CONTENTS ISSN: 08667756 số 8 - Tháng 5/2018 LUẬT NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thanh tra đảm bảo tính thống nhất, rõ ràng, khả thi và đơn giản về th
Trang 1CÁC KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
Website: http://tapchicongthuong.vn
SỐ - THÁNG 5/20188
Trang 2CONTENTS ISSN: 08667756 số 8 - Tháng 5/2018
LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG THÚY
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thanh tra đảm bảo tính thống nhất, rõ ràng, khả thi
và đơn giản về thủ tục hành chính
Status and solutions to improve inspection law to ensure uniformity, clarity, feasibility
and simplification of administrative procedures 8
NGUYỄN NGỌC VIỆT
Sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị ảnh hưởng đến việc xây dựng mô hình tổ chức chính quyền nông thôn Hà Nội khi thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
Differences between rural and urban areas affecting the development of Hanoi's rural governance model
when implementing the Law on Organizing Local Government in 2015 14
HOÀNG QUỐC HỒNG
Pháp luật về thủ tục xử phạt tiền trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt:
Một số bất cập và hướng hoàn thiện
Law on sanctioning procedures in the field of road and railway traffic order and safety:
Some inadequacies and complete directions 20
KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Kinh tế biển Hà Tĩnh và những vấn đề để phát triển một nền kinh tế biển xanh
Ha Tinh marine economy and the problems to develop a blue growth economy 26
NGUYỄN LAN HOÀNG THẢO, NGUYỄN THU HÀ, PHẠM NGỌC TUẤN
Thực trạng và giải pháp nâng cao năng suất lao động ngành Công nghiệp khai thác than
trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Current status and solutions to improve the productivity of the Coal Industry in the industrial revolution 4.0 33
NGUYỄN THỊ TRÂM ANH - MAI THỊ LINH
Rào cản phi thuế quan của Mỹ đối với tôm xuất khẩu của các doanh nghiệp miền Tây Nam Bộ
Research on USA non tariff duties for export shrimp case of some enterprises in Southwest region 38
NGUYỄN THANH THẢO
Mối quan hệ giữa thể chế và tăng trưởng kinh tế: Mô hình nghiên cứu
Relationship between Institution and Economic Growth: Research Model 45
Trang 31 Đặt vấn đề
Hà Tĩnh là một tỉnh ven biển thuộc khu vực Bắc
Trung Bộ, nằm trên trục giao thông huyết mạch
Bắc - Nam, Đông - Tây với đường bờ biển dài
137km Biển Hà Tĩnh có nguồn lợi thủy sản dồi
dào, ngư trường rộng lớn thuận lợi cho phát triển
khai thác, đánh bắt - chế biến hải sản và nhiều bãi
biển đẹp thích hợp cho phát triển du lịch Hà Tĩnh
có 3 cảng biển, bao gồm: Cảng biển nước sâu Sơn
Dương, cảng Vũng Áng và cảng Xuân Hải, trong
đó cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương đã
được thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch là
1 trong 3 đầu mối giao thương biển quốc tế, có các
dự án trọng điểm hình thành cụm công nghiệp
nặng, từng bước trở thành khu kinh tế tạo động lực
tăng trưởng cho cả khu vực Với điều kiện tự nhiên
đặc trưng đó, kinh tế biển Hà Tĩnh chủ yếu tập
trung vào 3 ngành nghề, hoạt động chính bao gồm:
(1) Đánh bắt và nuôi trồng hải sản; (2) Du lịch biển; (3) Vận tải biển và dịch vụ cảng biển Trong đó, hai ngành nghề truyền thống chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế biển Hà Tĩnh từ trước đến nay vẫn là hải sản và du lịch biển Tuy nhiên, những năm gần đây, với sự đầu tư và hiện đại hóa hệ thống cảng biển, nhóm ngành Vận tải và Dịch vụ cảng biển cũng đã và đang dần trở thành ưu thế mới của tỉnh
2 Khung nghiên cứu
Để xem xét và đánh giá thực trạng kinh tế biển Hà Tĩnh hiện nay và những vấn đề để phát triển một nền kinh tế biển xanh cho địa phương, nghiên
cứu này sử dụng khung phân tích như sau: (Sơ đồ 1)
3 Thực trạng các hoạt động kinh tế biển của Hà Tĩnh
Kinh tế biển Hà Tĩnh hiện nay bao gồm 3 hoạt động cơ bản: (1) Đánh bắt và nuôi trồng hải sản;
TẠP CHÍ CÔNG THƯƠNG
Số 8 - Tháng 5/2018
KINH TẾ BIỂN HÀ TĨNH VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐỂ PHÁT TRIỂN MỘT NỀN
KINH TẾ BIỂN XANH
TÓM TẮT:
Hà Tĩnh là một tỉnh ven biển thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế biển với bờ biển dài và nguồn lợi thủy sản dồi dào Tuy nhiên, kinh tế biển Hà Tĩnh hiện nay vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi môi trường biển đang bị ô nhiễm do hoạt động của các ngành kinh tế Chính vì vậy, phát triển kinh tế biển xanh đang là một xu hướng được lựa chọn, đảm bảo phát triển kinh tế biển hiệu quả, bền vững, đóng góp vào phát triển kinh tế của tỉnh Bài viết tập trung phân tích những thực trạng của kinh tế biển tỉnh Hà Tĩnh và nêu một số giải pháp về phát triển một nền kinh tế biển xanh cho tỉnh trong thời gian tới
Từ khóa: Kinh tế biển, kinh tế biển xanh, tỉnh Hà Tĩnh, môi trường biển.
Trang 4(2) Du lịch biển; (3) Vận tải biển và dịch vụ cảng
biển, với thực trạng như sau:
3.1 Hoạt động đánh bắt và nuôi trồng hải sản
Thứ nhất, về khai thác hải sản biển
Sản lượng khai thác thủy sản của Hà Tĩnh nhìn
chung đều tăng dần qua các năm từ 2010 - 2015
Chỉ riêng năm 2016, sản lượng có sự sụt giảm đột
ngột xuống mức 26.166 tấn (tương đương 73% so
với năm 2015), thậm chí thấp hơn cả các năm từ
2011 đến 2014 Nguyên nhân chính gây nên hiện
tượng này do ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển
miền Trung (Bảng 1)
Năm 2015, Hà Tĩnh có tổng số tàu thuyền 3.729
chiếc; sản lượng khai thác biển đạt trên 35.000 tấn/
năm; giá trị sản xuất các sản phẩm hải sản đạt 990
tỷ đồng Năm 2016, tỉnh tiếp tục phát triển thêm 57
tàu (công suất trên 90CV), nâng đội tàu xa bờ lên
232 chiếc [1] Tuy nhiên, sản lượng khai thác thủy
sản năm 2016 chỉ đạt 26.166 tấn, ước khoảng
84,6% kế hoạch năm
Thứ hai, về nuôi trồng thủy sản ven biển.
Diện tích thả nuôi mặn, lợ ven biển năm
2015 là 2.752 ha, sản lượng đạt 13.301 tấn,
tăng 4,8% so với năm 2014; giá trị sản xuất
đạt 500 tỷ đồng; tăng nhanh diện tích nuôi
thâm canh, công nghệ cao, chuyển mạnh hình thức nuôi hộ gia đình sang tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp; xây dựng các cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống chất lượng cao; mở rộng diện tích nuôi tôm trên cát, xây dựng thí điểm mô hình nuôi cá mú công nghệ cao trên cát Năm 2016, diện tích nuôi thủy sản mặn, lợ đạt 2.777 ha, sản lượng đạt 12.483
tấn, giảm 6,1% so với năm 2015 (Bảng 2)
3.2 Du lịch biển
Nhìn chung, du lịch Hà Tĩnh đa số đều gắn liền với các hoạt động du lịch biển Theo số liệu thống
kê cho thấy, giai đoạn từ năm 2010 đến 2015, du lịch Hà Tĩnh đều có sự tăng trưởng ổn định cả về lượng lượt khách trong và ngoài nước cũng như thời gian lưu trú và mức chi tiêu trung bình của khách Điều này cho thấy sức hút đối với du khách và khả năng cung cấp các dịch vụ du lịch ngày càng cao Năm 2016, do ảnh hưởng môi trường biển ô nhiễm khiến lượng khách du lịch đến Hà Tĩnh giảm gần 500.000 lượt khách, đồng thời số ngày lưu trú và mức chi tiêu của các đối tượng khách du lịch đều giảm đáng kể, dẫn đến doanh thu du lịch giảm còn 505,2 tỷ đồng (giảm gần 338 tỷ, tương đương với 40% so với năm 2015)
Sơ đồ 1: Khung phân tích thực trạng kinh tế biển Hà Tĩnh hiện nay và những vấn đề
để phát triển một nền kinh tế biển xanh
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Sản lượng 26.121 27.404 29.629 30.775 31.648 35.392 26.166
Bảng 1 Sản lượng khai thác thủy sản của Hà Tĩnh
giai đoạn từ 2010 - 2016
Đơn vị: Tấn
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Sản lượng 9.999 10.324 4.774 11.949 12.690 13.301 12.483
Bảng 2 Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Hà Tĩnh
giai đoạn từ 2010 - 2016
Đơn vị: Tấn
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 5Trong những năm qua, việc đầu tư xây dựng
phát triển du lịch vùng ven biển được tỉnh hết sức
quan tâm, từng bước kết nối du lịch biển với các
trung tâm du lịch của tỉnh, trong đó có tuyến đường
ven biển Xuân Hội - Thạch Khê - Vũng Áng
Nhiều dự án có quy mô lớn đầu tư ven biển đã
được khảo sát và triển khai đầu tư, như: Dự án Tổ
hợp biệt thự nghỉ dưỡng Vinpearl Cửa Sót, huyện
Lộc Hà của Tập đoàn Vingroup (vốn đăng ký 300
tỷ đồng); Khu du lịch biển, Trường đua chó và Sân
golf 18 lỗ của Công ty Hồng Lam - Xuân Thành tại
khu du lịch biển Xuân Thành, huyện Nghi Xuân;
Dự án Khu du lịch sinh thái Quỳnh Viên tại Khu du
lịch biển Thạch Hải - huyện Thạch Hà; nhiều dự
án tập trung tại Khu du lịch biển Thiên Cầm,
huyện Cẩm Xuyên… Nhờ vậy, Hà Tĩnh đã được cả
nước và khu vực biết đến với khu du lịch Quốc gia
Thiên Cầm, Khu Du lịch biển Xuân Thành
Hiện nay, khu vực ven biển của Hà Tĩnh có trên
1.000 phòng nghỉ, trong đó có 1 khách sạn 3 sao,
3 khách sạn 2 sao và nhiều nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn
phục vụ khách du lịch Sản phẩm tour tuyến du lịch
hầu hết ở các khu, điểm du lịch biển Hà Tĩnh đều
gắn liền với hệ thống các di tích, danh thắng rải
đều khắp tỉnh cũng như các điểm du lịch nổi tiếng
của các tỉnh lân cận.[1]
3.3 Vận tải biển và dịch vụ cảng biển
Hà Tĩnh có 3 cảng, bao gồm: Cảng biển nước
sâu Sơn Dương, cảng Vũng Áng và cảng Xuân
Hải Trong đó, cụm cảng Sơn Dương - Vũng Áng
là cảng chuyên dùng và tổng hợp quốc gia, đầu
mối khu vực loại I trong hệ thống cảng biển Vũng Áng Theo quy hoạch, cảng Vũng Áng có 17 bến cảng (11 bến tổng hợp và 6 bến chuyên dùng cho nhập than và xăng dầu); đến nay đã đầu tư và đưa vào hoạt động các cầu cảng số 1, số 2, cảng xăng dầu, cảng than Nhà máy Nhiệt điện 1 với lượng hàng qua cảng đạt trên 5 triệu tấn/năm Hiện đang đầu tư cảng số 3, số 4, cảng than Nhà máy Nhiệt điện 2, khu dịch vụ hậu cần cảng gắn với Trung tâm Logistic; chuẩn bị khởi công bến số 5, số 6 Cảng Sơn Dương theo kế hoạch, giai đoạn 1 sẽ hoàn thành 11 cầu cảng (2 cầu cảng cho tàu 20 vạn tấn, 3 cầu cảng cho tàu 5 vạn tấn, 6 cầu cảng cho tàu 1 vạn tấn và 1 bến dịch vụ) Đến nay, đã hoàn thành 10 bến, gồm: bến S1, S2, W1, W2, W3, W6, W7, W10, A2, N2; trong đó bến S1, S2 có thể cho tàu đến 200.000 DWT ra vào cảng
Đầu tư xây dựng 2 cảng cá, 4 khu neo đậu tránh trú bão (2 khu đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng là Thạch Kim và Xuân Hội) với tổng kinh phí gần 400 tỷ đồng; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, cấp thoát nước cho 5 vùng nuôi tập trung trên cát, với tổng kinh phí trên 45 tỷ đồng Nâng cấp, hoàn thành 162km tuyến đê biển, đê cửa sông; trồng được 75,7ha rừng ngập mặn ven biển
Ngoài ra, theo Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến nay, tỉnh Hà Tĩnh đã đầu
tư xây dựng được tuyến đường ven biển đoạn Thạch Khê - Vũng Áng với chiều dài 29km; xây dựng 2 cầu Cửa Nhượng và Cửa Khẩu và đang
TẠP CHÍ CÔNG THƯƠNG
Số 8 - Tháng 5/2018
Lượt khách Du lịch Lượt người 571.296 721.380 923.004 1.093.759 1.300.259 1.599.000 1.100.000 Khách quốc tế Lượt người 9.750 11.849 15.338 17.857 16.250 22.950 18.000 Ngày lưu trú/1 khách QT Ngày 1.2 1.5 1.5 2.5 2.7 3.3 2.5 Mức chi tiêu/1 khách QT USD/ngày 120 130 130 130 130 130 120 Khách nội địa Lượt người 561.546 709.531 907.666 1.075.902 1.284.009 1.576.050 1.082.000 Ngày lưu trú/1 khách nội địa Ngày 1.5 2 2 2.5 2.5 2.8 2.5 Mức chi tiêu/1 khách nội địa USD/ngày 30 35 35 35 35 35 30 Doanh thu du lịch Triệu đồng 468.386 530.454 606.242 830.360 612.512 843.016 505.200
Bảng 3 Các chỉ tiêu về du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2016
Nguồn: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh
Trang 6triển khai thi công đoạn Cẩm Lĩnh - Kỳ Xuân;
nâng cấp Quốc lộ 8B đoạn từ Nghi Xuân đến Thị
xã Hồng Lĩnh phục vụ việc vận chuyển hàng hóa
trong khu vực cũng như từ nước bạn Lào trực tiếp
tới cảng Vũng Áng - Sơn Dương.[1]
4 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế so với yêu
cầu phát triển xanh của kinh tế biển Hà Tĩnh
Theo đánh giá, tiềm năng nuôi trồng thủy sản ở
vùng ven biển Hà Tĩnh rất lớn, với diện tích đất
nuôi trồng thủy sản 1.135,4 ha, chiếm 2,6% tổng
diện tích đất vùng ven biển Hệ thống cảng biển có
Cảng Vũng Áng - Sơn Dương đang xây dựng cho
phép tàu 30 vạn tấn cập cảng, là cảng biển sâu
nhất khu vực Bắc Trung bộ, cửa ngõ thuận lợi cho
các tỉnh khu vực miền Trung Việt Nam, Lào và các
tỉnh vùng Đông bắc Thái Lan đi các hải cảng quốc
tế trong khu vực và trên thế giới Cùng với đó là
nhiều bãi biển đẹp có khả năng khai thác du lịch,
kết hợp với vị trí địa lý thuận lợi thu hút du khách
cả từ trong và ngoài nước Qua thực trạng kinh tế
biển Hà Tĩnh những năm qua có thể ghi nhận một
số kết quả và thành tựu nhất định Tuy nhiên, sự
phát triển của kinh tế biển vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng của tỉnh, cũng như đóng góp về mặt
sản lượng, giá trị còn ở mức thấp Nguyên nhân
của những hạn chế so với yêu cầu phát triển xanh
của kinh tế biển Hà Tĩnh là do:
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng thấp do năng
suất thấp, tỷ trọng đóng góp của công nghệ còn
hạn chế
Ngành nghề quan trọng nhất trong kinh tế biển
của Hà Tĩnh hiện nay vẫn là nuôi trồng và khai
thác hải sản Nhưng chủ yếu vẫn dưới dạng nhỏ lẻ,
tự phát, công cụ đánh bắt và phương pháp nuôi
trồng thô sơ, lạc hậu Về đánh bắt chủ yếu tập
trung ở gần bờ, số lượng tàu có khả năng đánh bắt
hải sản xa bờ rất ít Chưa có công nghệ hiện đại
để sơ chế và bảo quản các sản phẩm đánh bắt hiệu
quả, ảnh hưởng không ít đến chất lượng và giá trị
sản phẩm Về nuôi trồng, mới chỉ phát triển ở quy
mô nhỏ, hộ gia đình với diện tích nuôi trồng hạn
hẹp; thiếu tính đa dạng về chủng loại, số lượng sản
phẩm hải sản nuôi trồng Đồng thời công nghệ
chăm sóc, thu hoạch chế biến lạc hậu, thậm chí
người nuôi chưa có ý thức và kiến thức đầy đủ về
các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh, các tiêu chí về dư lượng thuốc kháng sinh,
Do đó, sản phẩm chưa có giá trị cao, chưa đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu dẫn đến thị trường cung ứng bị giới hạn
Thứ hai, thể chế và hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển.
Mặc dù những năm gần đây, Chính phủ và tỉnh Hà Tĩnh đều tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng đáng kể cho các khu cảng biển, hệ thống giao thông đường bộ khu vực ven biển cũng như hạ tầng du lịch biển Song nhìn chung, tốc độ xây dựng còn kéo dài, chậm đưa vào khai thác sử dụng Việc đầu tư xây dựng còn mang tính cục bộ, chủ yếu tập trung vào một số khu vực, dự án trọng điểm, tính đồng bộ chưa cao
Thứ ba, chất lượng lao động hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế biển của Hà Tĩnh còn thấp.
Xét về mặt số lượng, lực lượng lao động của tỉnh tham gia các hoạt động kinh tế biển khá đông đảo và có thành phần đa dạng, nhưng xét về mặt chất lượng và trình độ lao động lại còn thiếu và yếu Hà Tĩnh còn thiếu về lao động lành nghề trong hoạt động đánh bắt, nuôi trồng hải sản; du lịch biển và vận tải, cảng biển; Yếu kém về trình độ khoa học công nghệ, kiến thức tổ chức sản xuất kinh doanh hiện đại
Những phân tích trên cho thấy hạn chế nổi bật kìm hãm sự phát triển của kinh tế biển là ở mô hình tăng trưởng không còn phù hợp Trong khi đó, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và khủng hoảng môi trường đang ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là sau sự cố môi trường biển xảy ra ngay tại Hà Tĩnh Vì vậy, việc chuyển hướng sang nghiên cứu và xây dựng chiến lược tăng trưởng xanh cho kinh tế biển Hà Tĩnh là cần thiết và hoàn toàn phù hợp với điều kiện khách quan
5 Một số giải pháp tăng trưởng xanh cho kinh tế biển Hà Tĩnh
Trên cơ sở định hướng tăng trưởng xanh, khai thác và phát triển bền vững kinh tế biển, đồng thời chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo đa dạng sinh học biển, tác giả tập trung theo 2 nhóm giải pháp cơ bản sau:
5.1 Nhóm giải pháp theo ngành nghề hoạt động
Trang 7Một là, đối với hoạt động đánh bắt và nuôi
trồng hải sản
Đảm bảo tính bền vững trong hoạt động đánh
bắt khai thác hải sản, cần có các quy định về giới
hạn mức độ đánh bắt khai thác cho phép hàng
năm như: giới hạn về kích cỡ của cá và các loại
hải sản được khai thác (quy định kích cỡ lưới
đánh bắt) nhằm bảo tồn tính đa dạng của nguồn
giống tự nhiên; xem xét hàng năm hạn chế khai
thác vào mùa sinh sản chính của các loài hải sản
quý hiếm
Giảm tải gây ô nhiễm chất thải trong hoạt động
đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản ra môi trường
biển và ven biển Xây dựng các đội tàu đánh bắt,
ngư trường nuôi trồng hiện đại, có công nghệ tiên
tiến trong việc xử lý chất thải ô nhiễm Nghiêm
cấm và có hình thức xử phạt đối với các trường hợp
xả chất thải trong nuôi trồng và đánh bắt hải sản
ra môi trường biển
Khảo sát, khoanh vùng và có các biện pháp bảo
vệ nơi cư trú của các loài sinh vật biển quý hiếm,
hạn chế tiếp xúc trực tiếp gây ô nhiễm nhằm đảm
bảo môi trường sống, sinh sản và đa dạng sinh học
cho các loài sinh vật biển
Hai là, đối với hoạt động du lịch biển.
Chú trọng các tour du lịch gắn liền với hoạt
động bảo vệ môi trường biển và ven biển Có
các chế tài và biện pháp hợp lý tạo thói quen
cho người làm du lịch cũng như du khách ý thức
giữ gìn vệ sinh, không vứt rác bừa bãi, không sử
dụng các sản phẩm có ảnh hưởng tiêu cực đến
môi trường biển
Nâng cấp hệ thống nhà hàng, nhà nghỉ ven biển
đạt tiêu chuẩn phù hợp nhằm hạn chế vấn đề xả
thải và tình trạng kinh doanh không lành mạnh gây
ảnh hưởng đến môi trường
Kiểm soát, giám sát nghiêm ngặt các dự án,
công trình xây dựng ven biển phục vụ du lịch, cần
có báo cáo đánh giá tác động môi trường và ảnh
hưởng sinh thái cho từng dự án cụ thể Tránh
trường hợp để thiên nhiên và sinh thái ven biển trở
thành vật hi sinh cho phát triển kinh tế và mục tiêu
lợi nhuận
Ba là, đối với hoạt động vận tải và dịch vụ cảng.
Nâng cao trình độ khoa học công nghệ hiện đại
trong hoạt động xây dựng và vận hành hệ thống cảng biển của tính, vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu khai thác vận tải và dịch vụ cảng phục vụ kinh tế, vừa hạn chế tối đa sai sót, tai nạn trong hoạt động, dẫn đến tác động xấu cho môi trường biển Kết hợp với các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ hệ thống tàu thuyền ra vào, hoạt động trên khu vực biển thuộc cảng, hạn chế và ngăn cấm từ xa những tàu thuyền không đủ tiêu chuẩn
an toàn biển, vận chuyển hàng hóa có nguy cơ gây
ô nhiễm cao
5.2 Nhóm giải pháp theo chủ thể hoạt động kinh tế biển
Một là, đối với các cơ quan chức năng của địa phương.
Nghiên cứu và triển khai thực hiện mô hình quản lý tổng hợp đối với tài nguyên biển Hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để đảm bảo tài nguyên biển được khai thác, sử dụng hiệu quả
Chú trọng công tác quy hoạch đối với các ngành kinh tế biển của tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, ổn định, bảo vệ môi trường biển và vành đai xanh ven biển
Tổ chức các đội kiểm tra ngành, liên ngành về môi trường, thường xuyên tiến hành kiểm tra, đo đạc, giám định chất lượng môi trường biển trên toàn khu vực khai thác kinh tế biển của tỉnh Xây dựng và áp dụng khung chế tài xử phạt hợp lý, minh bạch đối với các hoạt động đánh bắt nuôi trồng, kinh doanh du lịch, vận tải gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển và ven biển Xây dựng và lập kế hoạch thực hiện các biện pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và nhận thức của doanh nghiệp, tập thể, hộ cá nhân tham gia các hoạt động kinh tế biển về nội dung tự giác bảo vệ môi trường, không xả thải bừa bãi, không khai thác xâm lấn đa dạng sinh thái biển; có ý thức phát hiện và đấu tranh với các hành vi gây ô nhiễm môi trường
Huy động và sử dụng nguồn vốn hợp lý để hiện đại hóa các phương tiện hoạt động khai thác kinh tế biển nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường Tổ chức đào tạo kiến thức, tay nghề, kỹ năng sử
TẠP CHÍ CÔNG THƯƠNG
Số 8 - Tháng 5/2018
Trang 8dụng vận hành phương tiện hiện đại, cách thức áp
dụng khoa học công nghệ mới vào khai thác, hoạt
động cho các đối tượng lao động tham gia các
ngành kinh tế biển
Hai là, đối với doanh nghiệp, người dân.
Tuân thủ nghiêm túc, chặt chẽ các quy định
pháp luật cũng như hướng dẫn của cơ quan chức
năng trong hoạt động đánh bắt, nuôi trồng, kinh
doanh dịch vụ du lịch, vận tải biển, đặc biệt các
yêu cầu về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học
biển, ven biển
Học tập, trang bị và áp dụng khoa học kỹ thuật,
phương tiện hiện đại vào hoạt động khai thác, kinh
doanh các ngành kinh tế biển
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển như
một phương châm kinh doanh, tự giác phát hiện,
báo cáo và đấu tranh chống lại các đối tượng
gây ô nhiễm môi trường trong phạm vi hoạt
động của mình
6 Kết luận
Hà Tĩnh có tiềm năng dồi dào về nguồn lực khai thác, những năm qua đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận về xây dựng và phát triển kinh tế biển trên 3 lĩnh vực chính, gồm: đánh bắt và nuôi trồng hải sản; du lịch biển và vận tải biển và dịch vụ cảng biển Tuy nhiên, thực trạng hoạt động kinh tế biển Hà Tĩnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, suy giảm hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển trong tương lai Do đó, việc chuyển hướng phát triển sang mô hình tăng trưởng xanh là hết sức cần thiết Cùng với đó, nhóm tác giả hy vọng gợi ý các nhóm giải pháp tích cực theo từng nhóm ngành và từng đối tượng chủ thể sẽ mang lại tính ứng dụng và hiệu quả cho việc phát triển kinh tế biển Hà Tĩnh trong bối cảnh mới
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh, Báo cáo số 923/BC-SKHĐT ngày 09/11/2016 về Thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng biển, đảo; các hành lang kinh tế, vành đai kinh tế biển, các khu kinh tế tổng hợp trọng điểm đã được phê duyệt.
2 Trương Quang Học, Hoàng Văn Thắng, Kinh tế xanh, con đường phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi toàn cầu - Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội.
3 Nguyễn Tác An, Bùi Hồng Long, Phát triển xanh lam ở biển Đông: Những vấn đề và triển vọng 2013, tr 370-379 - Proceedings of the International Conference on Bien Dong 2012.
4 Nguyễn Thị Thu Trang, Một số vấn đề tăng trưởng xanh ở Việt Nam - Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 31, số 5/2015, tr 109 - 113.
5 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh, Báo cáo số 92/BC - SVHTTDL ngày 10/02/2017 về Kết quả thực hiện quy hoạch phát triển du lịch và huy động nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch biển và ven biển.
6 Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn Xuân Trung, Kinh tế xanh trong đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn tới.
7 Trương Quang Học, Hoàng Văn Thắng, Kinh tế xanh, con đường phát triển bền vững trong môi trường biến đổi toàn cầu, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội.
8 Vũ Thanh Ca, Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam: Thực trạng, tiềm năng, thách thức và đề xuất giải pháp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát triển bền vững kinh tế biển: Từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 4/2017, tr 42 - 50.
Trang 99 Nguyễn Chu Hồi, Các lợi thế chiến lược cho kinh tế biển miền Trung phát triển bền vững, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phát triển bền vững kinh tế biển: Từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 11/2017, tr 17 - 30.
Ngày nhận bài: 19/04/2018
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 29/04/2018
Ngày chấp nhận đăng bài: 09/05/2018
Thông tin tác giả:
ThS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hà Tĩnh
Email: huyen.nguyenthithanh@htu.edu.vn
TẠP CHÍ CÔNG THƯƠNG
Số 8 - Tháng 5/2018
HA TINH MARINE ECONOMY AND THE PROBLEMS
TO DEVELOP A BLUE GROWTH ECONOMY
Faculty of Economics - Business Administration, Ha Tinh University
ABSTRACT:
Ha Tinh, a coastal province in the North Central region, has many advantages in developing marine economy with long coastline and diverse aquatic resources However, the marine economy in Ha Tinh is still under-developed with potential while the marine environment is polluted by the activities of economic sectors Therefore, the development of blue growth is a chosen trend, ensuring sustainable and efficient marine economic development, contributing to the economic development of the province The paper focuses on analyzing the realities of marine economy in Ha Tinh Province and provides some solutions for developing a blue growth for the province
Keywords: Marine economy, blue growth, Ha Tinh province.