ trong một cấu trúc cố định Không thể tùy tiện thay thế hay đảo lộn vị trí của từ, cụm từ, câu, đoạn Bất kì một thay đổi nào của tổ chức ngôn từ cũng đều phá vỡ cấu trúc chỉnh thể của văn bản Cũng có hiện tượng tam sao thất bản hoặc nhà văn tự sửa văn mình, qua những bản ghi chép, bản in khác nhau câu chữ trong văn bản bị thay đổi Khi thay đổi dù chỉ một từ thì ý nghĩa văn bản cũng thay đổi (Ngay cả hiện tượng dị bản trong văn học dân gian tình hình cũng như vậy) Tác phẩm văn học là một kiến trúc ngôn từ, có sự ổn định về cấu trúc Sự ổn định trong cấu trúc ngôn từ là yếu tố nhận diện tác phẩm, bởi mỗi tác phẩm văn học là duy nhất, độc đáo, không lặp lại

II.Khả năng nghệ thuật của ngôn từ văn học

Trong cấu trúc văn bản văn học, ngôn từ có thể phân thành hai tầng: tầng ngữ

âm và tầng ngữ nghĩa Tầng ngữ âm được tạo thành nhờ sự kết hợp âm tiết, thanh điệu, vần, nhịp, tiết tấu Tầng ngữ nghĩa tạo thành do sự kết hợp bên ngoài và bên trong ngôn ngữ Trong hệ thống ngôn từ, ngữ âm là tầng bề mặt, ngữ nghĩa là tầng

bề sâu Mỗi đơn vị dù là nhỏ nhất của hệ thống ngôn từ đều thực hiện chức năng nghệ thuật, đó là truyền đạt thông tin thẩm mỹ, tạo hình và biểu hiện phong cách ngôn ngữ riêng biệt

Trang 7

1.Tầng ngữ âm

Phương diện ngữ âm của ngôn từ văn học gồm âm (nguyên âm, phụ âm, vần), thanh (thanh điệu bằng trắc, trầm bổng), nhịp điệu (sự phối hợp âm thanh, tiết tấu) Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu nghệ thuật xếp văn học vào loại hình nghệ thuật thính giác Dù đọc thành tiếng hay đọc ngầm thì âm vang của ngôn

từ vẫn hiện lên thể hiện điệu tình cảm, sự vang động của tâm hồn con người Sự phối hợp âm vận, nhịp điệu, tiết tấu tạo thành mĩ cảm của thính giác Đây chính là

vẻ đẹp đặc biệt của ngôn từ văn học Mĩ cảm thính giác có tác động đến trực cảm người đọc Từ sự thẩm âm người đọc có được những cảm giác trực tiếp của giác quan Chu Quang Tiềm nói: “Tôi đọc văn chương có âm điệu lảnh lót, tiết tấu lưu loát, gân cốt toàn thân như chuyển động cùng tiết tấu, khẩn trương hay êm dịu đều tạo ra cảm giác cực kì thích thú Nếu như âm điệu có trục trặc, gân cốt toàn thân cũng có cảm giác bất an, giống như nghe đầu bếp khua nồi báo lửa cháy vậy”3 Các yếu tố như thanh, vần, nhịp, tiết tấu được sắp đặt, biến hóa tác động vào nhạc cảm của người thưởng thức Vẻ đẹp của âm toát ra từ sự hài hòa âm điệu Trong sáng tạo thi ca, người ta rất chú ý đến vẻ đẹp thanh điệu, phối hợp thanh bằng trắc tạo độ trầm bổng cho lời thơ Sự phối hợp thanh điệu bằng trắc, sự tái hiện, lặp lại của các thành phần ngữ âm, sự vận dụng các phép tu từ ngữ âm (song thanh, điệp, hiệp âm) làm nên vẻ đẹp đặc biệt cho ngôn từ nghệ thuật Tản Đà viết:

“Tài cao, phận thấp, chí khí uất/ Giang hồ mê chơi quên quê hương”, câu thơ thứ nhất dùng nhiều thanh trắc, còn câu thứ hai lại dùng toàn thanh bằng Việc đối lập thanh điệu ở hai câu tạo sự ngắt mạch, chuyển hướng đột ngột của giai âm, đem lại cảm giác xáo trộn, bất nhất Câu thứ nhất như một niềm bức bối, phẫn uất của con người bất đắc chí Câu thứ hai như một sự buông bỏ, bẫng nhẹ, bay bổng, miên

man và như xen lẫn cả tiếng thở dài Hay trong Mưa Thuận Thành (Hoàng Cầm),

các âm cuối dòng thơ hầu như đều là âm mở, âm tiết kết thúc bằng nguyên âm có

độ ngân vang, như lời dân ca êm ả kéo dài, tạo sự mênh mang, làm cho hồn người như trôi vào miền mơ tưởng:

Mưa chuông chùa lặn

Về bến trai tơ

Chùa Dâu ni cô

3 Trích qua Lí luận văn học, Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến cb, Nxb Đại học Hoa Trung, Vũ Hán, 2002.

7

Trang 8

Sao còn thẩn thơ

Sao còn ngơ ngẩn

Không về kinh đô

Mưa ngồi cổng vắng

Mưa nằm lẳng lặng

Hỏi gì xin thưa

Nhớ lụa mưa lùa

Sồi non yếm tơ

Thuận Thành đang mưa

Vẻ đẹp ngữ âm gợi chiều sâu của nghĩa Phương diện ngữ âm của ngôn từ nghệ thuật là âm thanh mang nghĩa, khơi gợi trường liên tưởng rộng lớn Chủ nghĩa hình thức từng cho rằng âm đóng vai trò độc lập trong tác phẩm, những nhân tố như ngữ nghĩa, cú pháp có thể chịu sự chi phối bởi những quy luật của âm Ngữ âm có khả năng gợi thanh, gợi hình, đánh thức những cảm giác, biểu diễn các tình điệu của

tâm trạng, thể hiện nguyên tắc nghệ thuật Bài Tây Tiến (Quang Dũng) có câu:

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” Bản thân các từ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã gợi ra sự ghập ghềnh, hiểm trở, cheo leo, xa hút của địa bàn rừng núi Câu thơ ngắt đôi, gấp khúc như những khúc cua đột ngột, nguy hiểm Âm vận, nhịp điệu xuất phát từ nhu cầu biểu đạt ý Khi biểu lộ lòng nhiệt thành, sự ham hố, thì lời lẽ tiếp nối liên tục, tiết điệu dồn dập, không ngừng nghỉ:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Trang 9

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng - Xuân Diệu)

Chín dòng thơ là một câu dài, liền một mạch, trong đó có nhiều từ lặp lại, cảm giác như lời thơ “thừa thãi”, không gọt rũa, biểu thị nguồn cảm xúc ứ đầy, như tràn

ra khỏi dòng thơ, vắt từ dòng này sang dòng khác, tuôn chảy, trào dâng, cuống quýt Hay khi muốn chạm đến nơi sâu lắng nhất của tâm hồn để từ đó khơi dậy tất

cả sức mạnh tinh thần của con người thì lời văn tha thiết, bổng trầm như điệu hồn

xứ sở: “Ôi dân tộc ta từ trong máu lửa mà sinh ra, mà lớn lên Từ trong máu lửa bốn nghìn năm chúng ta đứng dậy và cất tiếng nói Từ trong máu lửa đỏ cháy cả không gian và thời gian như vậy, tưởng như chỉ có thể là tiếng kêu rú căm hờn, dân tộc ta chỉ có thể nấc lên tiếng khóc xé ruột, xé lòng Thế nhưng lạ lùng thay, từ trong máu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng nói ấy lại là tiếng hát trữ tình, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như một cuộc hò hẹn, xao xuyến như buổi gặp gỡ ban đầu Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết

chừng nào” (Đường chúng ta đi - Nguyên Ngọc) Nhà văn Lão Xá (Trung Quốc)

từng nói: “Chúng ta muốn truyền đạt tình cảm đau buồn thì chọn những chữ không mang sắc thái quá mạnh mẽ, thanh âm không quá rộn ràng, tạo thanh câu hơi dài một chút, khiến cho mọi người đọc lên, vì sự chậm chạp của ngữ điệu, ảm đạm của câu chữ mà thấy bi ai Ngược lại, chúng ta muốn biểu đạt tình cảm khảng khái,

hùng hồn thì cần phải dùng ngôn từ mạnh mẽ, vui vẻ” (Tôi học ngôn ngữ như thế

nào)4

2.Tầng ngữ nghĩa

Ngôn từ văn học là kí hiệu nghệ thuật đặc thù, mã hóa những thông tin thẩm mĩ

Do yêu cầu truyền đạt thẩm mĩ, văn học thường sử dụng các biện pháp tu từ, phá

4 Sđd

9

Trang 10

vỡ các quy tắc ngữ pháp, các nghĩa từ điển thông thường nhằm đạt tới những hiệu quả đặc biệt Do vậy, trong văn học, ngôn từ thường có hai phương diện nghĩa: nghĩa bề mặt và nghĩa bề sâu Nghĩa bề mặt là nghĩa mặt chữ, nghĩa đen, thường có tính xác định, rõ ràng Nghĩa bề sâu là nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn, nghĩa ngoài lời, hàm ẩn, kín đáo, không xác định, có tính co dãn Nghĩa bề mặt và nghĩa bề sâu kết hợp chặt chẽ, khiến cho ngôn từ văn học có tính đa nghĩa, mơ hồ, đem lại sự phong phú, thú vị trong cảm thụ thẩm mĩ

Các nhà nghiên cứu thường nói đến nhiều loại nghĩa như nghĩa song quan, nghĩa

ám thị, nghĩa so sánh ví von, nghĩa mỉa mai, nghĩa tượng trưng, nghĩa ngoài lời Nghĩa song quan là nghĩa tạo thành do mượn từ ngữ giống nhau biểu đạt những ý

khác nhau Bài thơ Cây tam cúc (Hoàng Cầm) hiểu theo hai nghĩa, một là sự tái

hiện một cuộc chơi bài, hai là những cảm xúc luyến ái thơ trẻ, do vậy, “kết xe hồng” hay “gọi đôi” vừa là cách chơi tam cúc vừa là mong ước gắn kết lứa đôi

Nghĩa mỉa mai là nghĩa sinh ra do sự tương phản, đối lập nghĩa thực tế và nghĩa

mặt chữ Phùng Tất Đắc trong những bài phiếm luận của mình đã dùng khá nhiều cách đối lập nghĩa mặt chữ với nghĩa hàm chứa tạo ý vị trào phúng: “Ai hay rằng bệnh thiếu tiền còn giúp ta trở nên cao thượng nữa Bác thuyền chài kia ở vùng Nam Định, bắt được quả tang vợ có ngoại tình mà tha thứ cho cả gian phu lẫn dâm

phụ: bác không có tiền đi kiện” (Bệnh thiếu tiền) Những từ như “cao thượng”,

“tha thứ” đều chỉ sự độ lượng Ở văn cảnh này thực ra lại diễn tả sự bất lực do nghèo hèn của ông thuyền chài có vợ ngoại tình Còn thực trạng cố cùng của những kẻ ăn xin đầu đường xó chợ được nêu ra để chỉ trích xã hội thì được diễn đạt bằng cách giả vờ chỉ trích chính những kẻ ăn mày với kiểu nhại những ngôn từ mang sắc thái dân chủ: “Chẳng những không ai thương, người ta còn muốn đem giam lại nữa Phải, giam lại, vì người ấy (kẻ ăn mày) phạm một tội lớn: dám công

nhiên phản đối chữ bình đẳng, bác ái của loài người” (Trước đèn)

Nghĩa ví von so sánh là ý nghĩa được sinh ra do lợi dụng chỗ giống nhau của hai

sự vật khác nhau, lấy sự vật này để biểu thị sự vật khác Trần Dần viết “Tôi như kẻ

đi đày trên sa mạc tờ giấy” (Thơ mini), thì sự nhọc nhằn của người viết được ví với

“kẻ đi đày”, sự đằng đẵng trong cuộc tìm tòi câu chữ được ví như sa mạc Lí luận hiện đại phương Tây rất coi trọng lối so sánh, đặc biệt là những so sánh ngầm (ẩn dụ) giữa hai sự vật khác xa nhau, từ đó tạo hiệu quả thẩm mĩ bất ngờ

Ngày đăng: 17/02/2022, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w