1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học nước ngoài trong dạy học văn học trung học phổ thông

101 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, một nhà giáo trong tương lai, người viết xin được thêm một đóng góp nhỏ qua luận văn nghiên cứu với đề tài “Khai thác hình thức nghệ thuật của tác

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

-

KHAI THÁC HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC THPT

Người hướng dẫn:

ThS Nguyễn Đăng Châu

Người thực hiện:

PHẠM THỊ MAI TRANG (Khóa 2009-2013)

Đà Nẵng, tháng 5/2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Đăng Châu Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013 Tác giả khóa luận

Phạm Thị Mai Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

***

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Th.S Nguyễn Đăng Châu, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, các cán bộ, nhân viên thư viện trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân

đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013 Tác giả khóa luận

Phạm Thị Mai Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 4

6 Kết cấu luận văn 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC VÀ VẤN ĐỀ HÌNH THỨC CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC 6

1.1 Tiếp nhận văn học 6

1.1.1 Khái niệm Tiếp nhận văn học 6

1.1.2 Quá trình tiếp nhận văn học 7

1.1.3 Vai trò của lí thuyết tiếp nhận trong việc dạy tác phẩm văn chương 9

1.2 Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể 10

1.2.1 Tác phẩm văn học 10

1.2.2 Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học 12

1.2.3 Vai trò của các yếu tố hình thức nghệ thuật trong tác phẩm văn học 13

1.3 Tính chất quan trọng của việc khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học ở trường THPT 14

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG THPT 17

2.1 Vị trí, vai trò của Văn học nước ngoài trong chương trình văn học ở THPT 17

2.2 Nội dung, cấu trúc, thời lượng Văn học nước ngoài trong SGK ở trường THPT 20

2.3 Những khó khăn khi giảng dạy Văn học nước ngoài ở trường THPT 21

2.3.1 Vấn đề bản dịch 21

2.3.2 Vấn đề ngôn ngữ 22

2.3.3 Vấn đề phân phối chương trình 23

Trang 6

2.3.4 Vấn đề quan niệm của người dạy và người học 23

2.4 Miêu tả và đánh giá cách khai thác hình thức nghệ thuật trong giảng dạy Văn học nước ngoài ở trường THPT 24

2.4.1 Về phần giáo viên 24

2.4.2 Về phần học sinh 27

CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG KHAI THÁC HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT 28

3.1 Khai thác hình thức nghệ thuật trong dạy tác phẩm Văn học nước ngoài dưới góc nhìn loại thể văn học 28

3.1.1 Thơ trữ tình 29

3.1.1.1 Thơ Đường 31

3.1.1.2 Thơ Hai – cư 40

3.1.1.3 Thơ Puskin và thơ Tago 43

3.1.2 Tác phẩm tự sự 48

3.1.2.1 Tiểu thuyết 48

3.1.2.2 Truyện ngắn 53

3.1.2.3 Sử thi 60

3.1.3 Kịch bản văn học 66

3.2 Khai thác hình thức nghệ thuật trong dạy tác phẩm Văn học nước ngoài qua đối chiếu các bản dịch và với bản gốc 69

3.3 Ứng dụng cụ thể qua thuyết kế bài giảng “Tôi yêu em” của A.Puskin theo các phương hướng đã đề xuất 76

3.3.1 Mục đích thiết kế 76

3.3.2 Giáo án bài “Tôi yêu em” - A.Puskin 76

KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển vì thế cần có sự phát triển đồng bộ tất cả các hình thái ý thức xã hội, các nhân tố khác nhau Trong đó, tất nhiên không thể không kể đến nhân tố hàng đầu chính là giáo dục Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền móng vững chắc để phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nắm bắt được nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đó, các nhà quản lý giáo dục nước ta ngày càng có những động thái tích cực trong việc đổi mới giáo dục, đổi mới việc dạy và học theo hướng tích cực, chủ động Đặc biệt, môn Ngữ văn được xem là một trong những môn cần phải đi đầu trong việc thay đổi phương pháp dạy và học để khai thác triệt để tính chất quan trọng của môn học này trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục

Ngữ văn luôn đóng vai trò là một trong những bộ môn chính yếu trong nhà trường THPT Quan điểm giáo dục của chúng ta là giáo dục toàn diện nhằm nâng cao văn, thể, mĩ ở mỗi con người Môn Ngữ văn trong nhà trường cũng không nằm ngoài hướng đi ấy bằng việc cung cấp cho HS những kiến thức tổng thể không chỉ

về văn học Việt Nam mà còn cả VHNN Với các em HS đang ngồi trên ghế nhà trường, học văn học là cách tiếp cận gần hơn với thế giới con người phong phú, đa dạng, là cách tiếp cận với nhiều nền văn hóa khác nhau, với những sắc tộc và ngôn ngữ khác nhau để từ đó hiểu thêm về sắc thái đa dạng của sự đa văn hóa của nhân loại Học VHNN sẽ khiến các em mở được cánh cửa đến với chân trời tri thức rộng lớn, những tinh hoa văn hóa nhân loại đủ sức vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, của không gian đến với chúng ta hôm nay

Nhìn chung những tác phẩm VHNN được chọn lọc để dạy trong chương trình phổ thông đều là những tác phẩm giàu giá trị nhân bản, giàu tinh thần dân tộc với nội dung đặc sắc, có tác dụng to lớn trong việc bồi dưỡng những giá trị tinh thần cao đẹp cho các em HS Không chỉ thế, đó còn là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật lớn, đạt trình độ mẫu mực được viết ra bởi những tài năng bậc thầy của các nhà văn xuất sắc nhất

Trang 8

Tuy nhiên, trong thực tế, việc giảng dạy VHNN trong nhà trường còn gặp nhiều khó khăn nhất định, dường như nó vẫn còn là vùng đất thiêng đối với cả GV

và HS vì những lý do chủ quan và khách quan khác nhau Phải chăng, lý do trước nhất xuất phát từ rào cản ngôn ngữ, sự cách biệt về văn hóa đã khiến cho những tác phẩm VHNN rất khó tiếp nhận đối với đa số GV và HS Từ tâm lý thấy khó và ngại dạy mà một số GV đã không chịu tìm tòi nghiên cứu các phương pháp thiết thực và sáng tạo để cuốn hút HS HS cũng ngại học nên có những suy nghĩ mơ hồ và sai lệch về kiến thức VHNN Một thực tế khác cho thấy, nhiều GV khi dạy tác phẩm chú trọng quá nhiều đến nội dung mà không thấy được tầm quan trọng của các giá trị nghệ thuật được xem là một trong những yếu tố đặc sắc của tác phẩm văn chương nước ngoài

Đối với môn Ngữ văn, việc khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm văn chương và truyền thụ đến HS là một vấn đề khó, khó ở mảng văn học Việt Nam và càng khó hơn bội phần đối với mảng VHNN Khó nhưng không phải là không có hướng giải quyết, điều đó phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng và sự tìm tòi nghiên cứu cùng lòng yêu nghề, tinh thần nhiệt huyết ở người GV Là một sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, một nhà giáo trong tương lai, người viết xin được thêm một đóng

góp nhỏ qua luận văn nghiên cứu với đề tài “Khai thác hình thức nghệ thuật của tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học THPT” Hy vọng những gì

được nghiên cứu trong khóa luận này sẽ đóng góp thêm một phương pháp dạy hiệu quả, tích cực đối với mảng VHNN nói riêng và bộ môn Ngữ văn nói chung trong trường THPT

2 Lịch sử vấn đề

Ở phương diện là bộ môn khoa học về phương pháp giảng dạy thì đề tài

“Khai thác hình thức nghệ thuật của tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học THPT” là vấn đề khá mới mẻ, mang tính tổng hợp, nói chung chưa có

công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết Tuy nhiên những công trình về phương pháp dạy học văn nói chung, phương pháp dạy học VHNN nói riêng thì khá là đa dạng, phong phú

Trang 9

Về những bài viết, giáo trình, công trình nghiên cứu về phương pháp phân tích, giảng dạy tác phẩm văn chương và những vấn đề liên quan đến thực tế giảng dạy tác phẩm văn chương ở trường THPT, có một số công trình tiêu biểu như :

Nguyễn Thị Thanh Hương, Dạy học văn ở trường Phổ thông, NXB ĐHQGHN, 2001; Đặng Hiển, Dạy văn, học văn, NXB Đại học Sư phạm, 2005; Nguyễn Thị Dư Khánh, Phân tích tác phẩm từ góc độ thi pháp, NXB Giáo dục, 2009; Phan Trọng Luận (Chủ biên), Phương pháp dạy học văn, NXB ĐHQGHN, 1997; Nguyễn Thanh Hùng (Chủ biên), Phương pháp dạy học ngữ văn THPT- những vấn đề cập

dạy VHNN, NXB Giáo dục, 2003.v.v

Nhận xét chung :

Những giáo trình, sách, bài viết nghiên cứu về phương pháp giảng dạy văn học nói chung và giảng dạy VHNN nói riêng trong nhà trường khá phong phú, đa dạng Mỗi công trình, bài viết đều có những đóng góp nhất định trong việc định hướng phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường, cả mảng văn học Việt Nam và VHNN Tuy nhiên, đi sâu vào tìm hiểu và tạo lập một hệ thống những phương pháp cụ thể cho việc khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm VHNN trong dạy học ở trường THPT thì hầu như vẫn chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ Do đó, bằng việc học tập, kế thừa những thành quả của người đi trước,

người viết muốn nghiên cứu đề tài “Khai thác hình thức nghệ của tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học THPT”, để đề xuất những phương pháp

thiết thực nhằm hỗ trợ cho GV không còn những lúng túng khi tiếp cận với tác phẩm VHNN và gặp khó khăn trong việc giảng dạy hình thức nghệ thuật của tác phẩm

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài “Khai thác hình thức nghệ của tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học THPT” nhằm nghiên cứu và đề ra phương hướng giảng

dạy chương trình VHNN về mặt hình thức nghệ thuật trong khuôn khổ nhà trường THPT với ba khối lớp 10, 11, 12 (ban cơ bản và ban nâng cao) Đề tài bao quát gần như mọi tác phẩm và các thể loại VHNN có trong SGK THPT, chỉ loại trừ các tác phẩm thuộc thể loại nghị luận văn học

4 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của luận văn, chúng tôi thực hiện đề tài theo những phương pháp sau:

Phương pháp khảo sát thực tiễn: thông qua dự giờ các tiết dạy học ở

trường phổ thông; tham khảo các giáo án dạy học liên quan đến đề tài; phỏng vấn cùng HS và GV để rút ra thực trạng dạy và học VHNN ở trường phổ thông

Phương pháp miêu tả, so sánh, qui nạp: miêu tả thực trạng dạy - học VHNN trong nhà trường phổ thông dưới góc độ tiếp cận các hình thức nghệ thuật,

so sánh đối chiếu các tài liệu, sách hướng dẫn dành cho GV, HS, các tư tưởng, quan điểm, ý kiến khác nhau xung quan vấn đề liên quan; quy nạp thành những vấn đề có

ý nghĩa phương pháp luận

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: vận dụng thành tựu của nhiều ngành: nghiên cứu văn học, lý luận văn học, ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học, văn hóa học trong đó đặc biệt chú trọng vận dụng những thành tựu của những công trình nghiên cứu dạy học tác phẩm VHNN, thi pháp thể loại và những thành tựu khoa học về phương pháp dạy học văn

5 Đóng góp của luận văn

“Khai thác hình thức nghệ thuật của tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học THPT” của chúng tôi là một đề tài mang tính chất học tập

và thử nghiệm là chủ yếu Tuy nhiên, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp cho nền giáo dục nước nhà một biện pháp để hướng dẫn HS học tập đồng thời nâng cao chất lượng trong việc cảm thụ và giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và VHNN nói

Trang 11

riêng Mặt khác, với luận văn này, chúng tôi cũng hi vọng GV sẽ phần nào thoát khỏi những lúng túng, bế tắc khi thực hiện công việc khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm văn chương nước ngoài, nâng cao chất lượng giảng dạy đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn trong phổ thông hiện nay

6 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Tài liệu tham khảo” và “Phụ lục”, kết cấu phần “Nội dung” luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiếp nhận văn học và vấn đề hình thức của tác phẩm văn học

Chương 2: Thực trạng giảng dạy Văn học nước ngoài ở trường THPT

Chương 3: Đề xuất một số phương hướng khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học ở trường THPT

Trang 12

NỘI DUNG Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC VÀ VẤN ĐỀ HÌNH THỨC

CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC 1.1 Tiếp nhận văn học

1.1.1 Khái niệm Tiếp nhận văn học

Quyển 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Tiếp nhận

văn chương là một quá trình chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn… đến sản phẩm sau đọc: cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch” [1, tr 311]

Từ định nghĩa này, rõ ràng tiếp nhận là một hoạt động của con người mang tính sáng tạo, tham gia vào sáng tạo Tiếp nhận văn học là một quá trình tiếp thu lĩnh hội một đối tượng nghệ thuật là tác phẩm văn học Tiếp nhận văn học đồng nghĩa với việc đọc hiểu những gì đã đọc thông qua ngôn từ và những gì có ý nghĩa nhân sinh thẩm mỹ trong tác phẩm văn chương Khi đọc tác phẩm văn chương, người tiếp nhận không thể với tới hiện thực tiếp nhận ở dạng nguyên thủy được mà chỉ có thể hiểu được qua thế giới nghệ thuật được sắp đặt, tổ chức bằng ngôn ngữ và trong ngôn ngữ

Tiếp nhận văn học có liên quan đến các khái niệm: Đọc văn bản, đọc văn chương, tiếp nhận văn chương, cảm thụ văn chương, tiếp thu, thưởng thức…

Khác với “Tiếp nhận” là khái niệm chỉ hoạt động tiếp thu (đọc, nghe, xem) tác phẩm (gồm cả sáng tác văn học và khoa học) với nhiều mục đích khác nhau, để hiểu biết, giải trí, thưởng thức, khảo cứu… Tiếp nhận văn học là khái niệm chỉ việc tiếp thu những sáng tác văn học, là chỉ cách tiếp thu thiên về thưởng thức, cảm thụ Tuy vậy, tiếp nhận văn học cũng khác với cảm thụ văn học Cảm thụ văn học là sự nhận biết bằng cảm tính trực cảm, nó là tiền đề để đi vào tác phẩm Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự bộc lộ của cá tính, thị hiếu, lập trường xã hội, sự tán thành hay phản

Trang 13

đối… Do đó, khái niệm tiếp nhận văn học bao quát hơn và bao hàm các khái niệm

“Cảm thụ”, “Thưởng thức”, “Lý giải văn học”…

Nói tóm lại, với tư cách là phương pháp luận, tiếp nhận văn học đã đem lại ánh sáng mới, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu văn chương, mở thêm một lối đi cho khảo sát văn chương khiến nó không bị đóng khung trong việc xem xét mối quan hệ nhà văn và tác phẩm

1.1.2 Quá trình tiếp nhận văn học

Tác phẩm văn học được sáng tác ra để thưởng thức, tiếp nhận Một tác phẩm sau khi được tác giả hoàn thành còn ở dưới dạng văn bản, nó thật sự trở thành tác phẩm chỉ khi đến tay người đọc, bắt đầu đời sống của nó Đời sống của một tác

phẩm văn học diễn tiến từ hai phía: người sáng tạo ra nó và phía người tiếp nhận

Tác phẩm văn học là một đối tượng nhận thức đặc thù vì nó là sản phẩm tinh thần đặc biệt Muốn chiếm lĩnh, tiếp nhận không thể vận dụng những năng lực hoạt động nhận thức chung mà cần đến những năng lực đặc thù qua hình tượng thẩm mỹ vốn là một hình tượng nhận thức phát triển ở mức cao hơn những hoạt động nhận thức bằng lý luận Tác phẩm văn học là một sáng tạo tinh thần của cá nhân người nghệ sĩ Nó không phải là một vật thể thẩm mỹ cụ thể mà là một tồn tại phi vật thể thông qua hình tượng thẩm mỹ được vật chất hoá bằng hệ thống tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật

Tác phẩm văn chương nào cũng nhằm mục đích thông báo tình cảm thẩm

mỹ Nhà văn gửi đến cho người đọc nhiều xúc động mãnh liệt nhất về cuộc sống, con người dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm mỹ Nội dung đó được thể hiện qua hình tượng thẩm mỹ, được hệ thống hoá qua hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Đó là một đặc trưng riêng trong sáng tác văn học và trong tiếp nhận văn học Tiếp nhận chính là tìm hiểu những tình cảm thẩm mỹ bằng hình tượng thẩm mỹ qua hệ thống ngôn ngữ Đây là một qui trình khép kín của tác phẩm văn học từ sáng tác đến bạn đọc và ngược lại

Từ qui trình tác động của tác phẩm văn học đối với bạn đọc, chúng ta nhận thấy qui trình tiếp nhận tác phẩm là quá trình tiếp thu, lĩnh hội những giá trị mà văn

Trang 14

bản tác phẩm văn học mang đến cho người đọc Nó đòi hỏi người đọc phải có những năng lực cụ thể Quá trình đó diễn ra theo một chiều duy nhất; đó là đọc văn

và tri giác ngôn ngữ: “Tiếp nhận văn học là một quá trình, vì nó chỉ thực sự diễn ra theo một hoạt động duy nhất là đọc văn” [21, tr.35]

Tác động là một tính chất của quá trình tiếp nhận Tác phẩm văn học thông qua các phương tiện biểu đạt như ngôn từ, cú pháp, biện pháp tu từ… tạo nên những hình tượng âm thanh, hình ảnh, nhịp điệu… tác động lên tri giác, xúc giác của người đọc, bắt đầu một quá trình chuyển hóa tác phẩm từ văn bản đến nội dung ý nghĩa trong tư duy của người đọc Quá trình tác động có tính chất tương tác Hình tượng văn học tác động lên tri giác, xúc giác của người đọc, khai mở những giác quan, tư duy Ngược lại, người đọc tiếp nhận các hình tượng lại tác động ngược lại hình tượng, gắn cho nó những cung bậc ý nghĩa mới

Có thể phân biệt nhiều loại tiếp nhận: tiếp nhận của bạn đọc nói chung, tiếp nhận của nhà văn, nhà phê bình và đặc biệt ở đây chúng ta khai thác vấn đề tiếp nhận của HS Như chúng ta đã biết, người tiếp nhận là HS có tính chất đặc thù riêng Thứ nhất, tuổi đời các em còn rất trẻ, tâm lý đang chuyển giao giữa tính cách còn trẻ con trên bước đường thành người lớn nên chưa ổn định Thứ hai là do non tuổi đời nên những tri thức về lịch sử xã hội còn khá hạn hẹp Các em chỉ mới tích lũy được những kiến thức được dạy ở nhà trường, những tri thức khác nếu có cũng

ở mức độ giới hạn Và nhất là các em còn rất non kinh nghiệm, thiếu vốn sống, ít trải đời nên việc hiểu nghĩa, liên tưởng trong học tập tác phẩm văn chương, hiểu hết được ý nghĩa lịch sử xã hội của tác phẩm là một thách thức không nhỏ

Tuy vậy, ở lứa tuổi này, các em đã bắt đầu hình thành tính chủ định trong quá trình tư duy nhận thức Cùng với sự phát triển về nhận thức, các em bắt đầu hình thành tâm lý tự ý thức Các em có nhu cầu tự khám phá những đặc điểm tâm lý

và lý giải nó theo quan điểm riêng, theo mục đích sống và theo lý tưởng của các em Việc biết tự nhìn nhận, đánh giá thể hiện khả năng cảm thụ, sáng tạo của các em trong học tập Tuy non nớt về tuổi đời, kinh nghiệm sống nhưng các em lại có một tâm hồn tinh tế, rộng mở, trí tưởng tượng phong phú, đa dạng, khả năng liên tưởng

Trang 15

cao Vấn đề là làm thế nào kích thích, định hướng và phát huy những mặt tích cực cũng như hạn chế những suy nghĩ, tác động tiêu cực của tác phẩm văn học lên tư tưởng, tâm hồn các em Một khi hiểu được vấn đề tâm sinh lý HS, việc nghiên cứu

để tạo cho các em sự hứng khởi trong học tập là rất cần thiết Phát huy vai trò bạn đọc, năng lực cảm thụ của HS là huy động một cách khoa học những năng lực chủ quan của các em, để các em thật sự thấy hứng khởi, chủ động tham gia vào quá trình tiếp nhận văn học, như thế giờ dạy học tác phẩm văn chương mới có hiệu quả

1.1.3 Vai trò của lí thuyết tiếp nhận trong việc dạy tác phẩm văn chương

Giảng dạy Ngữ văn là công việc tiếp nhận văn học và định hướng tiếp nhận văn học cho HSPT Chương trình SGK sẽ là căn cứ rõ nhất để nghiên cứu tìm hiểu vấn đề tiếp nhận văn học theo hướng chính thống trong nhà trường được triển khai như thế nào Sự biến đổi của nội dung chương trình phản ánh mức độ thích ứng giữa thực tế giảng dạy với lí luận mới về tiếp nhận văn học

Dạy học tác phẩm văn chương là quá trình người thầy chuyển tải những nội dung mà hình tượng tác phẩm thể hiện đến HS Mối quan hệ giữa GV - HS - tác phẩm là mối quan hệ vòng tròn khép kín Tác phẩm là đối tượng chung để GV lẫn

HS cùng nhau khai thác GV trong tư cách là người đọc trước có kinh nghiệm nắm vững kiến thức sẽ là người hướng dẫn, truyền thụ kinh nghiệm cho HS, chỉ cho các

em con đường tiếp cận tác phẩm HS chính là trung tâm của dạy học, bằng mọi con đường trực tiếp tác động lên tác phẩm để tìm ra chân lý dưới sự hướng dẫn của GV Chúng ta có thể thấy mối quan hệ đó qua mô hình sau:

Giáo viên

Học sinh Tác phẩm Tác phẩm văn chương được xây dựng từ ngôn từ nghệ thuật Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương là dạy cho HS cách thức tiếp nhận tác phẩm văn chương trên

cơ sở đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật là chủ yếu Muốn hiểu được tác phẩm văn chương phải đi từ ngôn từ nghệ thuật và vận dụng những kiến thức về loại thể, xã

Trang 16

hội, Tiếng Việt, Làm văn để tìm hiểu nghĩa từ và nắm bắt thông tin tác phẩm muốn truyền đạt

Giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường thì vấn đề hướng dẫn HS khai thác được nội dung và nghệ thuật tác phẩm là vấn đề cốt lõi Nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật của tác phẩm chỉ phát huy ý nghĩa khi tham gia vào qua trình giao lưu giữa tác giả với người nghe, người đọc Giảng dạy tác phẩm văn học, vì vậy, không thể không tìm hiểu vấn đề nội dung và hình thức, mà cũng không thể không tìm hiểu vấn đề sáng tác và tiếp nhận Có thể xem vấn đề nội dung và hình thức là vấn đề cấu trúc của văn học Còn vấn đề sáng tác và tiếp nhận là vấn

đề cơ chế của văn học Cấu trúc là xét trong bản thể; cơ chế là xét trong sự vận động Đó là sự vận động từ người nói, người viết cho tới người nghe, người đọc, từ người phát tin cho tới người nhận tin Rõ ràng chỉ qua cơ chế mới hiểu được cấu trúc, và cấu trúc chỉ được bộc lộ qua cơ chế

1.2 Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể

1.2.1 Tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc một tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người; biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật

“Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng (văn học dân gian, folklore văn học) hay dưới hình thức văn bản nghệ thuật được giữ gìn qua văn tự (văn học viết, văn học bác học), có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi Xét về

dung lượng, tác phẩm văn học có thể rất đồ sộ như Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi, Sông Ðông êm đềm của Sôlôkhốp, Những người khốn khổ của V Huy-gô

hoặc cũng có thể chỉ là một bài thơ ngắn vài ba câu ” [47]

Ðời sống văn học bao gồm nhiều chỉnh thể: tác phẩm, tác giả, trào lưu, nền văn học của một dân tộc Trong những chỉnh thể đó, tác phẩm văn học là đơn vị cơ bản, trực tiếp của người sáng tác, nghiên cứu, phê bình, thưởng thức Chính vì vậy,

có thể nói tác phẩm văn học có một tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống văn học Tầm quan trọng đó còn được biểu hiện trên các phương diện của việc nghiên cứu

Trang 17

văn học Mọi bộ môn của khoa nghiên cứu văn học đều xuất phát từ sự tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu tác phẩm

Tác phẩm văn học được xem là một chỉnh thể nghệ thuật được hình thành trên cơ sở liên kết các yếu tố theo những quan hệ nhất định Do mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo không lặp lại, cho nên có thể nói có bao nhiêu tác phẩm thì có bấy nhiêu chỉnh thể Tuy vậy các tác phẩm văn học vẫn có những đặc điểm chung trong tổ chức tác phẩm Có thể phân tích các điểm chung đó qua cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm với các lớp khác nhau

Tiếp xúc với tác phẩm trước hết phải đọc được văn bản ngôn từ của nó Người ta gọi đó là lớp ngôn từ hay là lớp văn bản Ở lớp này tạo nên văn bản tác phẩm là ngôn từ đã được tổ chức thành lời văn nghệ thuật Văn bản ngôn từ tổ chức tác phẩm thành những phần như: chương, hồi, tiết, đoạn trong truyện; dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ trong thơ; lớp, cảnh, màn, hồi trong kịch

Qua văn bản ngôn từ người đọc bắt gặp những câu chuyện, những cảm xúc,

tư tưởng, những con người, cảnh vật, sắc màu, không khí Đó là cả một "bức tranh đời sống" (Timofeev), một thế giới như ta đã gặp đâu đó trong đời, lại như chưa gặp bao giờ Nhưng đó là thế giới mà người đọc có thể tưởng tượng và cảm nhận được

dù là thế giới hiện thực hay thế giới huyền ảo Người ta gọi lớp này là lớp thế giới nghệ thuật hay là lớp hình tượng Thành phần của lớp này bao gồm các yếu tố tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm như: nhân vật, chi tiết, truyện, cốt truyện, không gian, thời gian Mỗi nhà văn, mỗi thời đại văn học sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng Tiếp nhận được thế giới này là cơ sở để hiểu tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm, cảm nhận được những gì nhà văn miêu tả, kí thác cũng như cái nhìn, quan niệm của nhà văn về con người, cuộc sống

Thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm được tổ chức theo một ý đồ nghệ thuật, một quan niệm nghệ thuật nhất định tạo nên lớp kết cấu của tác phẩm Lớp kết cấu này vừa là sự tổ chức bên ngoài (bố cục văn bản), vừa là sự liên kết bên trong giữa các yếu tố với nhau, giữa các yếu tố với chỉnh thể Thành phần lớp này bao gồm toàn bộ hệ thống liên kết văn bản, phương thức tổ chức các yếu tố nghệ

Trang 18

thuật của tác phẩm từ bố cục chung cho đến cách dẫn chuyện; từ cách sắp xếp hệ thống nhân vật cho tới cách bố trí các sự kiện; từ cách tổ chức cảm xúc, cấu tứ cho tới việc lựa chọn ngôn từ; từ cách lựa chọn hành động cho tới cách bộc lộ xung đột Lớp này phụ thuộc vào đặc điểm loại thể và ý đồ nghệ thuật của nhà văn

Văn bản tác phẩm một mặt chịu sự quy định của quy luật ngôn ngữ nói chung trên các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, phong cách; mặt khác lại chịu

sự quy định của quy luật loại thể (các loại thể khác nhau có các văn bản khác nhau) Văn bản nghệ thuật của tác phẩm cũng bị chi phối bởi đặc điểm, nghệ thuật của chủ thể sáng tạo Cho nên ngay từ văn bản người ta đã có thể "đọc" được giọng văn của tác giả và văn phong của nhà văn Việc giảng dạy văn học, nhất là giảng văn, đòi hỏi thầy trò phải tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm Những nguyên tắc và phương pháp phân tích do lí luận đề xuất chỉ mới là chỗ dựa cần thiết cho việc giảng dạy chứ không thể thay thế cho việc tìm hiểu trực tiếp tác phẩm được

Như vậy, mọi vấn đề của văn học đều tập trung trước hết ở tác phẩm Có thể coi tác phẩm như một chỉnh thể trung tâm của hoạt động văn học Tính chỉnh thể của tác phẩm văn học được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

1.2.2 Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học

Trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm ngoài mối quan hệ giữa chỉnh thể và yếu tố còn có mối quan hệ rất quan trọng là quan hệ giữa nội dung và hình thức Phải xem xét tác phẩm cả trên hai quan hệ này mới thấy được tính chỉnh thể trọn vẹn của nó

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được biểu hiện ở 2 mặt: nội dung quyết định hình thức và hình thức phù hợp nội dung Trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức, nội dung bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo Nó là cái có trước, thông qua ý thức năng động và tích cực của chủ quan nghệ sĩ, cố gắng tìm một hình thức phù hợp nhất để bộc lộ một cách đầy đủ, hấp dẫn nhất bản chất của

Trang 19

Từ quan điểm văn học là đơn vị ngôn từ, ta nhìn nhận và lý giải thực chất nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật của tác phẩm là như vậy Cũng cần phải trở lại vấn đề then chốt là sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm Không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định, và không có hình thức nào lại không thể hiện một nội dung nào

đó Hình thức yếu kém, non yếu ta gọi là chủ nghĩa sơ lược; còn nội dung yếu kém, trống rỗng ta gọi là chủ nghĩa hình thức Như vậy ta không loại bỏ phạm trù nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật khi bàn về tác phẩm Từng có những trường phái lý luận có dụng ý loại bỏ hai phạm trù này khi nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật Họ cho đây là những khái niệm lý thuyết vô bổ Họ chỉ thấy cái toàn thể

và cái bộ phận trong cấu trúc bên trong của tác phẩm Trong hệ thống lý luận đang bàn thì vẫn có thể vận dụng hai phạm trù cơ bản này để nghiên cứu tác phẩm Tất nhiên chúng phải được nhìn theo bản chất ngôn từ của văn học như đã trình bày Nội dung là ngôn từ về những cái gì, và hình thức là ngôn từ bằng những cách nào

1.2.3 Vai trò của các yếu tố hình thức nghệ thuật trong tác phẩm văn học

Hình thức nghệ thuật là một hệ thống các phương tiện và phương thức thể hiện nội dung Nó được hợp thành bởi nhiều yếu tố: nghệ thuật sử dụng các chất liệu, phương tiện nghệ thuật, các qui định của loại thể, những biện pháp kết cấu, cách xây dựng nhân vật, thể hiện hình tượng Tất cả đều nhằm mục đích biểu hiện trực tiếp và sinh động nội dung của tác phẩm, tạo thành một dạng tồn tại nhất định của nội dung ấy, qua đó xây dựng tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất

Vậy hình thức nghệ thuật dưới cái nhìn bản chất ngôn từ của tác phẩm cụ thể

là gồm những yếu tố nào? Có thể thấy ba nhân tố Thứ nhất là thể loại Thể loại theo quan điểm này chính là vóc dáng chung của tác phẩm với tính cách là đơn vị ngôn

từ Ngôn từ đó là một câu tục ngữ, một bài ca dao, một thiên truyện cổ, hay một bài thơ, một cuốn truyện, một vở kịch Bài thơ thì là đoản thiên hay trường thiên, là thơ luật, thơ tự do hay thơ văn xuôi… Điều ta thấy đầu tiên khi tiếp xúc với văn học là

Trang 20

thể loại nhất định của tác phẩm, được xem như là hình dạng chung của lời nói Người sáng tác muốn thể hiện ý đồ nghệ thuật trước tiên phải chọn thể loại

Sau khi chọn được thể loại thì tác giả phải cấu tạo lời nói của mình Bất cứ lời nói nào cũng đều có cấu tạo Đơn giản nhất là một câu tục ngữ thì cũng phải có cấu tạo Một bài thơ, một thiên tiểu thuyết hiện đại lại càng phải có cấu tạo chung Người viết phải trình bày diễn biến trước sau của lời nói Ngôn từ bao giờ cũng có diễn tiến, kết cấu tác phẩm chính là diễn trình của ngôn từ, tức lời nói đi qua chặng đường nào Nói cái gì trước cái gì sau Có khi cái diễn ra trước được nói trước, cái diễn ra sau được nói sau Cũng có khi ngược lại Tất cả đều tùy thuộc vào ý đồ nghệ thuật, nhằm tạo ra ấn tượng khó quên của lời nói Đã gọi là lời nói thì phải có cái trước, cái sau Trước sau đó là cấu trúc tạo ra vóc dáng bao quát của nội dung Nội dung diễn biến ra sao qua diễn trình cụ thể chính là kết cấu của công trình nghệ thuật Như lý luận truyền thống, kết cấu có kết cấu tình tiết hay không tình tiết, có cốt truyện hay không có cốt truyện, có nhân vật hay không có nhân vật Kết cấu tự

sự, kết cấu trữ tình hay kết cấu kịch

Yếu tố sau cùng của hình thức là phong cách ngôn từ của tác phẩm Nghĩa là xét xem chính bản thân ngôn từ được thực hiện như thế nào Suy cho cùng, nhân tố thứ ba này bao trùm lên nhân tố thứ nhất và thứ hai Ngôn từ trong tác phẩm được khái thác đến mức tối đa mọi sức mạnh vốn có của lời nói, để tạo nên giá trị thực tế trong khả năng của mỗi cá nhân Đó là lĩnh vực của phong cách ngôn từ, biến ngôn

từ thông thường thành ngôn từ nghệ thuật mang dấu ấn riêng của mỗi người

1.3 Tính chất quan trọng của việc khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm Văn học nước ngoài trong dạy học văn học ở trường THPT

Thời cổ đại, Arixtot rất coi trọng về hình thức, với luận điểm của mình: “chất liệu cộng với hình thức thì tạo thành bản chất của sự vật”, trong “Bút ký triết học’ của mình Lênin cũng nói: “Hình thức mang tính bản chất Bản chất được biến thành hình thức” [31, tr.129] Xét cụ thể hơn, chúng ta thấy rằng, hình thức là phương thức tồn tại và biểu hiện của nội dung tác phẩm văn chương, nó hàm chứa mọi quy tắc biểu đạt và biểu hiện cho sự phong phú của nội dung thật sự bao quát Không

Trang 21

phải riêng ai, mà bất kỳ một người nào muốn đi vào nghiên cứu, tìm tòi mặt nội dung của tác phẩm đều phải mở được cánh cửa hình thức này, tức là chỉ có một con đường duy nhất: “đi sâu khám phá hình thức”

Phân tích tác phẩm văn học là phải thông qua hình thức để nói nội dung Tuy nhiên qua hình thức để nói nội dung không phải là phân tích bất cứ hình thức nào,

mà chỉ tập trung phân tích những hình thức mang tính nội dung Sự phát triển của khoa học gần đây như kí hiệu học, lí thuyết thông tin đã có nhiều gợi ý bổ ích cho việc phân tích tác phẩm văn học Nhưng có người từ đó cho rằng, cách phân tích nội dung qua hình thức đã lỗi thời Thật ra, chỉ có quan niệm cũ, nói đúng hơn là quan niệm sai hoặc sót về nội dung và hình thức mới quá thời mà thôi Còn mối liên hệ biện chứng đích thực giữa nội dung và hình thức vẫn là mối tương quan cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, mặc dù đó không hề là duy nhất

Việc phân tích hình thức tác phẩm giúp ta thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt “mã” văn hóa nghệ thuật của tác giả

và các thời kỳ văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao cảm thụ tác phẩm Với việc cảm thụ văn học thì phân tích hình thức nghệ thuật giúp tránh xa những tùy tán, mâu thuẫn chủ quan Tìm ra mối tương quan của các yếu tố trong hệ thống hình thức và mối tương quan giữa nội dung và hình thức không phải bao giờ cũng dễ dàng nhưng

đã trở thành một nguyên tắc cơ bản nhất trong cảm thụ và phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường

Đi từ hình thức nghệ thuật để giải mã nội dung chính là con đường thâm nhập, lý giải đúng đắn tác phẩm văn chương nói chung Nội dung, tư tưởng của một tác phẩm văn chương bao giờ cũng được mã hoá bằng các phương tiện nghệ thuật, qua các dấu hiệu hình thức nghệ thuật Do vậy, hướng dẫn HS phát hiện, khám phá các tầng sâu nội dung tác phẩm cũng đồng nghĩa với việc hướng dẫn các em phát hiện được những dấu hiệu hình thức nghệ thuật Đây cũng là con đường tiếp cận tác phẩm văn chương nói chung trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa hình thức

và nội dung Điều này là hoàn toàn phù hợp với quy luật sáng tác của tác giả cũng như quy luật tiếp nhận tác phẩm văn chương của bạn đọc

Trang 22

Thông qua ngôn ngữ, cái đẹp trong văn học đến với HS trước hết ở hình thức của nó như hình ảnh, nhịp điệu, sau đó mới đến nội dung của nó như ý nghĩa, bài học về cuộc sống Và cả hình thức lẫn nội dung ấy hòa quyện với nhau làm thành cái hồn của nó, cái chất của văn học Nhiệm vụ của người thầy dạy văn là làm cho

HS cảm thụ được cái đẹp một cách tự giác, một cách có ý thức từ hình ảnh và nhịp điệu của tác phẩm văn học, từ ý nghĩa và những bài học đường đời của tác phẩm văn học, từ ngôn ngữ của tác phẩm Đó là nhiệm vụ đầu tiên, chẳng những góp phần phát triển năng lực văn chương của HS mà còn là cơ sở để bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực sống cho HS trong cuộc sống trí tuệ, tình cảm và đời thường Điều đó càng có ý nghĩa hơn nữa trong việc tiếp nhận VHNN, bởi để hiểu được nghệ thuật của một dân tộc khác thì phải nắm cái mã văn hóa làm cơ sở cho tư duy nghệ thuật của dân tộc đó

Trang 23

Chương II THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG THPT 2.1 Vị trí, vai trò của Văn học nước ngoài trong chương trình văn học ở THPT

Không phải ngẫu nhiên mà văn học được xem là “cuốn SGK về cuộc sống” [38, tr.5], bởi trong nó luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với tiếng nói của lĩnh vực hoạt động nhận thức chân lí, khám phá bản chất, quy luật của thế giới khách quan

Để hiểu cuộc sống, để hiểu con người, để có thể hình dung một cách sinh động thời đại đã qua, có ý kiến cho rằng chỉ cần đọc tác phẩm văn chương Điều này có lí khi xem văn học như “chiếc gương soi” của cuộc sống Do vậy, đối tượng nhận thức và nội dung của văn học là cuộc sống muôn màu muôn vẻ, trong đó chủ yếu là cuộc sống của con người, là tư tưởng, tình cảm, tâm hồn con người

Xét trên tổng thể, văn học trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi con người lại càng không thể thiếu trong môi trường giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông Đây là nơi các em học những bài học đầu tiên về cuộc sống, về những mối quan hệ giữa văn học với đời sống xã hội Với các em HS đang ngồi trên ghế nhà trường, học văn học là cách tiếp cận gần hơn với thế giới con người phong phú, đa dạng, là cách tiếp cận với nhiều nền văn hóa khác nhau, với những sắc tộc và ngôn ngữ khác nhau để từ đó hiểu thêm về sắc thái đa dạng của sự đa văn hóa nhân loại Hơn nữa, văn học là nhịp cầu nối các loại hình nghệ thuật không gian với nghệ thuật thời gian, nghệ thuật tạo hình với nghệ thuật biểu hiện [38, tr.5] Văn học không chỉ tồn tại trong môi trường văn học dân tộc mà còn tỏa sáng trong các nền văn học khác của nhân loại

Giảng dạy văn học trong nhà trường, như đã phân tích ở trên, không dừng lại

ở mục tiêu truyền đạt kiến thức cho HS mà còn có tác dụng định hướng những mô hình nhân cách cho các em Chất lượng môn học cũng góp một phần lớn quyết định vào chất lượng của sản phẩm giáo dục nước nhà Học văn trước hết là học lấy những cái hay cái đẹp của tiếng nói dân tộc Nhưng cao hơn, đó là rèn tập cho HS những phẩm chất, lối sống lành mạnh, mang đậm tính nhân văn Do đó bên cạnh

Trang 24

nền văn học nước nhà, việc học văn chương nước ngoài cũng chiếm vai trò to lớn Cho dù khác màu da, ngôn ngữ, tiếng nói nhưng tiếng nói tâm hồn, những quy luật tâm lí, tình cảm của con người vẫn vậy Qua tìm hiểu văn chương nước ngoài, giải quyết khâu đa dạng và phong phú hóa nội dung tri thức văn chương nhân loại, trên

cơ sở đó, giúp các em khắc sâu các luồng chính về nội dung tư tưởng của văn chương nhân loại

Có thể khẳng định, văn chương nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ văn THPT bao gồm những sáng tác dân gian, văn thơ cổ điển, văn thơ hiện đại được chọn và bố trí song song với chương trình văn học dân tộc Học VHNN là cách giúp các em mở một cánh cửa vào thế giới, vào cuộc đời và tâm hồn con người trên toàn nhân loại Thông qua những tác phẩm VHNN, các em có thể so sánh, đối chiếu mối quan hệ gần gũi về thể loại, đề tài… giữa văn học Việt Nam với VHNN, giữa các nền văn học với nhau, đồng thời tiếp nhận sự giao thoa, những quan hệ ảnh hưởng giữa các nền văn hóa, văn học với nhau Tiếp xúc với tác phẩm VHNN theo tiến trình lịch sử có đối chiếu so sánh với văn học Việt Nam, HS

có thể thấy được ảnh hưởng sâu rộng của VHNN đến văn học nước nhà và thấy được vị thế của văn học dân tộc trong kho tàng vô giá của nhân loại Hay nói cách khác, học VHNN là một trong những cách để so sánh vị thế “lấp lánh” của văn học dân tộc trên văn đàn thế giới, từ đó, tìm ra chính xác chỗ đứng của văn học dân tộc trong lòng công chúng yêu văn học và cũng là một trong những lí do giúp chúng ta nhận ra sự tiếp biến văn hóa nói chung và văn học nói riêng giữa các vùng miền trên thế giới Đây không chỉ là cơ hội giúp văn hóa, văn học Việt Nam tiến gần hơn với văn hóa, văn học thế giới mà còn là cách giúp các nhà nghiên cứu định hình rõ những nét giao thoa giữa các nền văn học nghệ thuật trên thế giới với văn học nghệ thuật dân tộc Việt Nam Ngoài ra HS còn có điều kiện nhìn nhận rõ hơn về các quan điểm xã hội nhân văn như: anh hùng, dân tộc, nhân ái , thuỷ chung… Người học có

cơ hội am hiểu thêm về các thời đại, khu vực, nền văn minh khác nhau, vốn hết sức phong phú, đa dạng trên thế giới

Trang 25

Ở trường phổ thông, HS bắt đầu làm quen với VHNN từ khi bước vào cấp II với những câu chuyện thần thoại, cổ tích của các nước Nga, Đức, Đan Mạch Từ những câu chuyện đó, một thế giới thần kỳ đã được tái hiện, kích thích và khơi gợi trí tưởng tượng của HS Thông qua các nhân vật, bước đầu hình thành cách nhìn nhận đánh giá, bình phẩm và nhận xét giữa: ác – thiện, chính nghĩa – bất nghĩa, để

từ đó hình thành nhân cách của các em Ở những cấp học tiếp theo, các em được tiếp cận những tác phẩm văn học nổi tiếng, tiêu biểu cho các nền văn học rực rỡ của nhân loại Ở phương Đông có thể kể đến các bậc thánh thơ: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch

Cư Dị; các tiểu thuyết gia cổ điển: Thi Nại Am, La Quán Trung, Tào Tuyết Cần; nhà văn, nhà tư tưởng lớn thời hiện đại Lỗ Tấn, thi sĩ của những tâm hồn: Ra-bin-đra-nát Ta-go Ở phương Tây, không thể không nhắc đến hai bộ sử thi kinh điển của Hôme, những kịch gia nổi tiếng như Sếch-xpia, nhà văn, nhà thơ lãng mạn V.Hu-

gô, A.Pu-Skin, v.v và bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực Banzắc, văn hào vĩ đại của Nga Mác-xim Go-rơ-ki, v.v… Mỗi một tác giả đều là những người đại diện xuất sắc cho nền văn học của quốc gia mình và tạo được một chỗ đứng trong lòng hầu hết độc giả trên thế giới

Các tác phẩm đó không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn về mặt tư tưởng và phẩm chất nghệ thuật mà còn có khả năng minh hoạ cho quá trình phát triển của lịch sử văn học thế giới qua các thời đại Mặc dù chúng dường như tồn tại độc lập với nhau, trải rộng theo phạm vi không gian và kéo dài theo thời gian nhưng trong SGK đã được sắp xếp theo trật tự nhất định: Trật tự thời gian, và do đó phần nào tương ứng với các hiện tượng của văn học Việt Nam được xếp theo tiến trình lịch sử Nhìn chung

đó là những tác phẩm rất giàu giá trị nhân bản, giàu tinh thần dân tộc có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tình cảm cao đẹp, bồi dưỡng tâm hồn trong sáng và ý thức vươn tới điều thiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách cho HS Đó còn là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật lớn, đạt trình độ mẫu mực được viết ra bởi tài nghệ bậc thầy của các nhà văn xuất sắc

Tóm lại, đối với thời đại hội nhập toàn cầu ngày nay, VHNN có vai trò vô cùng quan trọng Nếu “văn học là nhân học” (M Gorki) thì văn học, nhất là VHNN

Trang 26

có khả năng giúp bồi dưỡng những công dân toàn cầu khoan dung, hòa bình, hòa hợp trên cơ sở hiểu biết con người, hiểu biết dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới Vấn đề giảng dạy VHNN trong nhà trường, ít nhất, cũng liên quan đến và đóng góp cho hai loại hình giáo dục đa văn hóa: hướng về nội dung và hướng về người học

2.2 Nội dung, cấu trúc, thời lượng Văn học nước ngoài trong SGK ở trường THPT

-Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên

đi Quảng Lăng (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh

Hạo nhiên chi Quảng Lăng) – Lý Bạch

- Cảm xúc mùa thu (Thu hứng)- Đỗ Phủ

-Đọc thêm :

+ Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu)

+ Nỗi oán của người phòng khuê (Khuê

oán)

+ Khe chim kêu (Điểu minh giản)

- Thơ Hai – cư của Ba-sô

(Tìm hiểu chung về thơ Hai – cư và dạy

các bài 1, 2, 3, 6)

- Hồi trống cổ thành (trích hồi 28 – Tam

quốc diễn nghĩa) – La Quán Trung

Đọc thêm : Tào Tháo uống rượu luận anh

hùng (trích hồi 21 -Tam quốc diễn nghĩa)

Hy Lạp

Ấn Độ Trung Quốc

Trang 27

Văn

11

li-ét) của Sêch-xpia

- Tôi yêu em – Pu-skin

- Bài thơ số 28 – Ta-go

- Người trong bao – Sê-khôp

- Người cầm quyền khôi phục uy quyền

-Thông điệp nhân ngày thế giới phòng

chống AIDS,1-12-2003- Coophi- Annan

- Thuốc – Lỗ Tấn

- Số phận con người (trích) – Sô-lô-khôp

- Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê

Áo

Nam Phi

Trung Quốc Nga

Lớp 10: 8 tiết

Lớp 11: 10 tiết

Lớp 12: 10 tiết

2.3 Những khó khăn khi giảng dạy Văn học nước ngoài ở trường THPT

2.3.1 Vấn đề bản dịch

Đối với các bản dịch tác phẩm VHNN, người dịch với tư cách là người tái tạo lại tác phẩm nguyên bản bằng ngôn ngữ thứ hai phần lớn là của dân tộc mình hoặc đôi khi bằng một chuyên ngữ khác Trong khi chuyển dịch VHNN, sự tinh tế

Trang 28

và chính xác của ngôn ngữ gốc không còn được bảo lưu nguyên dạng Cái gì cần giữ và có thể thay đổi để tạo ra bản dịch làm thỏa nguyện tác giả và làm thỏa mãn người đọc thì người dịch đều nghĩ tới và làm Để thực hiện được nhiệm vụ kép đó, người dịch phải có tài năng song ngữ, đồng thời cũng phải có năng lực văn học, trình độ văn hóa của hai xứ sở của tác phẩm chính bản và tác phẩm thứ bản

Chất lượng của bản dịch là nhân tố tác động trực tiếp đến người đọc Dù thế nào đi nữa, chúng ta thấy một sự thật là khi đọc tác phẩm dịch là nghe hai lời trong một lời, là đọc một phiên bản khác có độ chênh lệch nhiều khi khá lớn Tuy nhiên ngôn ngữ được dịch ra không phải là một thứ ngôn ngữ ít có khả năng chuyển tải ý nghĩa Lời dịch phần lớn là dài hơn ngôn ngữ gốc Ngoài nghĩa chính của sự kiện, hiện tượng được mô tả trong nguyên tác còn có cả ý tưởng, cảm xúc ngôn ngữ nguyên tác, người dịch còn phải sáng tạo và tái tạo hình thức diễn đạt của lời dịch sao cho sự thấu hiểu và đồng cảm diễn ra trên nền một thứ ngôn ngữ mẹ đẻ cũng chính xác, hấp dẫn và đầy cảm xúc nghệ thuật như bất cứ tác phẩm văn chương nào

2.3.2 Vấn đề ngôn ngữ

Tính pha tạp ngôn ngữ hai nền văn hóa làm cho kiểu tư duy của tác giả, dịch giả và độc giả không còn thuần nhất Đặc điểm cần phân tích, bình giá trong tác phẩm dịch khi giảng dạy VHNN vì thế không thể bắt đầu và chuyên chú vào ngôn ngữ dịch mà phải dựa vào hình tượng nghệ thuật vì nó ít bị pha tạp và tổn thương Trong bản dịch, hình tượng nghệ thuật được nhận thức trong lớp ngôn ngữ dịch chứ không phải là lớp ngôn từ của nguyên tác Do đó cần tận dụng phương pháp đối chiếu so sánh ngôn từ trong hai văn bản khi giảng dạy VHNN

Sự không hoàn toàn đồng nhất của hình tượng nghệ thuật giữa hai văn bản gốc và văn bản dịch ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tính tư tưởng thẩm mĩ của hình tượng nghệ thuật Trong trường hợp này khi giảng dạy VHNN, người GV cần tìm hiểu kĩ tư tưởng nghệ thuật, phong cách nhà văn và đặc điểm tư duy văn học của họ

để tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá trong mối quan hệ toàn vẹn với nguyên tác là vô cùng quan trọng Người đọc dựa vào đặc điểm cá nhân mà tiếp xúc một cách phù hợp và đồng hóa những phương diện cơ bản của tác phẩm gốc Đồng hóa

Trang 29

đến mức độ có đạt sự nhuần nhị không, còn phụ thuộc vào hứng thú và thị hiếu thẩm mĩ, kiến thức văn học và văn hóa của người đọc Đồng hóa một tác phẩm nước ngoài tức là qua người mà hiểu được ta và ngược lại

Tiếp nhận một tác phẩm VHNN là quá trình cái tôi và cái ta nhân loại cùng cất tiếng Đó là cuộc đối thoại giao lưu văn hóa nghệ thuật để có sự gặp gỡ để học hỏi tinh hoa văn hóa qua tác phẩm văn chương, để suy ngẫm về cái đẹp và về vấn

đề con người của các thời đại và lịch trình tiến hóa tinh thần của nó

2.3.3 Vấn đề phân phối chương trình

Do những hạn chế lịch sử nên việc giao tiếp với văn hóa phương Tây ở nước

ta diễn ra hơi muộn Chính vì vậy mà những kiến thức cũng như sự chọn lựa hoặc phương pháp dạy học trong nhà trường chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Hiện nay việc chọn lựa và giảng dạy VHNN trong nhà trường Việt Nam bên cạnh những thành công lớn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, còn đưa vào chương trình không ít văn bản chưa đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật

Những tác phẩm VHNN được chọn để giảng dạy trong trường THPT hiện nay hầu hết là những tác phẩm kinh điển, hoặc là tác phẩm của những nhà văn lớn

Chẳng hạn như đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền của tác giả V

Huy-gô được trích trong cả bộ tiểu thuyết đồ sộ Những người khốn khổ, thế nhưng GV

chỉ hướng dẫn HS tìm hiểu đoạn trích trong 2 tiết học, bao gồm cả giới thiệu tác giả, tác phẩm, tóm tắt tiểu thuyết Như vậy, có thể nói rằng giảng dạy phần VHNN mới chỉ là tìm hiểu ở phần bề nổi của tác phẩm mà thực sự chưa có điều kiện đi sâu, mở rộng do hạn chế về mặt thời gian, chương trình dạy và học

Phần gợi ý phân tích, các soạn giả đã quan tâm đến việc dạy tác phẩm trọn vẹn nhưng kích thích cảm thụ còn hạn chế do đưa ra một số những câu hỏi không thích hợp

2.3.4 Vấn đề quan niệm của người dạy và người học

Thực tế, một khó khăn hiện nay trong dạy và học tác phẩm VHNN nói chung, đó là quan niệm của người dạy và người học vẫn còn xem nhẹ phần VHNN

Trang 30

Hiện nay, phần VHNN chỉ chiếm một câu trị giá 1 điểm trong tổng số 10 điểm của bài thi tốt nghiệp môn Văn Phần VHNN hoàn toàn không có vị trí trong các đề thi học kỳ, đề thi Đại học Do đó, GV, HS đều xem VHNN là cái bên lề, cái

“hạng hai”, cái “dư thừa”, vô ích Nếu tiếp cận văn học trong quan hệ với văn hóa,

có lẽ cần thay đổi cách nhìn nhận này và thay đổi trong cách thức kiểm tra, đánh giá

sẽ tác động trở lại cách dạy – học của GV, HS

Đối với GV, dù hiểu rõ những tác phẩm VHNN đang giảng dạy là hay, có nhiều vấn đề cần phải được đem ra phân tích nhưng do hạn chế về thời gian, sự gò

bó của qui định về chương trình nên cuối cùng cũng mang tâm lí không coi trọng tác phẩm VHNN

2.4 Miêu tả và đánh giá cách khai thác hình thức nghệ thuật trong giảng dạy Văn học nước ngoài ở trường THPT

2.4.1 Về phần giáo viên

Hiện nay, đa phần các GV đều giảng dạy theo một qui trình vốn có sẵn khi giảng dạy tác phẩm văn chương: Thời lượng như nhau đối với mỗi phần tác giả, xuất xứ tác phẩm khi giảng dạy tác phẩm VHNN cũng như tác phẩm văn học Việt Nam Điều này cần phải xem xét lại Mọi tác phẩm văn chương đều cần phải được tìm hiểu về cuộc đời nhà văn, phong cách sáng tác, các yếu tố khách quan tác động đến tư tưởng, giá trị tác phẩm Tuy nhiên, với các tác giả văn học dân tộc, HS ít nhiều đã quen thuộc, từng đọc tác phẩm hoặc tiếp tục phân tích tác phẩm của tác giả

đã học từ cấp THCS Với những tác giả, tác phẩm ấy, nguồn tư liệu phong phú, dễ tìm, HS dễ tìm hiểu hơn và quá trình tiếp thu nhanh hơn Còn các tác phẩm VHNN vốn từ lâu ít được chú trọng, không đưa nhiều vào các bài kiểm tra nên HS thường

ít quan tâm, vì thế cũng không tìm hiểu nhiều thông tin bên ngoài SGK Điều này

có thể giúp GV dễ áp đặt các ý kiến của mình cho HS, và kết quả là lối suy nghĩ, cách hiểu đi vào sáo mòn, không có sự tìm tòi đổi mới

Qua tìm hiểu, dự giờ ở một số GV Ngữ văn ở phổ thông, chúng tôi thấy nhìn chung GV đã có sự cố gắng khai thác tác phẩm văn chương trong mối quan hệ hữu

cơ giữa hình thức và nội dung Tuy nhiên, GV chỉ cố gắng chuyển tải cho xong kiến

Trang 31

thức mà không khai thác sâu hình thức biểu hiện Nhiều GV có sự cố gắng trong việc giúp HS khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm VHNN Nhưng do khả năng còn hạn chế nên việc khai thác hình thức vẫn còn ở mức độ chung chung, chưa có

sự đào sâu phân tích, làm rõ các chi tiết nghệ thuật, cũng như các căn cứ khoa học cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm Ngược lại có GV lại tập trung khai thác quá chi tiết yếu tố nghệ thuật mà không có sự lựa chọn để phân tích, cái gì cũng giảng nhưng không sâu, không nổi bật, thậm chí quá chú trọng đến yếu tố hình thức

mà quên đi việc tìm mối tương quan giữa yếu tố nội dung và hình thức

Một tác phẩm được dịch từ thứ ngôn ngữ khác, dù là những tác phẩm kinh điển và nổi tiếng của thế giới cũng vẫn rất khó khăn cho GV trong việc hiểu rõ nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật chưa nói đến việc còn cần phải truyền thụ những kiến thức thu được cho HS Giảng dạy văn chương nước ngoài là sự kết hợp của việc nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa, thể loại văn học, trào lưu văn học , đồng thời phải tìm ra phương pháp tạo hứng thú, giúp HS hiểu và nắm bắt dễ dàng Nhưng đa số GV chưa coi trọng việc nghiên cứu lý luận văn học mà cụ thể là lý luận về loại thể văn học, thi pháp học để áp dụng vào việc phân tích, phát hiện, đào sâu hình thức nghệ thuật tác phẩm VHNN và truyền thụ đến HS

Đối với VHNN, GV hầu như có rất ít tư liệu tham khảo, chưa có sự đầu tư cũng như cách giảng dạy cụ thể đối với các tác phẩm VHNN GV chưa thực sự nhận thức rõ mục đích và ý nghĩa quan trọng của việc khai thác hình thức nghệ thuật tác phẩm VHNN trong việc nâng cao tư duy cảm thụ văn học của HS Trong việc hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm VHNN, đa số GV ít chú ý đến ngôn từ và hình thức nghệ thuật cụ thể, ít bám sát câu chữ của văn bản để chỉ ra nội dung tư tưởng Hoặc giả có đi sâu vào khai thác hình thức nghệ thuật thì GV thường cung cấp cho HS các kiến thức sẵn có về nghệ thuật của tác phẩm mà không để HS tự khám phá, phát hiện ra các điểm sáng nghệ thuật, chưa thực sự phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS Thực tế đã có tình trạng GV vận dụng máy móc một số thủ pháp, tuyệt đối hóa hay cô lập một vài biện pháp, không coi trọng sự cảm thụ của cá nhân HS, không quan tâm đến những khái quát nghệ thuật

Trang 32

Chính vì giảng dạy ít chú trọng đến khai thác hình thức nghệ thuật cho nên việc ra đề kiểm tra và đánh giá kết quả kiểm tra cho HS, GV cũng ít ra đề theo kiểu phân tích giá trị nghệ thuật để rút ra nội dung tư tưởng tác phẩm

Trong quá trình HS tiếp xúc với văn bản VHNN, GV đóng vai trò trung gian

và có thể xem là người tổ chức cuộc tiếp xúc, gặp gỡ đó Nhưng GV vẫn chưa có ý thức tìm hiểu bản gốc hay những bản dịch có liên quan khác; hệ quả là có một số

GV đánh đồng những đặc điểm của riêng bản dịch với đặc điểm của chính văn bản gốc

GV chưa biết sử dụng hoặc không coi trọng phương pháp giảng dạy văn chương theo hướng tích hợp, cụ thể tích hợp các kiến thức của phân môn Tiếng Việt

để khai thác triệt để các đơn vị ngôn ngữ như: từ, cụm từ, câu với các bình diện ngữ

âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, tu từ để lý giải tác dụng thẩm mỹ và sự hấp dẫn nghệ thuật của những yếu tố ngôn ngữ này trong chức năng tạo hình và biểu hiện của tác phẩm văn học Điều quan trọng và cũng là nghệ thuật của người thầy là biết gợi liên tưởng đúng lúc để HS nhớ lại một cách có hệ thống kiến thức tiếng Việt có liên quan Từ đó, các em có thể vận dụng nó để phân tích, cắt nghĩa ngôn từ tác phẩm trong mối quan hệ hữu cơ với tư tưởng chủ đề và nội dung Nhưng GV hầu như chưa làm được điều này để tối đa hóa hiệu quả của việc khai thác hình thức nghệ thuật trong tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm VHNN nói riêng

Có GV còn nhầm lẫn rằng tích cực hóa hoạt động của HS là bằng cách đặt thật nhiều câu hỏi cho HS trả lời Và tiếc thay, hầu hết lại là những câu hỏi tái hiện, phát hiện chứ ít có những câu hỏi hình dung, tưởng tượng, bình giá nghệ thuật Hậu quả là giờ học giải quyết những vấn đề lan man, vụn vặt, phá vỡ tính hệ thống chỉnh thể của tác phẩm Đây cũng là một trong những nguyên nhân GV cháy giáo án liên tục mà HS vẫn không có được hứng thú với bộ môn Nguyên do cũng bởi GV chưa

có sự nghiên cứu kĩ càng trong việc xây dựng câu hỏi giúp HS phát hiện được các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm VHNN Có nhiều GV cũng có ý thức ra những câu hỏi đề cập đến các giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm nhưng các câu hỏi quá đánh đố, không mang được tính chất gợi mở đối với một vấn đề khó như là khai

Trang 33

thác hình thức nghệ thuật của một tác phẩm dịch, dẫn đến HS không có khả năng trả lời, thụ động trong giờ học

2.4.2 Về phần học sinh

Các em gặp nhiều khó khăn trong khi tiếp nhận tác phẩm VHNN, nhất là vì văn hóa khác nhau, do vậy dẫn đến khó hiểu và không hứng thú Do tư duy khái quát chưa cao nên trong tiếp nhận VHNN, HS THPT tỏ ra biết phát hiện, phân tích các chi tiết nghệ thuật cụ thể tốt hơn là việc đặt chúng trong chỉnh thể của tác phẩm

để khái quát giá trị của những chi tiết ấy

Do hoạt động giao tiếp đóng vai trò chủ đạo nên khả năng ngôn ngữ của HS THPT đã khá phát triển Các em đã có thể sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt khá lưu loát những suy nghĩ của mình cũng như để hiểu người khác Đây là điểm thuận lợi

để các em có khả năng tiếp nhận ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học Tuy nhiên, giữa khả năng hiểu ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ nghệ thuật lại là cả một khoảng cách Đôi khi, các em vẫn tỏ ra lúng túng trong việc tri giác, cảm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm

Một nguyên do dẫn đến thực trạng trên là do HS không được trang bị hai phương diện: những kiến thức đọc văn và phương pháp đọc văn, không được hình thành hay bồi dưỡng những kiến thức tiêu biểu về lịch sử văn học, lí luận văn học –

là cơ sở, yếu tố để các em hình thành cho mình hộp công cụ trong việc tìm hiểu và phân tích một tác phẩm văn học, đặc biệt là việc đi sâu khám phá hình thức để nắm bắt được nội dung Bên cạnh đó, các em cũng không nắm chắc các kiến thức Việt ngữ với tất cả các đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn, văn bản Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng của tác phẩm văn học Do đó việc phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học không thể không dựa vào chúng

Một thực tế cho thấy, HS còn phụ thuộc rất nhiều vào sách học tốt hay các tài liệu tìm được trên mạng Điều này cũng hạn chế phần nào khả năng tư duy, tự tìm tòi, phát hiện các bình diện nghệ thuật của tác phẩm văn chương nói chung

Trang 34

Chương III

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG KHAI THÁC

HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT 3.1 Khai thác hình thức nghệ thuật trong dạy tác phẩm Văn học nước ngoài dưới góc nhìn loại thể văn học

Có thể định nghĩa thể loại văn học như sau: “Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống, là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm” [19, tr.300] Loại thể văn học theo cách hiểu đơn giản nhất đó là sự phân chia văn học theo cấu trúc hình thức thể hiện với ba loại: tự sự, trữ tình và kịch Tất nhiên trong mỗi loại lại có từng thể nhỏ khác nhau

Mỗi văn bản văn học được tiếp cận trong chương trình thuộc thể loại sáng tác nhất định Nói cách khác cái hay cái đẹp của văn bản được mã hoá trong “cái vỏ” thể loại – hình thức nghệ thuật đầu tiên của nó Thể loại văn bản không phải là tất cả nhưng đó là điều giải mã đầu tiên và sau cùng khi tiếp cận văn bản Trong giờ giảng văn nói chung và giảng dạy VHNN nói riêng cần chú ý đến thể loại vì nó chi phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tác phẩm Mỗi thể loại có một đặc điểm riêng và yêu cầu phân tích theo một phương pháp riêng

Phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường chủ yếu hướng vào bản thể tác phẩm, phát hiện cấu trúc nghệ thuật, phương thức tác động thẩm mĩ và nhấn mạnh đặc trưng ngôn ngữ, bản chất hình tượng cũng như hình thức thể loại của nó,

từ đó đi đến xác lập các nguyên tắc, phương hướng, biện pháp phân tích giảng văn trong nhà trường Do đó, giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể chính là một phương diện quan trọng của việc giảng dạy tác phẩm trong sự thống nhất giữa hình thức với nội dung Phương pháp giảng dạy này đi đúng với quy luật và bản chất của văn học đồng thời đảm bảo hiệu quả cao nhất, và nó đặc biệt phù hợp với việc giảng dạy văn chương nước ngoài trong vấn đề tiếp cận tác phẩm để khai thác hình thức nghệ thuật

Trang 35

Trước khi vận dụng kiến thức về đặc điểm loại thể để tìm hiểu văn bản tác phẩm VHNN, cần chú ý kiến thức về các thể loại văn học, đối với HS (THPT) không phải ở dạng lý thuyết mà gắn liền với các văn bản cụ thể, nghĩa là khi bước vào hoạt động đọc hiểu, HS chỉ có những kiến thức còn chưa thật khái quát, minh định về đặc điểm thể loại văn bản Vả chăng, trong thực tế văn học, nhất là ở văn học hiện đại, mỗi tác phẩm thường không sử dụng duy nhất một phương thức biểu đạt mà phối hợp nhiều phương thức Chẳng hạn trong tác phẩm truyện luôn có cả tự

sự, miêu tả, biểu cảm và đôi khi cả nghị luận Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm, vẫn nổi lên một hay vài phương thức biểu đạt chủ yếu, làm căn cứ để xác định và gọi tên thể loại của tác phẩm ấy Sau khi đã có những định hướng – cảm nhận về thể loại văn bản tác phẩm, có thể từ những kiến thức chung về thể loại, từ các cấp độ ngôn từ của văn bản tái hiện cấu trúc, đi sâu cảm thụ, phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, chuẩn bị cơ sở cho bài dạy học đọc hiểu văn bản trên lớp

Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài cũng là dạy – học tác phẩm văn chương nói chung Đó cũng là tác phẩm văn chương dân gian, văn chương cổ điển

và văn chương hiện đại Đó cũng là tác phẩm trữ tình và tự sự Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài cũng đến phải vận dụng các phương pháp và biện pháp dạy học tác phẩm văn chương nói chung nhưng với tác phẩm văn chương nước ngoài,

do những đặc điểm, những khó khăn như đã nói ở trên nên ta cần vận dụng những hình thức, biện pháp sao cho hợp lý và đạt được hiệu quả giờ dạy

3.1.1 Thơ trữ tình

Thơ trữ tình là một thể nhỏ nằm trong thể loại trữ tình Tất nhiên tác phẩm trữ tình không phải chỉ có thơ trữ tình Ngoài thơ trữ tình còn có tùy bút, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc Ở đây chúng ta chủ yếu nói đến nghệ thuật thơ trữ tình, vì đây là thể loại trữ tình tiêu biểu nhất cũng như đa số các tác phẩm trữ tình nước ngoài được dạy trong trường phổ thông đều là các tác phẩm thơ trữ tình

Dù có đặc trưng riêng nhưng thơ vẫn mang đặc điểm chung của văn học vì

nó cũng là văn học, do vậy, cần lưu ý đến tính hình tượng, vốn là một dạng khái quát hoá của tư duy nghệ thuật, được hình thành từ ngôn ngữ “Giảng thơ chủ yếu là

Trang 36

giảng hình tượng thơ, là qua hình thức để giảng nội dung, là thông qua việc phân tích các yếu tố về loại thể, kết cấu, ngôn ngữ để làm sống dậy hình tượng với tất cả

vẻ đẹp, chiều sâu của nó, từ đó mà tiếp thu và truyền đạt tư tưởng, tình cảm của tác phẩm ” [9, tr.74] Cảm xúc trữ tình trong thơ bao giờ cũng được mã hoá bằng các phương tiện nghệ thuật, qua các dấu hiệu hình thức nghệ thuật của bài thơ Do vậy, hướng dẫn HS phát hiện, khám phá mạch cảm xúc trong thơ cũng đồng nghĩa với việc hướng dẫn các em phát hiện được những dấu hiệu hình thức nghệ thuật truyền tải cảm xúc ấy Đây cũng là con đường tiếp cận tác phẩm văn chương nói chung và thơ trữ tình nói riêng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa hình thức và nội dung Hay nói cách khác là tiếp nhận nội dung cảm xúc thơ bắt đầu từ những dấu hiệu hình thức nghệ thuật Điều này là hoàn toàn phù hợp với quy luật sáng tác của nhà thơ cũng như quy luật tiếp nhận tác phẩm văn chương của bạn đọc Như vậy giảng dạy các tác phẩm thơ nước ngoài cũng sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu những nét độc đáo, đặc sắc nghệ thuật (biện pháp tu từ, cách phối thanh, hiệp vần, vận dụng các thể thơ…), những yếu tố làm nên phong cách tác giả (những sáng tạo riêng của tác giả trong cách dùng từ, đặt câu ) để cảm thụ tư tưởng, tình cảm – mặt nội dung

mà nhà thơ gửi gắm trong bài thơ

Để phát hiện ra những dấu hiệu nghệ thuật độc đáo bộc lộ cảm xúc thơ, cần yêu cầu HS đọc toàn bộ tác phẩm và tìm xem có những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ nào lặp đi lặp lại trong bài thơ không Những chi tiết lặp lại ấy rất có thể sẽ là những tín hiệu nghệ thuật quan trọng chứa đựng cảm xúc thơ Nhìn chung, ngay ở khâu đọc, tiếp cận tác phẩm, HS cần chú ý phát hiện ra những dấu hiệu nghệ thuật độc đáo này

Đối với thể loại thơ (thơ dịch) cái đích cần hướng đến là nội dung tình cảm của chủ thể trữ tình - hình tượng thơ, nhưng nội dung ấy toát lên từ nghệ thuật được thể hiện qua các dấu hiệu hình thức như thể thơ, số câu thơ, vần thơ Nhiều đặc điểm nghệ thuật của nguyên bản có thể đã mất đi qua bản dịch, nhưng có những yếu

tố còn giữ lại được, nhất là số câu thơ trong bài GV cần phải có sự nghiên cứu một cách đầy đủ về văn bản thơ, nếu có khả năng có thể đối sánh văn bản thơ đã dịch

Trang 37

với văn bản thơ gốc nhằm tăng cường khả năng khai thác hiệu quả các yếu tố nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

Trong chương trình Ngữ văn THPT HS được tiếp xúc các tác phẩm thơ trữ tình đa dạng, của nhiều tên tuổi nhà thơ nổi tiếng của thế giới ở cả Châu Á và các nước phương Tây Đó là các bài thơ Đường, thơ Hai – cư, Thơ Puskin và Tago, được xem như là tinh hoa của nghệ thuật thơ ca thế giới Sau đây là một số phương hướng tìm hiểu những nét đặc sắc về nghệ thuật của các tác phẩm trên dựa trên những đặc trưng thi pháp thể loại của chúng

3.1.1.1 Thơ Đường

 Kết cấu thơ Đường

Thơ Đường được đưa vào chương trình văn học phổ thông hầu hết là thơ cận thể (tứ tuyệt và thất ngôn bát cú) Đó là những thể thơ mà HS đã được tiếp xúc nhiều khi học đến văn học Trung đại Hơn nữa, thơ cận thể rất tiêu biểu cho đặc trưng thi pháp thơ Đường cho nên việc tìm hiểu các bài thơ không quá khó khăn

Những tác phẩm ngắn như bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng

Lăng có 4 câu 28 chữ cũng giống như hình thức của những bài thơ khác trong văn

học Trung đại Việt Nam như bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Bài Thu

hứng của Đỗ Phủ về hình thức cũng giống như bài Qua đèo Ngang của bà Huyện

Thanh Quan với cấu trúc thơ cân đối hài hòa

Đầu tiên là tìm hiểu kết cấu bài thơ luật thi Luật thi gồm ngũ luật (8 câu, mỗi câu 5 chữ) và thất luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ) Có một số cách phân chia bố cục bài thơ như sau:

- Phân tích bài thơ theo kết cấu 4 phần: đề, thực, luận, kết đồng thời gán cho

mỗi phần một nhiệm vụ xác định Hai câu đề: Câu 1 phá đề: mở ra ý của bài; Câu 2 thừa đề: tiếp ý để chuyển vào thân bài; Hai câu thực: giải thích rõ ý đầu bài; Hai câu luận: phát triển mở rộng ý của bài; Hai câu kết: kết thúc bài

- Phân tích theo hai phần kết cấu của bài thơ: Mỗi bài thơ có 8 câu, chia làm

hai phần: 4 câu đầu và 4 câu cuối

Trang 38

- Phân tích bài thơ theo kiểu kết cấu 2/4/2: Mô hình này do Phrăng xoa

Trình (Francois Cheng) – nhà ký hiệu học người Pháp gốc Trung Quốc đề xuất, song khi áp dụng vào việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông, mô hình này lại

ít được áp dụng

Bất cứ bài thơ bát cú nào cũng có một kết cấu chặt chẽ, song sự tổ chức sắp xếp thi phẩm đó như thế nào là do yêu cầu diễn đạt ý tứ quy định, chứ không phải là chuyện thuần túy hình thức Bởi lẽ đó, khi dạy học tác phẩm thuộc thể loại này, GV cần lưu ý đến tứ của bài thơ để vận dụng các kiểu phân tích một cách linh hoạt Khi

GV lựa chọn một trong các hình thức phân tích kết cấu đã nêu, thì phải giải thích được vì sao lại chọn cách khai thác theo mô hình này mà không theo mô hình kia Một điều quan trọng khác trong phương pháp dạy học thơ luật là GV không chỉ biết định hướng cho các em thâm nhập vào bài thơ theo mạch cảm xúc xuyên suốt Với cách định hướng ấy chúng ta tránh được sự xơ cứng khi đi vào phân tích tác phẩm

Thứ hai là tìm hiểu kết cấu bài thơ tứ tuyệt Thơ tứ tuyệt gồm ngũ tuyệt (4 câu, mỗi câu 5 chữ) và thất tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 chữ) Tuy dung lượng câu chữ ít hơn bài thơ bát cú nhưng tự nó là một kết cấu chỉnh thể có cấu trúc riêng Do vậy khi dạy loại thơ luật chúng ta có thể vận dụng cách khai thác theo quá trình dàn dựng cấu tứ của bài thơ, tức là tìm hiểu tác phẩm theo kết cấu của nó Bố cục một bài thất ngôn tứ tuyệt gồm có 4 phần: khai, thừa, chuyển, hợp Câu khai là câu mở

để tạo ra “duyên cớ” để triển khai toàn bộ tứ thơ, nhưng ngay trong câu đầu đã hàm chứa nội dung, tình cảm của tác giả Câu thừa có hai chức năng cơ bản: cùng với câu 1 hoàn thiện một ý, và “niêm” liên 1 với liên 2, vừa hé lộ nội dung tư tưởng của bài thơ Câu chuyển là câu thơ thứ 3 – câu thơ có vị trí đặc biệt quan trọng trong bài thơ tứ tuyệt Trong chương trình THPT đều được các nhà viết sách định hướng phân tích theo kết cấu hai phần: hai câu đầu, hai câu cuối Hai câu đầu chủ yếu tả cảnh

mà trong cảnh có tình Hai câu sau thể hiện tình cảm trên nền phong cảnh Ví dụ

như ở bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch

Hai câu đầu nói về bối cảnh của cuộc tiễn đưa cùng nỗi niềm tâm sự và tình cảm của nhà thơ đối với người bạn quý

Trang 39

“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”

(Dịch nghĩa : “Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc ở phía tây, xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói”)

Giữa thời thái bình bạn đã đi từ một thắng cảnh (lầu Hoàng Hạc – một di chỉ thần tiên) đến một thắng cảnh (Quảng Lăng thuộc Dương Châu nơi phồn hoa đô hội nổi tiếng thời Đường) nên buổi tiễn đưa không đầm đìa giọt lệ Nhưng trong quan

hệ tình cảm ai cũng muốn xum vầy, vì thế, ai mà không sợ chia ly Phong cảnh đẹp làm nỗi buồn chia ly thêm thấm thía Hai câu thơ tưởng như chỉ tả cảnh, mà man mác tình ly biệt

Hai câu cuối:

“Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”

là sự bộc lộ cảm giác thiếu vắng bạn của thi nhân Đọc câu thơ thứ ba trên bề mặt câu chữ, ta nhận thấy có sự chuyển đổi, nhưng trong mạch ngầm văn bản, sự chuyển đổi ấy rất tự nhiên, vì nó tiếp tục nói về tình cảm giữa kẻ ở và người đi Tiễn bạn xuôi về Dương Châu, ánh mắt thi nhân cứ hút theo hình bóng của bạn Đứng trên lầu cao mà hồn thi nhân gửi cả vào cánh buồm đang chuyển động dần vào không gian xa hút Trên dòng Trường Giang tấp nập thuyền bè qua lại mà cái nhìn của nhà thơ chỉ hút vào một tiêu điểm duy nhất, đó là cánh buồm Tình cảm phải sâu nặng lắm Lý Bạch mới cảm nhận được sự cô đơn của ai kia cũng giống như mình, như cánh buồm lẻ loi, cô độc (cô phàm)

 Niêm và luật bằng trắc thơ Đường

Niêm nghĩa đen là “dính”, chỉ quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau về âm luật giữa các câu theo hệ thống dọc của bài thơ Trong mỗi cặp câu, tức mỗi liên thơ, các chữ tương ứng câu số lẻ, số chẵn phải có thanh trái ngược nhau (trừ chữ thứ 5 và chữ thứ 7 trong liên đầu)

Ví dụ: bài Thu hứng (Đỗ Phủ)

“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Trang 40

Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm Giang gian ba lẵng kiêm thiên dũng Tái thượng phong vân tiếp địa âm”

Trong hai liên thơ trên, các chữ tương ứng ở câu số chẵn và câu số lẻ thanh trái ngược nhau, trừ chữ thứ 3 ở liên 1, chữ thứ 7 ở liên 1 và chữ thứ 3 ở liên 2 Điều này có thể chấp nhận được vì “nhất, tam, ngũ, bất luận – nhị, tứ, lục, phân minh”

Trong hai cặp câu kề nhau, nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên dưới Muốn như vậy chữ thứ 2 của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ 2 của câu lẻ thuộc liên dưới Sự giống nhau như thế về thanh đã tạo nên cái gọi

là niêm vì nó đã làm cho hai câu thơ thuộc hai liên dính vào nhau Theo đó trong bài thơ thất ngôn bát cú câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7, còn ở bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3

Ví dụ bài Thu hứng (Đỗ Phủ)

Xem xét các từ thứ 2, 4, 6 đi dọc suốt tác phẩm sẽ thấy:

Liên 1: Câu 1+ câu 8:

“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm Bạch đế thành cao cấp mộ châm”

Liên 2: Câu 2 + câu 3:

“Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm Giang gian ba lẵng kiêm thiên dũng”

Liên 3: Câu 4 + câu 5:

“Tái thượng phong vân tiếp địa âm Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ”

Liên 4: Câu 6 + câu 7:

“Cô chu nhất hệ cố viên tâm Hàn y xứ xứ thôi đao xích”

Luật bằng trắc: đã là một bài thơ Đường luật phải tuân thủ sự quy định về thanh bằng, thanh trắc trong từng câu và trong cả bài thơ theo hệ thống hàng ngang

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 Thuật Ngữ Văn Học, NXB Đại học Quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật Ngữ Văn Học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TPHCM
Năm: 2004
2. Lê Huy Bắc (2009), Từ điển văn học nước ngoài - Tác gia tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học nước ngoài - Tác gia tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
3. Lê Huy Bắc (2010), “ “Ông già và biển cả” của Ernest Hemingway”, http://edu.go.vn/e-tap-chi/tin/3/10/3116/ong-gia-va-bien-ca-cua-ernest-hemingway.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ông già và biển cả” của Ernest Hemingway
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2010
4. Lưu Văn Bổng (1999), “Văn học so sánh và nghiên cứu dịch thuật”, Văn học nước ngoài, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh và nghiên cứu dịch thuật
Tác giả: Lưu Văn Bổng
Năm: 1999
5. Nhật Chiêu (1994), Bashô và thơ haiku, NXB Văn học - Trường ĐHTH Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bashô và thơ haiku
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: NXB Văn học - Trường ĐHTH Thành phố HCM
Năm: 1994
6. Nguyễn Viết Chữ (2006), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) -Tái bản, có sửa chữa, bổ sung, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
7.Trương Đăng Dung (1995), “Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị thẩm mĩ”, Tạp chí Văn học số 11/ 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị thẩm mĩ”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 1995
8.Tản Đà (2005), “Dịch thơ” , Văn học nước ngoài số 2/2005 (in lại) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch thơ” , "Văn học nước ngoài
Tác giả: Tản Đà
Năm: 2005
9.Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học (theo loại thể), NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học (theo loại thể)
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1971
10. Trần Minh Đức, “Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết”, http://www.talawas.org/?p=14131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết
11. Nhiều tác giả (2012), Ngữ văn 10 (tập 1, 2), NXB Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục VN
Năm: 2012
12. Nhiều tác giả (2012), Ngữ văn 11 (tập 1, 2), NXB Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục VN
Năm: 2012
13. Nhiều tác giả (2012), Ngữ văn 12 (tập 1, 2), NXB Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục VN
Năm: 2012
14. Nhiều tác giả (2012), Ngữ văn 10 nâng cao (tập 1, 2), NXB Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 nâng cao
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục VN
Năm: 2012
15. Nhiều tác giả (2012), Ngữ văn 11 nâng cao (tập 1, 2), NXB Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 nâng cao
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục VN
Năm: 2012
16. Nhiều tác giả (2012), Ngữ văn 12 nâng cao (tập 1, 2) , NXB Giáo dục VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 nâng cao
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục VN
Năm: 2012
17. Nguyễn Bích Hà (2007), Vấn đề dạy văn trong nhà trường THPT hiện nay, Văn học và Tuổi trẻ (số 12), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dạy văn trong nhà trường THPT hiện nay
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
18. Nguyễn Thị Bích Hải (1997), Thi pháp thơ Đường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
19. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học (tái bản), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
47.Phan Thanh Vân (2008), Tư liệu văn học, http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/90965 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w