Về vấn đề Lục kinh, phần lớn các học giả từ thời Hán - Đường trở về trước đều chú trọng việc soạn thuật và biên đính của Khổng Tử, trong đó tiêu biểu nhất là quan điểm trong thiên Khổng
Trang 1LƯỢC THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NỬA ĐẦU…
LƯỢC THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NỬA
ĐẦU THẾ KỈ XX VỀ KINH ĐIỂN NHO GIA
(Xoay quanh các vấn đề tác giả, niên đại hoàn thành và tính chất của Lục kinh)
TRƯƠNG ĐÀO ( )
óm tắt: Xoay quanh các vấn đề về
tác giả, niên đại hoàn thành và tính
chất của Lục kinh, những nghiên cứu
trong nửa đầu thế kỉ XX về kinh điển
Nho gia trên đại thể đã trải qua hai giai
đoạn trong tiến trình phát triển Giai
đoạn thứ nhất là trước phong trào Tân
văn hóa Ngũ Tứ, thể hiện bằng dư ba
của cuộc tranh luận về kim cổ văn kinh
học; giai đoạn thứ hai từ những năm
1920 đến những năm 1940, biểu hiện
bằng chủ nghĩa thực chứng, trào lưu nghi
cổ (nghi ngờ thời trước), bằng sự hưng
khởi và tạo ảnh hưởng quan trọng của chủ
nghĩa duy vật lịch sử Các học giả trong
nửa đầu thế kỉ XX đã nỗ lực không ngừng
tìm tòi nghiên cứu, góp một phần công
sức nhất định trong việc tìm hiểu và giải
quyết các vấn đề về tác giả, niên đại hoàn
thành và tính chất của kinh điển Nho gia
Từ then chốt: nửa đầu thế kỉ (20 二
十 世 纪 上 半 期 ), Lục kinh ( 六 经 ),
Khổng Tử (孔子), cuộc tranh luận kim
cổ văn kinh học (今古文经学之争), chủ
nghĩa thực chứng (实证主义), tư trào
nghi cổ (疑古思潮), chủ nghĩa duy vật
lịch sử (唯物史观)
*
* * Kinh học là ngành khoa học nghiên cứu về kinh điển Nho gia, là ngành
“thông diễn học”(1) 诠释学 (thuyên thích
học) đối với kinh điển của học phái Nho
gia Ban đầu vốn có sáu cuốn sách được
Nho gia tôn làm kinh điển, gọi là Lục
kinh 六 经, cũng gọi là Lục nghệ 六艺,
bao gồm Dịch 易, Thi 诗, Thư 书, Lễ 礼,
Nhạc 乐, Xuân Thu 春秋 Kinh Nhạc
nay không còn, bởi vậy gọi là Ngũ kinh
五经 Những nghiên cứu về kinh điển của Nho gia đã làm hình thành những nội dung chủ yếu của kinh học, và giúp cho kinh điển Nho gia chiếm được vị trí
là tư tưởng thống trị và địa vị học thuật quan phương trong thời đại phong kiến Trung Quốc từ thời Hán Vũ đế trở đi Cùng với sự phát triển của chính trị xã hội và diễn biến của các trào lưu văn hóa, việc nghiên cứu trong nửa đầu thế kỉ XX
về kinh điển Nho gia cũng đã bước vào một thời kì hoàn toàn mới Điều đáng ghi nhận là, việc thông diễn và nghiên
T
()
Sở nghiên cứu Cổ tịch, Đại học Sơn Đông.
THƯỜNG THỨC HÁN NÔM
Trang 2TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (81) - 2007 TRƯƠNG ĐÀO
cứu về kinh điển Nho gia chính là hình
thức chủ yếu và phương tiện truyền tải
quan trọng cho sự lưu truyền và phát
triển của học thuyết Nho gia, nội dung
tương đối rộng, cho nên bài viết này, từ
góc nhìn văn hiến học, sẽ thảo luận về
những nghiên cứu về các vấn đề văn bản
như tác giả, niên đại hoàn thành và tính
chất của Lục kinh Về vấn đề Lục kinh,
phần lớn các học giả từ thời Hán -
Đường trở về trước đều chú trọng việc
soạn thuật và biên đính của Khổng Tử,
trong đó tiêu biểu nhất là quan điểm
trong thiên Khổng Tử thế gia 孔子世家
trong sách Sử kí 史记 Tuy nhiên, từ thời
trung Đường trở đi lại có không ít học
giả tỏ thái độ hoài nghi về mối quan hệ
giữa Khổng Tử với Lục kinh Từ đó,
xung quanh vấn đề này, người ta đã khơi
dậy những cuộc tranh luận trường kì trên
phạm vi rộng lớn, đồng thời kéo dài liên
tục đến thế kỉ XX, thậm chí đến ngày nay
1 Từ năm 1900 đến phong trào Tân
văn hóa Ngũ Tứ, có thể nói là giai đoạn
vĩ thanh của cuộc tranh luận về kim cổ
văn kinh học truyền thống Chúng ta biết
rằng, việc nghiên cứu kinh điển Nho gia
đã bắt đầu từ thời Tiên Tần, và dần hình
thành các lưu phái khác nhau, trong đó
nổi bật nhất là phong trào Kim văn kinh
học và Cổ văn kinh học xuất hiện từ thời
Hán Về vấn đề tác giả và niên đại của
các kinh điển, Kim văn kinh học có xu
hướng quy hết các tác phẩm trong Lục
kinh về cho Khổng Tử, còn phái cổ văn
kinh học thì cố gắng chủ trương rằng
Lục kinh là cựu điển của tiên vương,
Khổng Tử chỉ có công biên đính Sự
mâu thuẫn và tranh luận giữa đôi bên âm
ỉ đến cuối đời Thanh thì lại dấy lên Lấy
việc nghiên cứu kinh điển Nho gia làm trung tâm, giữa hai phái Kim văn kinh học và Cổ văn kinh học lại nổi lên làn sóng tranh luận
Trong phái Kim văn học, Vương Tiên
Khiêm 王先谦 có cuốn Thượng thư Khổng
truyện tham chứng 尚书孔传参证 (hoàn
thành năm 1904) khảo chứng tỉ mỉ, căn
cứ trên cơ sở của những nghiên cứu của tiền nhân, đã tiến thêm một bước trên
con đường biện ngụy Cổ văn Thượng
thư 古文尚书 về mặt ngôn ngữ văn tự
và nguồn gốc tư tưởng Năm 1915, họ
Vương lại san khắc bản Thi tam gia tập
sớ 诗三家集疏, liệt kê thành điều mục
những cái hay cái dở khác nhau trong
nghiên cứu Kinh Thi của hai phái cổ kim
văn Nhưng từ năm 1907, Bì Tích Thụy
皮锡瑞 cho in hai cuốn Kinh học lịch sử 经学历史 và Kinh học thông luận 经学
通论, cho thấy tác giả đã nắm bắt một cách có hệ thống dòng mạch tổng thể của Kim văn kinh học trong quá trình phát triển kinh học Trong các cuốn sách trên, họ Bì tiến thêm một bước trong việc chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa Khổng Tử với các kinh điển Nho gia, xiển thuật các yếu chỉ của Nho gia Khi ấy còn có những tác phẩm kim văn kinh học khác như các tác phẩm của Liêu Bình 寥平, Khang Hữu Vi 康有为, họ kiên quyết cho rằng: Khổng Tử viết (作
tác) Lục kinh là kết luận không thể lay
chuyển
Những người kế thừa truyền thống
Cổ văn kinh học như Chương Thái Viêm
章 太 炎 , Lưu Sư Bồi 刘 师 培 … có khuynh hướng đưa kinh học vào phạm
vi nghiên cứu khoa học thuần túy, nhìn nhận kinh học Nho gia từ góc nhìn khoa
Trang 3LƯỢC THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NỬA ĐẦU…
học Lưu Sư Bồi viết cuốn Kinh học
giáo khoa thư 经学教科书 (khắc in năm
1906), kiên trì chủ thuyết của Cổ văn
kinh học, nhấn mạnh rằng tên gọi “kinh”
có từ thời Tam Đại 三代, nhưng khởi
nguyên của nó thì rất cổ, ít nhất có thể
truy nguyên tới thời Phục Hi 伏羲 Ông
cho rằng, Kinh Dịch do quan Thái bốc
太卜 nắm giữ, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu
do quan Thái sử 太史 nắm giữ, Kinh Thi
do quan Thái sư 太師 nắm giữ, Kinh Lễ
do quan Tông bá 宗伯 nắm giữ, Kinh
Nhạc do quan Đại Tư Nhạc 大司乐 nắm
giữ “Chu công 周公 là người tập đại
thành cho học thuật đời Chu Lục kinh
đều là cựu điển của Chu công, đủ để
chứng tỏ trước Khổng Tử đã có Lục kinh
rồi Vậy nên chư tử cuối thời Chu như
Quản Tử, Mặc Tử đều đã đọc Lục kinh
Đại khái là Lục kinh đời Chu thì chưa tu
sửa, cho nên khác với Lục kinh mà
Khổng Tử đã san định” (1: tr.2075)
Chương Thái Viêm lại tiếp tục phát huy
và phát triển quan điểm “Lục kinh đều là
sử (六经皆史)”
Quan hệ giữa Khổng Tử với Lục
kinh liên tục là vấn đề trung tâm của
những cuộc tranh luận kịch liệt trong
lịch sử kinh học Các nhà kim văn kiên
trì với thuyết cho rằng Lục kinh là do
Khổng Tử soạn, đến cuối đời Thanh vẫn
còn chủ trương như vậy Như Bì Tích
Thụy cho rằng: “Trước Khổng Tử chưa
thể có Lục kinh” (2: tr.19) Lưu Sư Bồi,
Chương Thái Viêm thì tin theo thuyết cổ
văn, coi là Khổng Tử đã chỉnh lí Lục
kinh, phản đối thuyết của phái kim văn
Lưu Sư Bồi chỉ ra rằng: “Trước thời
Khổng Tử từ lâu đã có Lục kinh” (1:
tr.2075), “Thời Đông Chu, người nghiên
cứu Lục kinh không chỉ có một mình
Khổng Tử Việc Khổng Tử nghiên cứu
về Lục kinh đã được sử quan ghi lại
Chu Dịch và Xuân Thu được sử nước Lỗ
ghi chép, các thiên trong Kinh Thi được
[truyền lại] từ viễn tổ [của Khổng Tử] là Chính Khảo Phủ 正考父, lại hỏi về lễ với Lão Đam 老 聃 , hỏi về nhạc với Trành Hoành 苌弘, việc xem một trăm hai mươi bộ sách quốc bảo chép trong
sử nhà Chu, cho nên đem Lục kinh mà
thuyết với bảy mươi hai vua, trên đường gặp trắc trở, bèn trở về nước Lỗ; soạn
Thập dực 十翼 để làm sáng tỏ Chu Dịch;
sắp xếp lại Thượng thư, định thành trăm
thiên; san định thơ thời Ân thời Chu, định thành 311 thiên(2); rồi trở về Lỗ sửa nhạc cho nghiêm chính, dùng đàn ca để ban rộng nhạc, khiến cho nhạc nhã nhạc tụng được thích đáng; lại cân nhắc về lễ thời Tam Đại, theo lễ nhà Chu mà bỏ lễ nhà Hạ nhà Ân; đến khi người ta đi săn
ở phía tây bắt được con lân, thì ngài bèn biên định sắp xếp sự kiện trong mười
hai đời vua Lỗ, làm thành Xuân Thu Nhưng Lục kinh khi nhà Chu chưa tu sửa khác với Lục kinh mà cửa Khổng biên định” “Kinh Dịch là lời giảng nghĩa khi triết lí; Kinh Thi là sách dạy
về ca xướng; Kinh Thư là sách dạy về quốc văn; Xuân Thu là sách dạy về lịch
sử cận thời của nước Lỗ; Kinh Nhạc là
sách dạy ca xướng và cũng là khuôn phép của hành sự” (1: tr.2075-2076)
Trong Bác Bì Tích Thụy tam thư 驳皮
锡 瑞 三 书 (Ba bài phản bác Bì Tích Thụy), Chương Thái Viêm đã tập trung phản bác lí luận của Bì Tích Thụy về
việc Khổng Tử làm Xuân Thu Theo
Lưu Sư Bồi và Chương Thái Viêm,
Trang 4TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (81) - 2007 TRƯƠNG ĐÀO
Khổng Tử đã đem cựu điển của đời
Chu để san định thành sách giáo khoa
của mình
Tiêu điểm của cuộc tranh luận giữa
kim văn và cổ văn kinh học là ở Xuân
Thu 春 秋 và Tả truyện 左传, vì vậy các
học giả như Lưu Sư Bồi, Chương Thái
Viêm đều hết sức chú trọng đến mặt này,
họ trước thuật khá nhiều, và họ đã đưa
ra những kiến giải mới và sâu sắc hơn
dựa trên cơ sở quan điểm truyền thống
của Cổ văn kinh học Như trong Độc Tả
trát kí 读左札记 (Ghi chép khi đọc Tả
truyện), Lưu Sư Bồi đã chứng minh khá
rõ ràng một sự thực là: Tả truyện đã bắt
đầu lưu truyền từ thời Chiến Quốc, mà
các học giả thời Tây Hán cũng thừa
nhận một cách phổ biến là Tả truyện giải
thích Xuân Thu
Điều cần chỉ ra là, khác với tranh
luận giữa kim cổ văn trước đó, những
phê phán của nhóm Lưu Sư Bồi,
Chương Thái Viêm đối với Kim văn
kinh học không dựa trên cơ sở bảo vệ
các quy phạm luân lí đạo đức phong
kiến như đại nghĩa quân thần…, mà đã
dựa trên bản thân nghiên cứu khoa học
Đương nhiên việc nghiên cứu của họ
Lưu và họ Chương về kinh điển cũng
không tránh khỏi gắn với những màu sắc
thời đại và nhân tố chính trị nhất định
Ví dụ, Lưu Sư Bồi viết Độc Tả trát kí,
nhiều phần trong đó có ý nghĩa cách
mạng phản đối nhà Mãn Thanh rất rõ
ràng, phần bình luận không ít thái độ
phản đối chuyên chế phong kiến Và
không ít những luận thuật của Chương
Thái Viêm về kinh điển Nho gia cũng
phủ định toàn diện thể chế chính trị
phong kiến Sang nửa đầu thế kỉ XX,
phương pháp nghiên cứu kinh điển theo trường phái Cổ văn kinh học truyền thống chỉ còn lay lắt, đồng thời cũng có học giả kiên trì trên trận địa học thuật kim văn để tiếp tục làm sáng tỏ nhiều vấn đề
2 Sau khi trải qua dư ba của cuộc
tranh luận giữa kim cổ văn kinh học, cùng với sự lan truyền ngày càng sâu rộng của Tây học tới phương Đông, trong học giới Trung Quốc đã xuất hiện một làn sóng tư tưởng thực chứng chủ nghĩa, tất nhiên nó cũng ảnh hưởng đến lĩnh vực nghiên cứu kinh học Có thể lấy Vương Quốc Duy 王国维 và Hồ Thích
胡适 làm đại biểu Vương Quốc Duy tập trung nghiên cứu cổ sử, chú trọng nghiên cứu giáp cốt văn, kim văn, “thạch kinh”
石经 [kinh văn khắc trên đá] thời Hán- Nguỵ, “giản độc” 简牍 [văn hiến trên thẻ tre trúc và mảnh gỗ] thời Hán - Tấn, trong đó rất nhiều nội dung đề cập đến kinh điển Nho gia, giúp ích rất nhiều cho hậu nhân tìm hiểu về những vấn đề như niên đại hoàn thành của kinh điển
(Thượng thư chẳng hạn) Quan trọng
hơn là, ông đã gạt bỏ thiên kiến bè phái trong kim văn cổ văn truyền thống, chuyển sang dùng lịch sử để nghiên cứu kinh học, xóa bỏ vòng hào quang thần thánh trên đầu kinh điển Khoảng những năm 1920, Vương Quốc Duy soạn xong
bộ Kinh học khái luận 经学概论, lời
tổng luận nói: “Trước thời Khổng Tử đã
có các sách Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc,
Xuân Thu, nhưng chưa có tên kinh”
“Trong Lục kinh, thì Thi, Thư, Lễ, Nhạc
đều là di văn từ thời cổ đại” “Các sách này được tôn làm kinh điển bởi nó được
chính tay Khổng Tử san định” “Kinh 经
Trang 5LƯỢC THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NỬA ĐẦU…
có nghĩa là thường 常 (bất biến), là nói
có thể làm khuôn phép vĩnh hằng cho
đời sau Vậy nên chư tử bách gia đọc
sách của tiên sư [tức Khổng Tử] cũng
gọi là kinh” (3: tr.358-359) Ở đây, Vương
Quốc Duy không còn coi kinh sách là
thể hiện cái đạo của thánh nhân nữa, mà
coi là sử liệu để xử lí Điều này đã đặt cơ
sở vững chắc cho việc khoa học hóa một
cách thực sự việc nghiên cứu kinh điển
Nho gia
Là người đề xuất những giả thiết
mạnh dạn và cẩn trọng trong việc tìm
chứng cứ, Hồ Thích cũng từng đi theo
thực chứng để tiến hành nghiên cứu và
khảo sát kinh điển Nho gia Trong phần
thứ 5 [dưới tiêu đề] Khổng Tử trong
cuốn Trung Quốc triết học sử đại cương
中 国 哲 学 史 大 纲 (Đại cương lịch sử
triết học Trung Quốc, in năm 1919), Hồ
Thích đã trình bày về nguồn gốc của Lục
kinh, nhấn mạnh rằng Thi, Thư, Lễ,
Nhạc đều do Khổng Tử san định chứ
không phải do ông trước tác:
“[Khổng Tử] đem sách trong cung
điện thời cổ đại san định thành Thượng
thư; đem thơ ca xưa nay san định còn
hơn 300 thiên; còn san định sách về lễ
về nhạc Cuối đời, Khổng Tử rất thích
Chu dịch, mà Chu dịch khi ấy chẳng qua
chỉ có 64 Quái từ và 384 Hào từ Ông
liền đem những điều tâm đắc viết thành
64 Quái tượng truyện 卦象传, 384 hào
tượng truyện 爻象传, và 64 Thoán từ 彖
传 Hậu nhân thu thập những lời lẻ tẻ
của ông mà biên soạn thành sách, đó là
Hệ từ truyện 系辞传 và Văn ngôn 文言
Trong hai phần này đã có rất nhiều lời bị
lẫn tạp với lời hậu nhân, như đoạn bàn
về bốn đức trong Văn ngôn Ngoài ra
còn có Tạp quái 杂卦, Tự quái 序卦,
Thuyết quái 说卦, càng không đáng tin
cậy Ngoài việc san Thi, Thư, định Lễ,
Nhạc, Khổng tử còn viết một bộ Xuân Thu, ông tự nói là mình thuật nhi bất tác
述而不作 (chỉ kể mà không thêm thắt)
Vậy nên Thi, Thư, Lễ, Nhạc đều do ông
san định, chứ không phải do ông trước
tác Còn các lời truyện cho Chu Dịch thì đều viết dựa trên bản Chu Dịch sẵn có,
Xuân Thu cũng được viết dựa theo ghi
chép lịch sử của nước Lỗ” (4: tr.58-59) Đối với một kinh điển cụ thể nào đó,
như Kinh Thi chẳng hạn, Hồ Thích cũng
từng có lời bàn luận Bởi có địa vị quan trọng và ảnh hưởng lớn lao trong lịch sử học thuật, những quan điểm tư tưởng trên của Hồ Thích không chỉ khiến cho người ta có nhận thức rõ ràng hơn về bản lai diện mục của các bộ kinh điển Nho gia, mà còn khơi mào ra một lớp học giả theo “phái biện cổ sử” 古史辨派 (học phái phân tích biện xét lịch sử cổ đại) với đại biểu là Cố Hiệt Cương 顾颉
刚, tạo tiền đề cho học phái này đưa ra những kết luận về kinh điển Nho gia khiến người đời phải thán phục
Tư tưởng “nghi cổ” 疑古 (nghi ngờ cái cổ xưa) của phái biện cổ sử bắt nguồn từ truyền thống nghi ngờ và biện biệt của học giả Trung Quốc cổ đại, về học thuật thì kế thừa tinh thần phê phán của Trịnh Tiều 郑樵 , Diêu Tế Hằng 姚
际 恒 , Thôi Thuật 崔 述 …, lí luận về ngụy kinh tân học của kim văn kinh học thời Vãn Thanh càng trực tiếp khởi phát động cơ lật đổ cổ sử của Cố Hiệt Cương,
mà ảnh hưởng về thái độ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của Hồ Thích lại càng tạo thuận lợi cho lí luận biện cổ
Trang 6TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (81) - 2007 TRƯƠNG ĐÀO
sử hình thành một hệ thống hoàn chỉnh
Với tư cách người chỉ huy trong học
phái biện cổ sử, Cố Hiệt Cương tập
trung khảo cứu các kinh điển, đồng thời
nỗ lực tìm kiếm những tài liệu kinh học
giúp ích cho việc tái dựng cổ sử Họ Cố
tỏ ra nghi ngờ quan điểm Khổng Tử san
thuật Lục kinh:
“Lục kinh vốn là mấy bộ sách thông
dụng thời Chu, trong Luận ngữ 论 语
không hề thấy nhắc đến việc “san thuật”
删述 (cắt bớt và kể lại), đến Mạnh Tử
孟子 mới nói Khổng Tử viết Xuân Thu;
đến Sử kí mới nói ông bổ sung cho Dịch,
đặt lời tựa cho Thư, san Thi; đến Thượng
thư vĩ 尚书纬 mới nói ông san Thư; đến
các nhà kim văn đời Thanh mới nói ông
viết Kinh Dịch, viết Nghi lễ 仪礼 Tóm
lại, họ cứ thấy sách nào không đủ thì nói
là Khổng Tử san 删 (cắt bớt), thấy sách
nào đủ nói là do Khổng Tử tác 作 (viết,
tạo mới) Thực ra đọc cuốn Hoặc kinh
惑经 (Nghi ngờ kinh điển) của Lưu Tri
Kỉ 刘知几 [thì thấy] nếu Xuân Thu đúng
là do Khổng Tử viết thì không thể khiến
cho “loạn thần tặc tử phải sợ” được Đọc
Vạn Tư Đồng 万斯同 nghi ngờ Cổ văn
Thượng thư 古文尚书 và ba trăm thiên
Thi [thì thấy] nếu Thi, Thư đúng là do
Khổng Tử san, thì hóa ra Khổng Tử là
người khuyến khích bạo chúa và đề
xướng dâm loạn Xem sách Dịch giáo
易教 của Chương Học Thành 章学诚
[tức Chương Thái Viêm] [thì thấy] nếu
Nghi lễ đúng là do Khổng Tử viết, thì
Khổng Tử cũng không thể tránh khỏi
việc tiếm đoạt vương ấn Câu “Lục
kinh đều là cựu điển của Chu công” đã
bị các nhà kim văn kinh học kéo đổ;
quan niệm “Lục kinh đều là tác phẩm
của Khổng Tử” hiện nay cũng đã bị lật nhào” (5: tr.42)
Họ Cố nhấn mạnh: “Tôi cho rằng
Khổng tử chỉ có liên quan đến Kinh Thi,
nhưng cũng chỉ là khuyên người ta học
Thi, chứ nhất định không phải tự mình
san tước Thi Còn Dịch, Thư, Lễ, Xuân
Thu thì có thể nói là không liên quan gì
đến ông, dù cho rằng có liên quan thì
cũng là về mặt “sử dụng” 用 (dụng), chứ không phải về mặt “viết mới” 作 (tác)”
(5: tr.56)
Cố Hiệt Cương từng chú tâm nghiên
cứu Chu Dịch và Kinh Thi, “tư tưởng
trung tâm là: xóa bỏ địa vị thánh của Phục Hi, Thần Nông và địa vị kinh của
Chu Dịch, nhằm khôi phục diện mạo
sách bói toán vốn có của nó; xóa bỏ địa
vị thánh của Văn vương, Vũ vương, Chu
công và địa vị kinh của Thi, nhằm khôi
phục diện mạo nhạc ca ban đầu của nó” (5: tr.22, quyển đầu) Các công trình
Độc Thi tùy bút 读诗随笔 (Tùy bút khi
đọc Kinh Thi, công bố năm 1923), Thi
kinh tại Xuân Thu Chiến Quốc gian đích địa vị 诗经在春秋战国间的地位 (Địa
vị của Kinh Thi trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, công bố năm 1923), Chu
Dịch Quái Hào từ trung đích cố sự 周易
卦爻辞中的故事 (Chuyện về Quái từ và
Hào từ trong Chu Dịch, công bố năm
1929)… đều được viết trên tinh thần này,
về sau các bài viết trên đều được thu
thập vào tập III của bộ Cổ sử biện 古史
辨 Bên cạnh đó, niên đại của Thượng
thư cũng là vấn đề được Cố Hiệt Cương
đầu tư khá nhiều tâm lực Năm 1931, họ
Cố viết Nghiêu điển trước tác niên đại
khảo 尧典著作年代考 (Khảo về niên
đại trước tác thiên Nghiêu điển), từ các
Trang 7LƯỢC THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NỬA ĐẦU…
phương diện chế độ, địa lí, văn từ, học
phong… ông đã chứng minh và cho rằng
thiên Nghiêu điển ngày nay bắt đầu có
từ thời Chiến Quốc nhưng được người
đời Hán viết lại, và nó lưu hành từ sau
những năm giữa đời Hán Vũ đế [6]
Một nhân vật quan trọng khác trong
phái nghi cổ, từng có ảnh hưởng sâu sắc
đến Cố Hiệt Cương là Tiền Huyền Đồng
钱玄同 cũng tỏ ra hoài nghi địa vị thần
thánh của Lục kinh Năm 1923, trong
Đáp Cố Hiệt Cương tiên sinh thư 答顾
颉刚先生书 (Thư trả lời ông Cố Hiệt
Cương), Tiền Huyền Đồng đã thể hiện
khuynh hướng học thuật này Ông chỉ ra
rằng, không hề có chuyện Khổng Tử san
định hoặc chế tác ra Lục kinh, mà Thi,
Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu vốn là năm
phần không liên quan gì với nhau, vả lại
cũng không có sách Nhạc kinh 乐 经
Việc tập hợp thành Lục kinh có lẽ là từ
cuối thời Chiến Quốc Về tính chất của
Lục kinh, họ Tiền cho rằng: Thi là một
bộ tổng tập thơ ca cổ nhất; Thư dường
như là những “văn kiện loại biên” 文件
类编 (cuốn sách sắp xếp các văn kiện
theo loại) hoặc “đáng án vựng tồn” 档案
汇存 (kho lưu trữ hồ sơ) của thời Tam
Đại; Nghi lễ là cuốn ngụy thư (sách giả)
được sao chép lẫn lộn trong thời Chiến
Quốc; Chu lễ là do Lưu Hâm 刘歆 nguỵ
tạo dựa trên các cuốn Lễ kí 礼记 của
Tiểu Đới 小戴 và Đại Đới 大戴, trong
đó chín phần mười là do Hán Nho viết;
Nhạc vốn không có kinh; các quẻ trong
Dịch là sản phẩm của thời đại sùng bái
sinh thực khí, Thập dực đến đời Hán thì
được ghép với Dịch; Xuân Thu thì như
Vương An Thạch 王 安 石 và Lương
Khải Siêu 梁启超 đã nói, là “bản tấu
rách nát” (断烂朝报 đoạn lạn triều báo)
“sổ sách trôi sông” (流水账簿 lưu thủy
trướng bạ) (7: tr.235-252)
Cần nói rằng, quan điểm nghi cổ đã tiến thêm một bước nữa trên con đường lật đổ địa vị thần thánh của kinh điển Nho gia, thoát li triệt để khỏi thiên kiến
bè phái của kim cổ văn kinh học, phá vỡ
sự bó buộc của tư tưởng truyền thống, khiến cho việc nghiên cứu kinh học hoàn toàn quy về phạm vi nghiên cứu khoa học, về căn bản đã làm lung lay hệ thống cổ sử của Nho gia, tạo tiền đề tất yếu cho vấn đề tìm hiểu niên đại và tác giả của các kinh điển Nho gia Các học giả phái biện cổ sử đề xuất một loạt quan điểm khoa học, đó thực sự là những gì thu lượm được dựa trên cơ sở tiến hành khảo sát cẩn trọng đối với những tài liệu liên quan, [những quan điểm này] có ý nghĩa gợi dẫn khoa học quan trọng Đương nhiên, ở một vài kết luận cụ thể, các học giả phái biện cổ sử
đã áp dụng quá nhiều phương thức “mặc chứng”(3) 默 证 , rõ ràng có khuynh hướng nghi cổ quá đà, khiến cho nhiều kinh điển bị liệt vào loại nguỵ tác hoặc
ra đời muộn Trên thực tế, trong công tác nghiên cứu về sau này của các học giả phái biện cổ sử, kể cả bản thân Cố Hiệt Cương, cũng đã ý thức được điểm này và đã có cải chính
3 Có thể coi Quách Mạt Nhược 郭
沫若 là đại biểu điển hình cho các học giả đã kiên trì theo quan điểm duy vật lịch sử để nghiên cứu kinh điển Nho học Cũng giống như phái biện cổ sử, Quách Mạt Nhược nghiên cứu kinh điển cũng với chủ đích là khôi phục lại diện mạo
Trang 8TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (81) - 2007 TRƯƠNG ĐÀO
ban đầu của kinh điển Nhưng ngoài ra,
ông còn đặt trọng tâm vào những vấn đề
như bối cảnh xã hội nào đã sản sinh ra
kinh điển Trong cuốn Trung Quốc cổ
đại xã hội nghiên cứu 中国古代社会研
究 (Nghiên cứu xã hội cổ đại Trung Quốc)
xuất bản lần đầu năm 1930, ông chỉ ra
rằng: Dịch kinh 易经 là sản phẩm của
giai đoạn chuyển từ chế độ xã hội công
xã nguyên thủy sang chiếm hữu nô lệ,
Dịch truyện 易传 là sản phẩm của giai
đoạn chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ
sang phong kiến Kinh Thi là một bộ
sách cổ đáng tin cậy trong văn hiến
Trung Quốc, nhưng Thượng thư thì đáng
phải nghi ngờ, ngoài bản Cổ văn Thượng
thư là ngụy tác; thì trong Kim văn Thượng
thư, ba thiên gồm Nghiêu điển 尧 典
và Cao Dao mô 皋陶谟 trong Ngu thư
虞书, Vũ cống 禹贡 trong Hạ thư 夏书
cũng là nguỵ tác của hậu Nho; mà cả
Thương thư 商书 và Chu thư 周书 có lẽ
đều đã trải qua sự nhuận sắc của các
quan Thái sử đời Chu và hậu Nho, tính
khả tín chỉ có thể dựa vào thời đại sớm
hay muộn mà giảm dần (8: tr.90-96) Năm
1935, Quách Mạt Nhược soạn Chu dịch
chi chế tác thời đại 周易之制作年代
(Thời đại sản sinh ra Chu Dịch, sau này
gom vào bộ Thanh đồng thời đại 青铜
时 代 / Thời đại đồ đồng xanh) trong đó
chỉ ra: Dịch kinh được viết bởi người
nước Sở đầu thời Chiến Quốc là Hàn
Tích Tử Cung 馯臂子弓, còn trong Dịch
truyện có một phần lớn được soạn bởi
người đất Sở là môn đồ của Tuân Tử 荀
子 thời Tần, thời đại viết sách là sau
năm thứ 34 đời Tần Thủy Hoàng 秦始
皇 (8: tr.391-404) Khi nghiên cứu kinh
điển Nho gia, Quách Mạt Nhược đã kết
hợp với cấu trúc xã hội cũng như tập tục sinh hoạt và sản phẩm tinh thần đương thời, kết luận rút ra dù vẫn còn nhiều điều chưa thoả đáng, nhưng đã mở ra một hướng mới trong nghiên cứu kinh học, đưa lại thêm những nội dung mới Được gợi dẫn từ ông, nhiều học giả sau này khi nghiên cứu kinh học Nho gia đã luôn đòi hỏi phải thảo luận về bối cảnh
xã hội đương thời, chú trọng đến tư trào văn hóa đương thời, thể hiện sức sống
vô hạn của những giá trị đặc thù của quan điểm duy vật lịch sử trong lĩnh vực nghiên cứu kinh học
Phạm Văn Lan 范文澜 cũng là một nhân vật đại biểu cho lớp học giả vận dụng quan điểm duy vật lịch sử để nghiên cứu kinh học Ngay từ năm 1933,
ông đã xuất bản cuốn Quần kinh khái
luận 群经概论 (Khái luận về các kinh
điển), trong đó dù còn khuynh hướng cổ văn [kinh học], nhưng về cơ bản đã thoát khỏi thiên kiến bè phái của các phái kim cổ văn, dùng con mắt kết hợp giữa học thuật truyền thống với lí luận khoa học cận đại để xem xét các vấn đề kinh học, từ đó tạo điều kiện tất yếu để sau này ông vận dụng quan điểm duy vật lịch sử dẫn đường cho nghiên cứu kinh học Từ khi đến Diên An 延安, nhận thức của Phạm Văn Lan về kinh điển lại
có một bước thăng hoa mới mà cột mốc
chính là công trình Trung Quốc kinh học
sử đích diễn biến 中国经学史的演变
(Quá trình phát triển của lịch sử kinh học Trung Quốc) mà ông trình bày trong
Hội thảo thường niên về triết học mới tổ
chức tại Diên An tháng 9 năm 1940 Trong công trình này ông cho rằng: với
tư cách là “sản phẩm của xã hội phong
Trang 9LƯỢC THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NỬA ĐẦU…
kiến”, “kinh là công cụ trọng yếu để giai
cấp thống trị phong kiến áp bức nhân
dân về mặt tư tưởng” “Kinh vốn là sử
liệu cổ đại Thượng thư, Xuân Thu, và
Tam Lễ (gồm Chu lễ, Nghi lễ, Lễ kí) ghi
chép về ngôn 言 (lời nói), hành 行 (việc
làm), chế 制 (chế độ), hiển nhiên đều là
sử Kinh Dịch là sách bói toán, Kinh Thi
là tập thơ ca, đều chứa đựng khối lượng
sử liệu phong phú Cho nên Chương
Học Thành nói “Lục kinh đều là sử”…
Nghiên cứu kinh với tư cách là cổ sử thì
vấn đề chắc chắn sẽ có lời giải thỏa
đáng” (9: tr.265-267) Những điều này
có ý nghĩa quan trọng trong việc khơi
gợi để nắm bắt được tính chất căn bản
của kinh điển Nho gia
4 Trong những năm từ 1920 đến
1940 còn có một số học giả chuyên tâm
nghiên cứu kinh điển Nho gia, trong đó
họ vừa kế thừa con đường nghiên cứu
truyền thống, lại vừa tiếp thu ảnh hưởng
từ những tư tưởng mới và quan niệm
mới; vừa tán thành quan điểm kinh học
của phái biện cổ sử, lại vừa tiếp thu (ở
những mức độ khác nhau) phương pháp
của chủ nghĩa duy vật lịch sử đòi hỏi kết
hợp với bối cảnh lịch sử của xã hội để
khảo sát các vấn đề kinh học Từ đó, các
học giả này thể hiện khuynh hướng đa
nguyên hóa trong phương pháp nghiên
cứu và quan niệm học thuật
Năm 1931, Thương vụ ấn thư quán
cho xuất bản cuốn Quốc học khái luận
国学概论 của Tiền Mục 钱穆, trong đó
trình bày phần Khổng Tử dữ Lục kinh 孔
子与六经 (Khổng Tử và Lục kinh) riêng
thành một chương, nhấn mạnh Dịch
không liên quan gì đến Khổng Tử, Xuân
Thu được Khổng Tử soạn thuật căn cứ
vào sử cũ của nước Lỗ, Thư là sách trong cung đương thời, Thi là lời ca vịnh của người xưa, Nghi lễ có nhiều ý trái
với ý Khổng tử Tóm lại, Khổng Tử
chưa từng viết (造 tạo) ra Lục kinh Năm
1932, Tiền Mục cho đăng bài Chu quan
trước tác niên đại khảo 周官著作年代
考 (Khảo về niên đại viết Chu quan) trên
Yên Kinh học báo 燕京学报 số 11, trong
đó ông căn cứ trên các phương diện
được ghi chép trong Chu lễ như điển lễ,
hình pháp, chế độ ruộng đất, việc phong hầu kiến quốc, chế độ quân sự, ngoại tộc, tang ma, âm nhạc… để tiến hành khảo
sát, kết luận rằng Chu lễ chắc chắn được
hoàn thành vào cuối thời Chiến Quốc Năm 1932, Thương vụ ấn thư quán
cho xuất bản cuốn Quần kinh khái luận
群经概论 (Khái luận về các kinh điển) của Chu Dư Đồng 周予同, trong đó đối với các vấn đề kinh học, [tác giả] tuy đôi lúc thể hiện khuynh hướng kim văn kinh học, nhưng vẫn tương đối khách quan khi đánh giá quan điểm của các phái Kim văn kinh học, Cổ văn kinh học cũng như các học giả nghi cổ, và cũng
đã xuất hiện một số nhân tố của quan điểm duy vật lịch sử Sau đó, các tác phẩm nghiên cứu lịch sử kinh học Trung Quốc của học giả người Nhật Bản là Honda Shigayuki (本田成之, Bản Điền Thành Chi) cũng được phiên dịch và bắt đầu lưu hành ở Trung Quốc, trong đó bản dịch của Giang Hiệp Am 江侠菴 có
tên gọi Kinh học sử luận 经学史论 (Bàn
về lịch sử kinh học, Thương vụ ấn thư quán xuất bản năm 1934), bản dịch của Tôn Lương Công 孙 俍 工 có tên gọi
Trung Quốc kinh học sử 中国经学史
(Trung Hoa thư cục xuất bản năm 1935)
Trang 10TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (81) - 2007 TRƯƠNG ĐÀO
Ngoài ra, năm 1935, Khai Minh thư
điếm xuất bản cuốn Thập tam kinh khái
luận 十三经概论 của Vệ Tụ Hiền 卫聚
贤; năm 1936, Trung Hoa thư cục xuất
bản cuốn Kinh học thông chí 经学通志
của Tiền Cơ Bác 钱基博 Những trước
tác trên đều đã khảo sát nguồn gốc của
kinh điển Nho gia, trong đó có nhiều
điểm khả thủ
Năm 1937, Thương vụ ấn thư quán
cho xuất bản cuốn Trung Quốc kinh học
sử 中国经学史 của Mã Tông Hoắc 马宗
霍, trong đó khảo sát về sự nảy sinh và
lịch trình phát triển của Lục kinh, nhấn
mạnh: “Đại khái là Lục nghệ [tức Lục
kinh] thời xưa, trải qua việc sửa chữa
của Khổng Tử, đã trở thành Lục nghệ
trong cửa Khổng Trước khi được sửa
chữa, Lục nghệ chỉ là “chính điển” 政典
(sách về chính trị); sau khi được sửa
chữa, Lục nghệ mới được trở thành
“nghĩa lệ” 义例 (tông chỉ và thể lệ) Nếu
đầy đủ chính điển thì có thể quan sát
phép tắc của một đời vua; nếu làm rõ
được nghĩa lệ thì sẽ hình thành cái học
của một phái (…) Trước thời Khổng Tử
đã có Lục kinh, khi mới nghiên cứu
chúng, ông chỉ muốn ứng dụng vào thế
sự, nhưng sau khi ông lưu lạc khắp nơi
mà không tìm được bậc quân vương vừa
ý, ông liền đem những kinh sách đã
nghiên cứu ra sửa đổi để làm sách dạy
học” (10: tr.9)
Năm 1944, Tưởng Bá Tiềm 蒋伯潜
viết Thập tam kinh khái luận 十三经概
论, căn cứ trên quan điểm của Chương
Thái Viêm, ông chỉ ra: “Kinh vốn để gọi
chung cho thư tịch, hậu thế tôn sùng
kinh nên xếp thành tên riêng để chỉ một
loại chuyên biệt” (11: tr.3) Về quan hệ
giữa Khổng Tử với các kinh, Tưởng Bá
Tiềm nói: “Ngũ kinh gần như đều liên quan đến Khổng Tử Như Thi chẳng hạn, trong Sử kí và Hán chí 汉 志 đều có
những ghi chép về việc Khổng Tử san định từ cổ thi thành 305 thiên Thuyết này dù chưa khả tín, nhưng việc ông sửa
Nhạc và sửa Thi, Khổng Tử đã tự thuật
lại, Luận ngữ cũng ghi chép, đáng là sự
thực khả tín (…) Khổng Tử tự thừa
nhận là học giả “thuật nhi bất tác, tín
nhi hiếu cổ” 述而不作, 信而好古 (kể lại
mà không thêm thắt, tin cổ và hiếu cổ);
việc ông làm đối với Ngũ kinh tựa hồ như công việc thuật 述, tức là chỉnh lí cổ thư; nhưng tư liệu của Ngũ kinh tuy đã
có từ trước, sau một lần qua tay Khổng
Tử sửa đổi thêm bớt thì hầu như đều được phú thêm hàm nghĩa và sức sống mới, thế thì so với việc gọi bằng “thuật”
述 thì chi bằng gọi là “tác” 作 (…) Cho nên Khổng Tử là thủy tổ của kinh học” (11: tr.5-6) Những quan điểm trên của
Mã Tông Hoắc và Tưởng Bá Tiềm là
khá công bằng khoa học
Thời kì này còn có rất nhiều người chuyên nghiên cứu kinh điển, ví dụ như
Lí Kính Trì 李镜池 và Cao Hanh 高亨
với việc nghiên cứu Chu Dịch chẳng hạn
Trong khoảng những năm 1930-1940, Lí
Kính Trì đã soạn Chu Dịch phệ từ khảo
周 易 筮 辞 考 (Khảo về những lời bói
bằng cỏ thi trong Chu Dịch), Chu Dịch
phệ từ tục khảo 周易筮辞续考 (Tiếp tục
khảo về những lời bói bằng cỏ thi trong
Chu Dịch), về niên đại hoàn thành của Chu Dịch, trước hết trên căn bản ông
cũng tán thành với quan điểm của Cố
Hiệt Cương là [Chu Dịch ra đời vào
khoảng] đầu thời Tây Chu, sau đó lại