1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

78 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 784 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình Giáo dục thể chất ở trường THPT thì Điền kinh làmột trong những nội dung chính trong trương trình giáo dục thể chất... Nhằmgiúp cho học sinh hoàn

Trang 1

TRẦN VĂN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10

TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CHUYÊN NGHÀNH: GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Giáo viên hướng dẫn

Th.S Nguyễn Thị Bắc

BÌNH ĐỊNH - 2016

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong khoá luận hoàn toàn là trung thực và chưa có ai từng công bố trong bất kỳ công trình nào.

Sinh viên thực hiện

Trần Văn Quang

Trang 3

1 TDTT Thể dục thể thao

5 GDTC – QP Giáo dục thể chất – quốc phòng

9 D&ĐT Giáo dục và đào tạo

DANH MỤC VIẾT TẮT CÁC DƠN VỊ ĐO LƯỜNG

Trang 4

TT NỘI DUNG TRANG

Bảng 3.1 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ giảng

dạy, tập luyện ở trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

35

Bảng 3.2 Tiêu chuẩn về thành tích (m) và điểm nhảy theo mức

độ thực hiện kỹ thuật cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao vân, tỉnh Bình Định

38

Bảng 3.3 Kết quả quan sát sư phạm những sai lầm thường mắc

khi thực hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao vân, tỉnh Bình Định.(n=60)

40

Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn sai lầm thường mắc khi thực hiện

kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao vân, tỉnh BìnhĐịnh.(n=20)

41

Bảng 3.5 Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm cơ bản khi thực

hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ”

43

Bảng 3.6 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập nhằm khắc phục

sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao vân, tỉnh Bình Định

47

Bảng 3.7 Tiến trình giảng dạy nhằm khắc phục sai lầm thường

mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” choNữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh

Bình Định cho nhóm thực nghiệm.

50

Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn lựa chọn Test đánh giá hiệu quả

của các bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng” cho

51

Trang 5

Bảng 3.12 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng (B)

trước và sau thực nghiệm.(n=14)

57

Bảng 3.13 So sánh số lần mắc lỗi giữa hai nhóm thực nghiệm và

đối chứng sau thực nghiệm trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

60

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Biểu đồ biểu diễn thành tích chạy 30m xuất phát

cao, bật cao tại chỗ với bằng 1 tay và nhảy cao

53

Trang 6

Biểu đồ 2 Biểu đồ biểu diễn thành tích chạy 30m xuất phát

cao, bật cao tại chỗ với bằng 1 tay và nhảy caokiểu nằm nghiêng của hai nhóm sau thực nghiệm

56

Biểu đồ 3 Biểu đồ biểu diễn thành tích chạy 30m xuất phát

cao của hai nhóm trước và sau thực nghiệm

58

Biểu đồ 4 Biểu đồ biểu diễn thành tích bật cao tại chỗ với

bằng 1 tay của hai nhóm trước và sau thựcnghiệm

58

Biểu đồ 5 Biểu đồ biểu diễn thành tích nhảy cao kiểu nằm

nghiêng của hai nhóm trước và sau thực nghiệm

59

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐẶT VẤN ĐÊ 1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

Trang 7

1.2 Khái niệm và các quan điểm về giảng dạy, huấn luyện kỹ thuật thể dục thể thao 6

1.3 Khái niệm Bài tập thể chất 11

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT (16-18 tuổi) 12

1.4.1 Đặc điểm về sinh lý ở lứa tuổi học sinh THPT(16 – 18 tuổi) 12

1.4.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT(16 – 18 tuổi) 15

1.5 Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng 16

1.5.1 Cơ sở nguyên lý kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng 16

1.5.2 Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng 17

1.5.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và chạy đà 17

1.5.2.2 Giai đoạn giậm nhảy 18

1.5.2.3 Giai đoạn trên không qua xà 19

1.5.2.4 Giai đoạn tiếp đất và kết thúc 19

1.6 Các tố chất thể lực đặc trưng trong kỹ thuật nhảy cao 19

1.6.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh 20

1.6.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ và sức mạnh bột phát 22

1.6.3 Sức nhanh và phương pháp phát triển sức nhanh 23

1.6.4 Phương pháp giáo dục năng lực phối hợp vận động 25

1.7 Đặc điểm về yếu tố kỹ thuật và thể lực trong nhảy cao 26

1.7.1 Yếu tố kỹ thuật 26

1.7.2 Yếu tố thể lực 27

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 28

2.1 Phương pháp nghiên cứu 28

2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 28

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn 28

Trang 8

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 29

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê 30

2.2 Đối tượng và tổ chức nghiên cứu 32

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.2.2 Khách thể nghiên cứu 32

2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu 32

2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho nữ học sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 33

3.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 33

3.1.2 Thực trạng cở sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy môn học Thể dục chính khoá ở trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 34

3.1.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT của trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 35

3.1.4 Thực trạng về phương pháp và chương trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu mằm nghiêng cho nữ học sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 36

3.1.4.1 Về phương pháp giảng dạy 36

3.1.4.2 Về chương trình giảng dạy 37

3.1.5 Thực tiễn sai lầm thường mắc và nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong học kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 38

Trang 9

3.1.5.3 Những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm cơ bản khi thực hiện kỹ

thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” 42

3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc khi thực hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 - trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 44

3.2.1 Cơ sở lựa chọn bài tập sữa chữa sai lầm 44

3.2.2 Lựa chọn bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc khi thực hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng” cho Nữ học sinh khối 10- trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 45

3.2.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng” cho nữ học sinh khối 10 Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định 49

3.2.3.1 Tổ chức thực nghiệm 49

3.2.3.2 Xây dựng tiến trình thực nghiệm 50

3.2.3.3 Xác định việc sử dụng các test trong kiểm tra đánh giá 51

3.2.3.4 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 52

3.2.3.5 Kết quả kiểm tra và đánh giá sau thực nghiệm 54

3.2.3.6 Kết quả so sánh trước và sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 56

3.2.3.7 Kết quả đánh giá về thực hiện kỹ thuật của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninhcủa Đất nước, Đảng và Nhà nước luôn trú trọng công tác giáo dục thể chất(GDTC) cho học sinh, sinh viên - lớp người kế tiếp truyền thống cha ông,những chủ nhân tương lai của Đất nước Xem đó là tiền đề quan trọng trongsự nghiêp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định cần phải có chính sáchchăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam nhằm phát triển hài hoà vềthể chất, tinh thần, tư duy trí tuệ và đạo đức con người Việt Nam

Giáo dục thể chất (GDTC) cho học sinh trung học phổ thông (THPT)luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước, cũng như cácchuyên gia giáo dục, các nhà khoa học Sự quan tâm này là toàn diện ở nhiềumặt như: Chủ trương, đường lối, đầu tư cơ sở vật chất, xác định nội dung,chương trình giảng dạy, nghiên cứu các quy luật và đặc điểm phát triển thểchất của học sinh, để từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch GDTC cho phùhợp

Trong chương trình Giáo dục thể chất ở trường THPT thì Điền kinh làmột trong những nội dung chính trong trương trình giáo dục thể chất Điềnkinh là một trong những môn thể thao cơ bản, nó bao gồm nhiều nội dungnhư: Đi bộ thể thao, chạy, nhảy và ném đẩy Tập luyện điền kinh thườngxuyên sẽ làm cho cơ thể có những biến đổi rõ rệt về hình thái và chức năngcủa các bộ phận trên cơ thể Tập Điền kinh rất đơn giản không đòi hỏi sân bãidụng cụ phức tạp, người tập có thể tiến hành tập luyện trên mọi địa hình DoĐiền kinh đơn giản và dễ tập luyện, lại đạt hiệu quả cao nên thu hút đượcnhiều người tham gia tập luyện ở mọi lứa tuổi

Trong môn Điền kinh, Nhảy cao là một nội dung quan trọng, là mộthoạt động tương đối phức tạp, nó đòi hỏi người tập cần nắm vững các yếulĩnh kỹ thuật của động tác ngay từ khi mới học, họ còn phải vừa thực hiện vừa

tư duy động tác đã học sao cho những động tác đó trở thành thuần thục, chính

Trang 11

xác và nhịp nhàng Trong môn nhảy cao, người ta chia làm nhiều kỹ thuậtkhác nhau như: Kỹ thuật nhảy cao kiểu “bước qua”, kỹ thuật nhảy cao kiểu

“úp bụng”, kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng”, kỹ thuật nhảy cao kiểu

“lưng qua xà”

Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng được chia làm bốn giai đoạn đó là:Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất Đây là những hoạt động đòi hỏiđộ chính xác cao do môn có kỹ thuật khó và phức tạp nên đối với người mớitập việc mắc sai sót là không thể tránh khỏi Chuẩn hoá kỹ thuật động tác làvấn đề cần thiết phải có đối với việc học kỹ thuật nhất là học sinh THPT Việcsử dụng các bài tập khắc phục sai lầm thường mắc trong các giai đoạn kỹthuật là rất cần thiết, hệ thống bài tập càng phong phú càng nâng cao hiệu quảgiảng dạy Việc lựa chọn và sử dụng các bài tập nhằm khắc phục những sailầm thường mắc trong các giai đoạn kỹ thuật là một nhiệm vụ khó khăn vàphức tạp, đòi hỏi phải có phương pháp, phương tiện và cách xây dựng khoahọc

Qua tìm hiểu thực tế tôi thấy, thành tích thi đấu nhảy cao tại trườngTHPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định còn nhiều hạn chế, kết quả học tập cònthấp cả về thành tích lẫn chất lượng kỹ thuật Mặt khác, trước yêu cầu cấpbách nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập hiện nay đòi hỏi giáo viên cần cónhững phương pháp, những bài tập hợp lý để tập luyện và sửa chữa những sailầm thường mắc nhằm hoàn thiện kỹ thuật, nâng cao thành tích môn nhảy cao

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc “Nghiên cứu ứng dụng bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho Nữ học sinh khối 10, Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định” là yêu cầu cấp bách không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy và

huấn luyện kỹ thuật nhảy cao cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả côngtác giáo dục thể chất của nhà trường

Trang 12

Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp lý luận và thực tiễn chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài này với mục đích nghiên cứu ứng dụng bài tập nhằmkhắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng chonữ học sinh khối 10, Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định Nhằmgiúp cho học sinh hoàn thiện kỹ thuật một cách chính xác nhất và nâng caothành tích môn nhảy cao, cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môngiáo dục thể chất trong nhà trường

Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết hai nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập sửa chữa sai lầm

trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho nữ học sinh khối 10,trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập nhằm khắc phục

những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho nữhọc sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường học.

Nâng cao thể chất và sức khoẻ cho học sinh, sinh viên là một trongnhững mục tiêu chiến lược của Đảng, nhà nước, của ngành Giáo dục và Đàotạo (GD&ĐT) nước ta từ trước đến nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đạihoá đất nước, đều nhất thiết phải coi trọng công tác giáo dục thể chất trongtrường học

Xuất phát từ những cơ sở tư tưởng của học thuyết Mác – Lê Nin về conngười và sự phát triển toàn diện con người, về giáo dục thế hệ trẻ trong chếđộ xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đã có những quan điểm đúng đắnvà xuyên suốt về giáo dục và đào tạo nói chung và GDTC trong trường họcnói riêng Từ nguyên lý GDTC Macxit và tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về thể dục thể thao (TDTT), GDTC đã được Đảng và Nhà nước

ta định hướng và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo Trong từng thời kỳcách mạng, tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn, Đảng và Nhànước luôn luôn coi trọng công tác GDTC, luôn lãnh đạo trực tiếp bằng việchoạch định đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách, kiểm tra đôn đốcthực hiện đường lối GDTC do mình đề ra và được thể hiện trong các Chỉ thị,Nghị quyết của Đảng về công tác GDTC xuyên suốt mọi thời kỳ

Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992, tạiđiều 41 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý sự phát triển thể dục thểthao, quy định chế độ thể chất bắt buộc trong trường học, khuyến khích vàgiúp đỡ phát triển các tổ chức thể dục thể thao tự nguyện của nhân dân, tạođiều kiện cần thiết không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quầnchúng, chú trọng thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao”

Trang 14

Chỉ thị 17/CT-TW ngày 23/10/2002 về sự phát triển TDTT đến năm

2010 của bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) nêu rõ “ …đẩy mạnh công tácTDTT trường học , tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC” Qua nghiêncứu khảo sát 48 tỉnh, thành phố đến nay với sự cố gắng chung của toàn ngànhGiáo dục và Đào tạo từ trung ương đến cơ sở, với sự quan tâm chỉ đạo và đầu

tư của chính phủ và chính quyền nói chung, công tác GDTC trường học đã cóbước phát triển đáng khích lệ góp phần tích cực vào thành tích chung trong sựnghiệp Giáo dục và Đào tạo, nâng cao thể trạng tầm vóc của người Việt nam

Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg của thủ tướng chính phủ về đổi mớichương trình phổ thông; chỉ thị số 40-CTTW ngày 15/06/2004 của ban bí thưvề xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục

Trong “Chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm2020”, nhiệm vụ cụ thể phát triển thể dục, thể thao trường học của nước ta là:Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khoá, phát triển hoạt độngthể dục thể thao ngoại khoá…

Luật giáo dục năm (2005), luật thể dục, thể thao (2006) đều nhấn mạnhgiáo dục con người phát triển toàn diện về trí, đức, thể, mỹ trong đó có vai tròquan trọng của giáo dục thể chất và thể thao trường học Theo đó, nhiều chủtrương, chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo và ngành thể dục thể thao đã banhành có liên quan đến phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học [9]

Gần đây nhất, trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm

2011 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nhấn mạnh cầnxây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thaotrường học đến năm 2020”.Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc ngườiViệt Nam giai đoạn 2011-2030, trong đó có “Chương trình phát triển thể lực,tầm vóc bằng giải pháp tăng cường giáo dục thể chất đối với học sinh từ 03đến 18 tuổi” Chương trình chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2011-

Trang 15

2020, giai đoạn 2 từ 2021-2030 Trong một số nội dung hoạt động củachương trình có hoạt động đổi mới giảng dạy thể dục nội khoá và phát triểnthể dục thể thao ngoại khoá Về thể dục thể thao ngoại khoá: thực hiện 2 tiếtngoại khoá/tuần ở tất cả các bậc học, cấp học có hướng dẫn của giáo viênhoặc hướng dẫn viên, giáo viên kiêm nhiệm

1.2 Khái niệm và các quan điểm về giảng dạy, huấn luyện kỹ thuật thể dục thể thao [10].

Bất cứ hoạt động vận động nào cũng có một nhiệm vụ vận động, tức làmột mục đích cụ thể nào đó cần đạt được Ví dụ, mục đích trực tiếp của nhảy

xa là vượt khoảng cách xa nhất định, của nhảy cao là vượt được độ cao nàođó Một hành vi vận động thường bao gồm một hệ thống các cử động (hayđộng tác) Cách thức thực hiện hành vi vận động - tức là tổ chức các động táctheo một trình tự và kiểu cách nhất định, trước hết tuỳ thuộc vào nhiệm vụvận động và các điều kiện khách quan và chủ quan khi thực hiện Ví dụ, đểđẩy tạ đi xa hơn phải sắp xếp các động tác khác với khi ném đĩa Trong nhiềutrường hợp, cùng một nhiệm vụ vận động lại có những cách thức thực hiệnkhác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện đặc điểm riêng của từng người học

Kỹ thuật bài tập là cách thức sắp xếp, tổ chức và thực hiện hệ thống cácđộng tác để giải quyết nhiệm vụ vận động, hoặc nói ngắn gọn hơn, đó lànhững cách thức để giải quyết nhiệm vụ vận động Những cách thức giảiquyết nhiệm vụ vận động hợp lý và có hiệu quả được gọi là kỹ thuật thể thao

Kỹ thuật thể thao luôn luôn được đổi mới và hoàn thiện Sự tìm tòi,khám phá khoa học về các quy luật vận động của cơ thể, sự tiến bộ về trình độthể lực của người học, sự hoàn thiện các phương pháp giảng dạy, huấn luyện,sự đổi mới các thiết bị, dụng cụ, sân bãi thể thao đang là những nhân tố chủyếu thúc đẩy sự ra đời các kỹ thuật thể thao mới trong hầu hết các môn thểthao

Trang 16

Mỗi loại hình bài tập (ở đây chủ yếu nói về các môn thể thao) có nhữngyêu cầu chuyên biệt về mặt kỹ thuật thể thao Xét theo các yêu cầu chuyênbiệt đó, có thể phân tích chia các môn thể thao thành ba nhóm.

Nhóm thứ nhất bao gồm các môn thể thao có quy định chặt chẽ cáchthức thực hiện động tác, như các môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật,nhào lộn, nhảy cầu, một số môn võ thuật (wushu) biểu diễn

Nhóm thứ hai phần lớn gồm các môn vận động có chu kỳ, trong đó kỹthuật phụ thuộc vào yêu cầu đạt thành tích ở mức tối đa, như các môn cử tạ,điền kinh, bơi, đua xe đạp, chèo thuyền Trong các môn thể thao này, có thểsáng tạo ra các kiểu kỹ thuật phù hợp trong phạm vi luật thi đấu cho phép

Nhóm thứ ba gồm tất cả các môn thi đấu đối kháng và các môn bóng.Đó là những môn đòi hỏi sự biến hoá nhiều trong chiến thuật, kỹ thuật thựchiện các động tác cho phù hợp với các tình huống luôn luôn thay đổi do sự tácđộng qua lại với đối thủ và các điều kiện khác

Các bài tập TDTT, đặc biệt là các bài tập thể thao, thường bao gồm mộthệ thống khá phức tạp các động tác có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong hệthống đó, không phải tất cả các động tác đó đều quan trọng như nhau Vì vậy,trong lý luận và thực hành Giáo dục thể chất người ta thường phân biệt phần

cơ bản của kỹ thuật, khâu chủ yếu của kỹ thuật và các chi tiết kỹ thuật bài tập

Phần cơ bản của kỹ thuật là phần mà mối quan hệ của các động táctương đối ít biến đổi, cần thiết phải có đủ để giải quyết nhiệm vụ vận động.Trong đó, nếu thiếu hoặc làm sai một động tác nào đó, hoặc mối quan hệ nàođó thì sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ vận động

Khâu chính của kỹ thuật là phần quan trọng và có ý nghĩa quyết địnhnhất trong kỹ thuật Ví dụ, giậm nhảy trong nhảy cao, nhảy xa; ra sức cuốicùng trong ném, đẩy

Chi tiết kỹ thuật là những phần (yếu tố) thứ yếu của động tác, có thểthay đổi trong những phạm vi nhất định mà không phá vỡ cơ chế chủ yếu của

Trang 17

động tác Ví dụ, trong nhảy cao, chân lăng có thể co nhiều hay ít Sự khácnhau trong chi tiết kỹ thuật chủ yếu phụ thuộc vào những đặc điểm cá nhâncủa người học và những điều kiện thực hiện bài tập

Kỹ thuật càng phù hợp với đặc điểm cá nhân thì càng có khả năng đạtthành tích cao Người ta gọi đó là sự cá biệt hoá kỹ thuật, tức là khả năng vậndụng những đặc điểm về thể lực và chừng nào đó của đặc điểm tâm lý để hìnhthành kỹ thuật phù hợp với từng người cụ thể Thông thường, người học càngcó trình độ cao thì kỹ thuật càng được cá biệt hoá Vì vậy, bắt chước kỹ thuậtcá nhân của các vận động viên ưu tú một cách mù quáng có thể ảnh hưởngxấu đến thành tích thể thao

Kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cấu trúc thành tích hầuhết của các môn thể thao

Đối với các môn thể thao sức bền: kỹ thuật bảo đảm cho việc thực hiệncác bài tập thi đấu thu được hiệu qủa cao và tiết kiệm năng lượng

Đối với các môn thể thao mang tính chất sức mạnh, sức mạnh - tốc độ,sức mạnh tối đa, kỹ thuật là cơ sở để người học có thể phát huy sức mạnh mộtcách nhanh nhất và lớn nhất

Đối với các môn thể thao có kỹ thuật phức tạp thì kỹ thuật là yếu tốquyết định trực tiếp đối với thành tích

Từ những ý nghĩa trên cho thấy rằng huấn luyện kỹ thuật có thể đượccoi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của huấn luyện thể thao

Có nhiều phương pháp huấn luyện kỹ thuật thể thao khác nhau, bởi lẽmỗi một môn thể thao có những cấu trúc kỹ thuật khác nhau và có những yêucầu khác nhau về kỹ thuật Để đạt được thành tích tốt nhất trong Điền kinh,người học phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý và hiệu quả nhất Kỹthuật phải phù hợp với đặc điểm cá nhân của người học và điều kiện thực hiệnđộng tác

Trang 18

Kỹ thuật thể thao phải dựa trên sự huấn luyện thể lực tốt nhất của ngườihọc Để nắm được kỹ thuật hiện đại, người học phải có các tố chất vận độngnhư sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ mềm dẻo và khả năng phối hợp vậnđộng phát triển ở mức độ cao.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình huấn luyện kỹthuật và phát triển năng lực đó là phải biết vận dụng các biện pháp nhằm đơngiản hoá kỹ thuật, thực hiện bằng cách phân chia nhỏ và sử dụng các bài tậpbổ trợ kỹ thuật người học phải hiểu rõ từng động tác, không được lặp lạiđộng tác của ai đó hoặc làm theo lời khuyên của ai đó một cách máy móc, màphải tích cực suy luận để hiểu rõ vì sao kỹ thuật mà mình áp dụng là thực sựhợp lý Cần phải nâng cao tính tích cực của VĐV

Trong khi trình độ thành tích thể thao đang ở mức rất cao, nếu khôngnghiên cứu sâu để ngày càng hoàn thiện kỹ thuật thì không thể đạt được thànhtích cao, nhất là những môn có kỹ thuật phức tạp, việc hoàn thiện kỹ thuậtphải được tiến hành trong suốt quá trình giảng dạy, huấn luyện Giáo viên,Huấn luyện viên không được bỏ qua việc giảng dạy các thành phần kỹ thuậtriêng lẻ, khắc phục các sai lầm trong kỹ thuật Vốn dự trữ kỹ năng của ngườihọc càng nhiều thì việc hoàn thiện kỹ thuật càng có hiệu quả Vốn dự trữ kỹnăng vận động tạo nên thông qua áp dụng các bài tập huấn luyện chung vàhuấn luyện chuyên môn khác nhau Điều quan trọng là phải tính đến mối quanhệ hữu cơ giữa việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiệnkỹ thuật

Việc đạt được thành tích thể thao ở mức độ đáng kể phụ thuộc vào việchuấn luyện kỹ thuật và chiến thuật thể thao hợp lý

Kỹ thuật hoàn thiện đó là tập hợp các cách thức thực hiện động tác thểthao có hiệu quả nhằm mục đích đạt được thành tích tốt nhất trong quá trìnhgiảng dạy Mức độ nắm vững kỹ thuật được thay đổi từ kỹ thuật sơ đẳng củangười mới tập đến kỹ thuật hoàn thiện được hình thành trên cơ sở các quy luật

Trang 19

sinh cơ và sinh hoá sẽ cho phép người học thực hiện các động tác và các hoạtđộng tiết kiệm hơn và có hiệu quả hơn.

Trong giảng dạy cho học sinh phổ thông, việc giảng dạy và hoàn thiệnkỹ thuật thể thao chiếm một vị trí quan trọng vì trong thời kỳ lứa tuổi của họcsinh này, chức năng của hệ thần kinh trung ương đối với việc hình thànhnhững đường liên hệ phản xạ có điều kiện vững chắc được nâng cao, hoạtđộng của hệ thống tín hiệu thứ hai của con người được đẩy mạnh Tất cả cácđiều kiện đó tạo nên khả năng đặc biệt thuận lợi để hình thành những kỹ năngkỹ xảo vận động

Quá trình tiếp thu kỹ thuật thể thao được được chia thành ba giai đoạnchủ yếu:

1 Giai đoạn học tập ban đầu

2 Giai đoạn học chuyên sâu

3 Giai đoạn củng cố và tiếp tục hoàn thiện

Ở giai đoạn học tập ban đầu cần giải quyết nhiệm vụ nắm vững các cơsở của kỹ thuật thể thao hợp lý (cấu trúc động tác hợp lý, không có nhữngcăng thẳng thừa ) Ở giai đoạn học chuyên sâu, kỹ thuật động tác nắm đượcở giai đoạn đầu được nâng lên ở mức tương đối hoàn thiện Ở giai đoạn củngcố và tiếp tục hoàn thiện cần đạt được ở mức độ nắm vững hoàn toàn cácđộng tác và thực hiện việc trau chuốt các yếu tố riêng biệt của kỹ thuật thểthao

Trong các môn thể thao phức tạp về kỹ thuật thì việc hình thành kỹthuật là nhiệm vụ hàng đầu và do đó, thời gian dành cho kỹ thuật ở các buổitập sẽ nhiều hơn để nắm vững được các động tác và các yếu tố kỹ thuật Vàođầu giai đoạn huấn luyện chuyên sâu, các cơ sở kỹ thuật của môn thể thaochính đã được nắm vững và người học bắt đầu củng cố chúng một cách vữngchắc Trong giai đoạn này, nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo nắm vững kỹ thuật

Trang 20

thể thao hoàn hảo trong các điều kiện khó khăn, cá biệt hoá kỹ thuật, pháttriển những phẩm chất thể lực và ý chí có tác dụng hoàn thiện trình độ điêuluyện về kỹ thuật, chiến thuật của người học Giai đoạn củng cố và tiếp tụchoàn thiện kỹ thuật thể thao diễn ra càng có kết quả thì những sai sót mà cácngười học phạm phải càng được khắc phục nhanh hơn Đầu tiên cần sửa chữanhững sai sót chủ yếu vì những sai sót thứ yếu thường do những sai sót chủyếu gây ra

1.3 Khái niệm Bài tập thể chất [10]

Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao, bài tập thể chất là mộtphương tiện quan trọng để giáo dục kỹ năng nâng cao thể chất và thành tíchthể thao

Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), NguyễnToán, Phạm Danh Tốn (Việt Nam) thì “Bài tập thể chất là những hoạt độngvận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủđích phù hợp với các quy luật giáo dục thể chất”

Các bài tập thể chất trong quá trình huấn luyện thể thao được phân loạitheo các quan điểm khác nhau Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp,Mátvêép và các nhà khoa học huấn luyện học như PhiLim, Điền Mạnh Cửu thì Bài tập thể chất có thể được chia thành 3 loại chính là bài tập thi đấu, bàitập chuyên môn, và bài tập phát triển chung Sự phân chia này phải dựa trênđặc điểm môn chuyên sâu và nhiệm vụ của loại bài tập đó trong giải quyết cácnhiệm vụ chung hoặc từng phần riêng lẻ”

Cũng theo các nhà khoa học trên thì bài tập thi đấu là loại hình bài tậpmà các động tác của nó có quá trình vận động và có đặc điểm riêng về lượngvận động phù hợp với yêu cầu thi đấu của môn thể thao chuyên sâu

Các bài tập chuyên môn lại được chia thành 2 nhóm là:

Các bài tập chuyên môn nhóm 1 và các bài tập chuyên môn nhóm 2.Trong đó các bài tập nhóm 1 gồm những bài tập có quá trình chuyển động gần

Trang 21

giống với bài tập thi đấu nhưng có cường độ vận động thấp hơn song khốilượng vận động có thể lớn hơn.

Các bài tập nhóm 2 gồm các bài tập có hình thức vận động giống vậnđộng trong thi đấu, trong đó yêu cầu những nhóm cơ chủ yếu có hoạt độnggiống như hoạt động khi thi đấu

“Các bài tập phát triển chung” là các bài tập được chon ra từ các bài tậpở các môn thể thao khác có tác dụng phát triển các năng lực nhanh mạnh bềnkhéo dẻo linh hoạt của cơ thể người tập Các bài tập này không hàm chứa yếutố của các động tác trong thi đấu môn chuyên sâu

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT (16-18 tuổi)

Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộphận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm dần Chức năngsinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ cơ quan trong cơthể cũng được nâng cao hơn, phát triển chiều ngang nhiều hơn, chiều cao vẫnphát triển nhưng chậm dần

Sự phát triển của nam và nữ lứa tuổi thanh niên 15 - 16 có sự khác biệtrõ rệt về tầm vóc, khả năng hoạt động thể lực và tâm lý

1.4.1 Đặc điểm về sinh lý ở lứa tuổi học sinh THPT(16 – 18 tuổi)

[7]

Hệ thần kinh

Hệ thần kinh được tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện Khả năng tưduy, khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo thuậnlợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểmthuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác.Tuy nhiên, một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm chocác em nhanh chóng mệt mỏi Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện mộtcách phong phú đặc biệt tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi để gây sự

Trang 22

hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính, nhất là bài tập vềsức bền.

Ngoài ra do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyếnyên, làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữa hưng phấnvà ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Đặc biệt ở các

em nữ tính nhịp điệu giảm sút nhanh, khả năng chịu đựng lượng vận độngyếu Vì vậy giáo viên cần phải sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyênquan sát phản ứng cơ thể sinh học để có biện pháp giải quyết kịp thời

Hệ vận động

Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển Mỗi năm Nữ cao thêm 1cm, nam cao thêm 1-3 cm Tập luyện thể dục thể thao một cách thườngxuyên liên tục làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn Ở lứa tuổi này, các xươngnhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tậpluyện một số động tác treo chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn hạihoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hìnhdáng, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo Cho nên việctiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như: đi, chạy,nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục cơ bản… cho các em vẫn hết sức cần thiết vàkhông thể xem nhẹ

0,5-Riêng đối với các em Nữ, xương xốp hơn các em nam, ống tủy rỗnghơn, chiều dài xương ngắn hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn, nên xương củaNữ không khỏe bằng nam Đặc biệt xương chậu của nữ to và yếu Vì thế trongquá trình GDTC không thể sử dụng các bài tập có khối lượng vận động vàcường độ vận động như Nam mà phải có sự phù hợp với đặc điểm giới tính

Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còntương đối yếu, các (cơ bàn tay, ngón tay) phát triển chậm hơn Các cơ co pháttriển sớm hơn các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lại càng yếu Đặc biệt vào tuổi

Trang 23

16 các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh nên ảnh hưởng đến việctriển sức mạnh của cơ thể

Do vậy cần tập những bài tập phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩysự phát triển các cơ Nhưng các bài tập không nên có treo hoặc chống đơnthuần mà phải là những bài tập kết hợp giữa treo và chống cùng với những bàitập khắc phục lực đối kháng khác nữa Tập như vậy vừa phát triển các cơ co,

cơ duỗi vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập liên tục trong thờigian dài Các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cảcác loại cơ (to, nhỏ) đều được phát triển Nhưng đối với nữ cần yêu cầu riêngbiệt, tính chất động tác của nữ cần yêu cầu toàn diện mang tính mềm dẻo nhịpđiệu và khéo léo

Hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn ở lứa tuổi này đang phát triển và đi đến hoàn thiện, buồngtim phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam là 70-80 lần/phút, củanữ 75-85 lần/phút, hệ thống điều hoa vận mạch phát triển tương đối hoànthiện Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sauvận động, mạch đạp và huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Cho nênlứa tuổi này cần tập trung những bài tập chạy dai sức và những bài tập cócường độ vận động và lượng vận động tương đối lớn hoặc các bài tập pháttriển sức bền cần phải thận trọng và thường xuyên kiểm tra theo dõi trạng tháisức khỏe các em

Hệ hô hấp.

Đã phát triển và tương đối hoàn chỉnh, vòng ngực trung bình của namtừ 67-72cm, nữ từ 69-74cm Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100-120cm2gần bằng tuổi trưởng thành Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng: lúc 15tuổi từ 2- 2,5 lít đến 16-18 tuổi 3-4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn 10-

20 lần / phút Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức co giãn của lồngngực ít chủ yếu là co giãn cơ hoành Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung

Trang 24

chú ý thở bằng ngực Các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tácdụng tốt đến phát triển hệ hô hấp.

1.4.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT(16 – 18 tuổi) [12] Về mặt tâm lý: Các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọi

người tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năngphân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão, nhưng còn nhiềunhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống

Tuổi này chủ yếu là hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thànhtính cách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi của lãng mạn, mơ ước độcđáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là tuổi đầy nhu cầu sáng tạo, nảynở những tình cảm mới, trong đó mối tình đầu thường để lại dấu vết trongsáng trong suốt cuộc đời

Hứng thú: các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất

phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề sau khi họcxong trung học phổ thông Song hứng thú học tập cũng còn do nhiều động cơkhác như: giữ lời hứa với bạn, đôi khi do tự ái, hiếu danh Cho nên giáo viêncần định hướng cho các em xây dựng động cơ đúng đắn để các em có đượchứng thú bền vững trong học tập nói chung và trong giáo dục thể chất nóiriêng

Tình cảm: So với học sinh cấp tiểu và trung học cơ sở, học sinh trung

học phổ thông biểu lộ rõ rệt hơn tình cảm gắn bó và yêu quý mái trường màcác em sắp từ giã đặc biệt đối với những giáo viên giảng dạy các em Việcgiáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một sự thành công Điều đógiúp giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy, nó thúc đẩy các em tíchcực, tự giác trong tập luyện và ham thích môn thể dục thể thao Do vậy, giáoviên phải là người mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và quan tâmđúng mực với học sinh và tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm củahọc sinh

Trang 25

Trí nhớ: Ở lứa tuổi này hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy

móc do các em đã biết ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặtchẽ hơn và lĩnh hội được bản chất của vấn đề học tập Do đặc điểm của trínhớ đối với lứa tuổi học sinh trung học phổ thông khá tốt nên giáo viên có thểsử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu sắc cácchi tiết kỹ thuật động tác và vai trò ý nghĩa cũng như phương pháp sử dụngcác phương tiện, phương pháp trong quá trình giáo dục thể chất để các em cóthể tự tập một cách độc lập trong thời gian nhàn rỗi Các phẩm chất ý chí rõràng hơn và mạnh mẽ hơn học sinh các lứa tuổi trước đó Các em có thể hoànthành được những bài tập khó và đòi hỏi sự khắc phục khó khăn lớn trong tậpluyện

1.5 Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng [1], [5], [6], [8]

1.5.1 Cơ sở nguyên lý kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng

Theo cơ học, độ cao khi bay của một vật được bắn trong chân khônghợp với mặt phẳng nằm ngang một góc α được tính theo công thức:

2 0

V sin 2H

2g

Trong đó:

H: Độ cao quỹ đạo bay của tổng trọng tâm

V0: Tốc độ bay ban đầu

: Góc độ bayg: Gia tốc rơi tự do (9,8m/giây2)Qua phân tích công thức ta thấy, vì g9,8m/giây2 luôn là hằng số nênhai yếu tố V0 và là hai yếu tố quyết định đến độ cao quỹ đạo bay của tổngtrọng tâm

Trong thực tế nhảy cao, do thành tích là mức xà mà người nhảy vượtqua được nên ngoài tốc độ bay ban đầu, góc bay thì độ cao của tổng trọng tâm

Trang 26

cơ thể khi bay và kỹ thuật qua xà hợp lý của người nhảy cũng là những nhântố có ảnh hưởng tới thành tích của lần nhảy.

Các môn nhảy đều có đặc điểm là cần kéo dài giai đoạn bay nhờ hiệuquả của chạy lấy đà và giậm nhảy Song các môn nhảy đều có yêu cầu có yêucầu rất khác nhau về kỹ thuật Qũy đạo của trọng tâm cơ thể phụ thuộc vàotừng kiểu nhảy Quỹ đạo chuyển động phụ thuộc vào hai yếu tố: tốc độ bayban đầu và góc độ bay hợp lý

1.5.2 Kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng.

Mỗi một môn nhảy bao gồm nhiều động tác liên kết hoàn chỉnh.Người ta chia kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng gồm 4 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn chạy đà và chuẩn bị giậm nhảy

- Giai đoạn giận nhảy

- Giai đoạn bay trên không

- Giai đoạn rơi xuống đất

1.5.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và chạy đà.

Tư thế chuẩn bị trước khi chạy đà có sự ảnh hưởng lớn đến sự ổn địnhcủa chạy và giậm nhảy Vì vậy người nhảy cần có tư thế chuẩn bị cố định và

tư thế ấy phải trở thành thói quen Thông thường có hai tư thế chuẩn bị chạylấy đà:

Bắt đầu chạy đà gần như ở tư thế xuất phát cao

Đi thường đến vạch kiểm tra rồi chuyển vào chạy đà

Cự ly chạy đà trong nhảy cao thường từ 7-11 bước chạy Kỹ thuật chạyđà của nhảy cao cũng dựa trên kỹ thuật cơ bản của động tác chạy, nhờ lực đạpsau tích cực, tốc độ được tăng dần trong từng bước chạy, động tác thoải mái,tự nhiên Đến 3-4 bước cuối cùng, tốc độ tăng dần, gót chân chạm đất trướcrồi nhanh chóng chuyển lên mũi chân, độ ngả về trước của thân trên cũnggiảm dần đến một mức nhất định để chuẩn bị cho động tác giậm nhảy

Trang 27

Hướng chạy đà chếch so với hố nhảy và tọa với cạnh hố nhảy một góc từ30-400 Người nhảy kiểu nằm nghiêng lấy đà phía chân giậm nhảy (nếu ngườinhảy đứng đối diện với hố cát).

Xác định vị trí giậm nhảy: đo từ trung điểm của cạnh hố nhảy về phía cộtnhảy gần bên chạy lấy đà 4- 5 bàn chân, sau đó đo tiếp về phía khu vực chạyđà theo đường thẳng vuông góc với cạnh hố nhảy từ 2,5- 3,5 bàn chân Nhưvậy vị trí giậm nhảy đã được xác định

1.5.2.2 Giai đoạn giậm nhảy.

Giai đoạn giậm nhảy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chuyển tốc độnằm ngang sang tốc độ thẳng đứng đồng thời quyết định góc độ bay Động tácgiậm nhảy chỉ cho phép thực hiện trong khoảng thời gian rất ngắn vì vậy phảinắm vững kỹ thuật giậm nhảy mới nâng cao được thành tích (thời gian giậmnhảy khoảng 0,17- 0,18 giây)

Động tác giậm nhảy được bắt đầu thực hiện ở bước cuối cùng của chạyđà Cùng với hiệu lực đạp đất của chân trụ, các nhóm cơ ở hông, đùi, cẳngchân tích cực co, duỗi , nhanh chóng đưa gót bàn chân giậm nhảy tiếp xúc vớiđất với thân trên gần một đường thẳng, tạo với mặt đất một khoảng 500, haitay đánh ra phía sau Lúc này thân trên hơi ngả về phía sau do chân giậm nhảyvà hông cùng bên chủ động đưa về phía trước

Sau khi đặt chân giậm, theo quán tính thân người tiếp tục chuyển độngvề phía trước, đến phương thẳng đứng chân giậm khuỵu gối, hạ trọng tâmthấp mức nhất định như sự nén lại của chiếc lò xo Tiếp theo động tác phốihợp giậm nhảy được thực hiện như sau: chân giậm đạp duỗi thẳng lên, chânlăng đá thẳng qua điểm dọi của tổng trọng tâm cơ thể và đưa hông cùng bênlên cao đồng thời hai cánh tay đánh từ phía sau ra trước, lên cao tích cực gópphần nâng tổng trọng tâm cơ thể Khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất, thântrên vươn lên và gần như ở tư thế thẳng đứng

Trang 28

1.5.2.3 Giai đoạn trên không qua xà.

Mục đích của giai đoạn này nhằm đưa lần lượt từng bộ phận của cở thể qua xà ngang Bộ phận đầu tiên vượt qua xà đầu tiên thường là chân lăng Vì vậy, động tác của chân lăng có ý nghĩa quan trọng trong kỹ thuật bay trên không và qua xà Góc độ chạy đà cũng như kiểu nhảy bước qua nhưng hướng chạy đà ngược lại, tức là xác định sao cho chân giậm nhảy phía trong, chân lăng ở phía ngoài so với xà ngang

Sau khi giậm nhảy chân lăng đá xuôi theo xà, bàn chân được xoay épvào phía trong, vai phía chân lăng cao hơn phía chân giậm, thân trên nghiêngvề phía xà Khi chân lăng vượt qua xà, chân giậm nhanh chóng thu gọn, gậplại ở khớp gối và đưa lên sát ngực Toàn thân hình thành tư thế như nằmnghiêng trên xà ngang, sau đó chủ động ép vai phía chân lăng xuống dưới, hơiđá gót phía chân lăng về phía trên, rơi xuống hố cát bằng chân giậm nhảy vàcó thể chống xuống đất bằng cả hai tay

1.5.2.4 Giai đoạn tiếp đất và kết thúc.

Để đạt được độ cao tối đa của mỗi lần nhảy, người nhảy không chỉ cốgắng thực hiện kỹ thuật hoàn hảo ở các giai đoạn chạy đà, giậm nhảy, baytrên không mà còn phải thực hiện đúng kỹ thuật rơi xuống hố cát Khi rơixuống phải hoãn xung phải chùng các khớp chân, đầu gối và chống bằng cảhai tay ở mức xà cao (nếu xà thấp chỉ rơi bằng chân giậm là đủ)

1.6 Các tố chất thể lực đặc trưng trong kỹ thuật nhảy cao [10], [5]

Là một hoạt động không có chu kỳ bao gồm nhiều động tác được liênkết với nhau một cách chặt chẽ với mục đích sử dụng, sự nỗ lực của cơ bắp đểđưa cơ thể vượt qua khoảng cách với độ cao tối đa, ngoài sự phát triển thể lựctoàn diện, nhảy cao còn đòi hỏi người tập phải có một số tố chất thể lực đặcthù riêng

Đặc điểm các môn nhảy nói chung và môn nhảy cao nói riêng là cầnphải kéo dài khoảng cách bay trên không do quá trình chạy đà và giậm nhảy

Trang 29

tạo nên Quỹ đạo của trọng tâm cơ thể của người nhảy lúc trên không phụthuộc vào ba yếu tố chính: tốc độ chạy đà, lực giậm nhảy và gốc độ giậmnhảy Nhiệm vụ chủ yếu của quá trình chạy đà là nhằm tạo ra tốc độ nằmngang lớn cần thiết Quá trình giậm nhảy vừa có nhiệm vụ tạo ra tốc độ thẳngđứng, vừa có nhiệm vụ tạo ra gốc độ trên không thích hợp.

Chính vì vậy, có thể nói rằng: Thành tích thể thao của vận động viênnhảy cao phụ thuộc chủ yếu vào hai quá trình này Để tạo ra được tốc độ chạyđà và sức mạnh giậm nhảy lớn đòi hỏi người tập phải có năng lực sức mạnhvà sức mạnh chuyên môn Tất nhiên để thực hiện kỹ thuật chính xác và cóhiệu quả trong các giai đoạn kỹ thuật nói chung và giai đoạn trên không nóiriêng, người học không thể thiếu khả năng phối hợp vận động

Phân tích nguyên lý, đặc điểm kỹ thuật, tính chất hoạt động của nhảycao và nghiên cứu mối tương quan giữa các tố chất thể lực chuyên môn vớithành tích, các nhà chuyên môn cho rằng, các tố chất thể lực đặc trưng củavận động viên nhảy cao bao gồm: Sức nhanh, sức mạnh tốc độ và khả năngphối hợp vận động

1.6.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh.

Sức nhanh là một tố chất thể lực của con người Đó là khả năng thựchiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất Sức nhanh có thể biển hiện ởdạng đơn giản và ở dạng phức tạp Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm:thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ và tần số hoạt động cụcbộ

Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện hoạt động thể thaophức tạp khác nhau như chạy 100m, tốc độ ra tay trong các môn ném đẩy,quyền anh hay các môn võ Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặtchẽ với kết quả của sức nhanh ở dạng phức tạp Thời gian phản ứng, thời giancủa một động tác đơn lẻ hoặc tần số động tác sẽ càng cao Song các dạng biểuhiện sức mạnh đơn giản lại phát triển tương đối độc lập với nhau Thời gian

Trang 30

phản ứng có thể rất tốt nhưng động tác riêng lẻ lại chậm hoặc tần số động táclại thấp Vì vậy sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: Thờigian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động Yếu tốquyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh nêu trên là độ linh hoạt củacác quá trình thần kinh và tốc độ co cơ.

Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanhchóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh Ngoài ra, độlinh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong cả dâythần kinh ngoại vi Sự thay đổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế làm cho cácnơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao và làm cho đơn vịvận động thả lỏng nhanh, đó là yếu tố tăng cường tốc độ và tần số động tác.Tốc độ hưng phấn của tế bào thần kinh còn ảnh hưởng trực tiếp tới thời kỳtiềm tàng và cùng với tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinhngoại vi, chúng quyết định thời gian phản ứng

Theo một số tác giả hàm lượng ATP và CP có thể tăng thêm 10-30%(Kox.I.H) Theo N.N.Iacoplep, tốc độ co cơ phụ thuộc vào hoạt tính của menphân giải tổng hợp ATP và CP Tập luyện tốc độ có thể làm tăng hoạt tính củacác loại men này

Trong hoạt động thể dục thể thao, tốc độ và sức mạnh có liên quan mậtthiết với nhau Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ đến sức nhanh.Trong nhiều môn thể thao, kết quả hoạt động không phụ thuộc vào sức nhanhhay sức mạnh riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa hai yếu tốnày (các môn ném, đẩy, nhảy, chạy ngắn)

Như vậy sức nhanh chỉ phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của thầnkinh và tốc độ co cơ Cả hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đó, mặc dù có biến đổidưới tác dụng của luyện tập, nhưng nói chung đều là những yếu tố quyết địnhbởi đặc điểm di truyền Do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổichậm hơn sức mạnh và sức bền Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh là tăng

Trang 31

cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh vàbộ máy vận động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng caotốc độ thả lỏng, các yêu cầu trên có thể đạt được bằng cách sử dụng các bàitập tần số cao, trọng tải nhỏ, có thời gian nghỉ dài.

1.6.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ và sức mạnh bột phát.

Hoạt động của sức mạnh tốc độ bao gồm các dạng bài tập thể lực nhằmtạo cho một trọng tải ổn định, một vận tốc lớn nhất Ví dụ: trong các mônnhảy trọng lượng cơ thể vận động viên không thay đổi, độ cao hoặc độ xa củathành tích nhảy phụ thuộc vào tốc độ chạy đà, độ chính xác và lực giậm nhảy.Trong các môn ném đẩy, trọng lượng của dụng cụ cũng ổn định vận độngviên cần phải tác động một lực tối đa trong thời gian tối thiểu Các hoạt độngsức mạnh tốc độ bao giờ cũng có một số động tác tạo đà có thể biến đổi vềbiên độ hình thức cũng như lực giậm nhảy Trong các hoạt động sức bền tốcđộ vận động viên cần phải gắng sức ở mức tối đa Ngoài ra, hoạt động loạinày còn đòi hỏi cơ phải có tính linh hoạt và phối hợp rất cao trong một thờigian ngắn, vì vậy còn gọi là hoạt động sức mạnh bộc phát

Nhìn chung hoạt động sức mạnh tốc độ tác động đến trạng thái cơ thểtương đối yếu Trong các bài tập sức mạnh tốc độ, hệ máu của vận động viênhầu như không có gì biến đổi rõ rệt Trong các môn nhảy, tần số tim có thểlên tới 140-150 lần/1 phút Đặc biệt quan trọng nhất là nhịp tim của vận độngviên sau khi đã kết thúc các bài tập sức mạnh tốc độ Huyết áp của vận độngviên tăng lên không cao lắm nhất là huyết áp tối đa (150-160mHz) Tần số hôhấp tăng lên không đáng kể sau khi kết thúc hoạt động, thể tích hô hấp và hấpthụ oxy tăng lên ít nhiều Các bài tập sức mạnh tốc độ là các bài tập có côngsuất lớn được thực hiện trong thời gian ngắn Vì vậy năng lượng được sửdụng chủ yếu là do phân giải ATP và CP dự trữ trong cơ Nhu cầu oxy đượcthỏa mãn trong quá trình hoạt động làm cho cơ nợ oxy lên tới 95% Song do

Trang 32

thời gian ngắn nên tổng hợp oxy không lớn lắm Nợ oxy vào khoảng 20-30 líttrong hoạt động kéo dài 1 phút Chức năng cơ quan bài tiết và điều hòa thânnhiệt biến đổi không đáng kể trong các hoạt động sức mạnh tốc độ.

Sức mạnh bộc phát là một dạng sức mạnh tốc độ Đó là khả năng conngười phát huy một lực lớn trong khoảng thời gian ngắn nhất Để đánh giásức mạnh bột phát, người ta thường dùng chỉ số sức mạnh tốc độ

ax ax

m m

F I

t

Trong đó: I : là chỉ số sức mạnh tốc độ

Fmax : là lực tối đa phát huy trong động tác

tmax : là thời gian đạt được trị số lực tối đa

1.6.3 Sức nhanh và phương pháp phát triển sức nhanh.

Sức nhanh là tổ hợp những đặc tính chức năng của con người, xác địnhtrực tiếp và chủ yếu tính chất nhanh của động tác, cũng như xác định thời gianphản ứng của vận động

Người ta phân biệt ba hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như sau:

- Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động

- Tốc độ động tác đơn

- Tần số động tác

Sức nhanh biểu hiện ở dạng phức tạp, đó là thời gian thực hiện các hoạtđộng thể thao, các hoạt động khác như chạy 100m, tốc độ dẫn bóng, tốc độđấm trong môn quyền anh… Vì vậy sức nhanh là một tố chất tổng hợp của bayếu tố cấu thành: thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần sốhoạt động

Cơ sở sinh lý của sức nhanh:

Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động gồm 5 thành phần:

- Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ

Trang 33

- Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương

- Dẫn truyền hưng phấn trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu lytâm

- Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ

- Hưng phấn cơ và hoạt động cơ tích cực

Người ta thừa nhận rằng, yếu tố quyết định tốc độ tất cả các dạng sức nhanhlà độ linh hoạt của quá trình thần kinh, tức là phụ thuộc vào tốc độ chuyểntrạng thái hưng phấn, ức chế của trung khu vận động và tố độ co cơ, tức làphụ thuộc vào tỷ lệ sơi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ

Theo quan điểm sinh hóa, sức nhanh phụ thuộc vào hàm lượng ATPtrong cơ và tốc độ phân giải ATP dưới ảnh hưởng của xung động thần kinhcũng như tốc độ tái tổng hợp nó Vì các bài tập tốc độ diễn ra trong thời gianngắn nhất, nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực hiện theo cơ chếyếm khí Trong các bài tập như chạy 100m – 200m, bơi 25m – 50m thì 90%năng lượng hoạt động của cơ được tạo ra do các phản ứng yếm khí Do vậy,các bài tập tốc độ tạo ra nợ dưỡng rất lớn và thời gian nợ dưỡng có thể kế kéodài hàng chục phút

Phương pháp phát triển sức nhanh.

Để giáo dục sức nhanh có thể dùng các bài tập chuyền bóng với cáchướng thay đổi đột ngột, các trò chơi vận dộng để phát triển sức nhanh vàphản ứng động tác

Trong một buổi tập thường áp dụng bài tập để phát triển sức nhanh vàođầu phần cơ bản Trong một tuần thì buổi tập tố chất sức nhanh nên bố trí vàongày đầu tiên sau ngày nghỉ và sau một ngày đối với bài tập có khối lượng ưakhí

Phương pháp cơ bản để giáo dục sức nhanh là phương pháp lặp lại,song để tránh sự đơn điệu và “hàng rào tốc độ” người ta có thể sử dụng các

Trang 34

trò chơi như: chạy tiếp sức, các trò chơi với bóng… ngoài ra còn sử dụngphương pháp thi đấu.

Trong giáo dục sức nhanh thường để phá vỡ “hàng rào tốc độ” có thểáp dụng các bài tập: chạy xuống dốc, chạy theo người có tốc độ nhanh hơn,chạy theo người đạp xe, ném các dụng cụ nhẹ hoặc nặng hơn dụng cụ tiêuchuẩn…

Trong các hoạt động thể thao, tốc độ và sức mạnh có liên quan mậtthiết với nhau Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh.Trong nhiều môn thể thao, trong đó có môn nhảy xa thì kết quả hoạt động lạiphụ thuộc không chỉ vào sức nhanh hay sức mạnh riêng lẻ mà phụ thuộc vàosự phối hợp hợp lý giữa hai tố chất

1.6.4 Phương pháp giáo dục năng lực phối hợp vận động [10]

Nếu như các năng lực sức nhanh, sức mạnh, sức bền dựa trên cơ sở củahệ thống thích ứng về mặt năng lượng thì mặt năng lực phối hợp vận động lạiphụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điều khiển hành động vận động

Năng lực phối hợp của người tập được thể hiện ở mức độ tiếp thunhanh chóng và có chất lượng cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụngcác kỹ xảo về kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận độngvà kỹ xảo về kỹ thuật có điểm khác nhau cơ bản Do vậy, phát triển tốt cácnăng lực sẽ giúp cho con người (đặc biệt là trẻ em) sau này có thể thực hiệnmột cách nhanh chóng, chính xác, hợp lý và đẹp các hoạt động vận độngtrong đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, trong lĩnh vực quốc phòngvà đặc biệt có ý nghĩa hơn trong hoạt động thể thao

Việc lựa chọn các phương tiện tập luyện nhằm phát triển khả năng phốihợp vận động cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau:

Phương pháp chính là tập luyện, phương tiện chính là các bài tập thểlực: các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợpvận động cần yêu cầu người tập thực hiện chính xác và thường xuyên kiểm tra

Trang 35

tính chính xác của bài tập một cách có ý thức, đa dạng hóa việc thực hiệnđộng tác, thay đổi điều kiện bên ngoài, thực hiện động tác trong điều kiệnnâng cao độ khó của môi trường

Các phương pháp nhằm phát triển năng lực phối hợp vận động rấtphong phú, có thể phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện một cách có trọngđiểm từng phương pháp Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căncứ vào đặc điểm của từng năng lực cần phát triển Cần thường xuyên nângcao mức độ khó khăn về phối hợp vận động của các bài tập, vì chỉ nâng caokích thích đối với cơ thể mới tạo được trình độ thích ứng cao hơn

Các tố chất thể lực rất cần thiết để thực hiện ở tất cả các môn thể thao.Để đạt được thành tích cao trong môn nhảy cao thì ngoài việc người tập phảihội tụ đầy đủ các tố chất vận động thì còn phải có khả năng phối hợp kỹ thuậtđộng tác, khả năng lĩnh hội và tiếp thu các chi tiết kỹ thuật Vì vậy trong quátrình tập luyện ta không nên đơn thuần chỉ phát triển một số tố chất thể lực màphải biết kết hợp giữa chúng

1.7 Đặc điểm về yếu tố kỹ thuật và thể lực trong nhảy cao [5], [6] 1.7.1 Yếu tố kỹ thuật.

Kỹ thuật bài tập thể chất là những cách thực hiện động tác, mà nhờnhững cách đó nhiệm vụ thực hiện động tác được giải quyết một cách hợp lývới hiệu quả tương đối cao hơn Mục đích trực tiếp của nhảy cao là hoànthành một mức xà cao nhất Vì vậy, nhiệm vụ đối với yếu tố kỹ thuật trongnhảy cao đóng một vai trò đặt biệt quan trọng, một vận động viên có kỹ thuậttốt chiếm một tỉ lệ thành công rất lớn, khoảng 40% - 50% trong việc đạt đượcthành tích cao

Kỹ thuật của nhảy cao tương đối phức tạp, vì thế mà tính phức tạp củamôn nhảy cao thể hiện suốt trong quá trình thực hiện Trong thi đấu, vận độngviên phải thực hiện các chuyển động phối hợp nhịp nhàng giữa tốc độ cao củachạy ngắn với sức mạnh tốc độ cao của giậm nhảy kết hợp với sự hoàn thiện

Trang 36

của kỹ thuật trên không và tiếp đất những chuyển động trong nhảy cao khôngđơn giản như cách thực hiện “tự nhiên” như ta vẫn hiểu, nó đòi hỏi ngườinhảy phải thuần phục kỹ thuật theo từng chi tiết động tác, đồng thời phải phốihợp chúng lại theo thứ tự nhất định để hoàn thành mức xà cao nhất mà không

vy phạm luật thi đấu

1.7.2 Yếu tố thể lực.

Thể lực là một trong bốn nhân tố quan trọng nhất quyết định hiệu quảhoạt động của người tập Yếu tố thể lực rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộcvào công suất hoạt động, cơ cấu động tác và thời gian gắng sức Để đạt đượcthành tích cao trong nhảy cao đòi hỏi người nhảy phải đạt trình độ phát triểnthể lực toàn diện ở mức tương đối cao Trong nhảy cao, sức nhanh, sức mạnh,sức bền tốc độ chiếm một vai trò rất quan trọng, cùng với việc phối hợp giậmnhảy nhanh và mạnh phát ra một lực lớn vào điểm giậm nhảy Ngoài ra,ngưới nhảy cần phải đạt được sức bền tốc độ ở mức cao để có thể duy trì hoạtđộng liên tục trong suốt thời gian nhảy

Người ta nghiên cứu xác định rằng yếu tố thể lực đảm bảo 50% - 60%thành công trong nhảy cao Do vậy cần quan tâm đến các yếu tố cơ bản mangtính đặc thù của môn nhảy cao đó là sức nhanh, sức mạnh, tốc độ và khả năngphối hợp vận động

Ngoài ra, đối với các vận động viên có trình độ điêu luyện về kỹ thuật,có đầy đủ các tố chất về thể lực thì một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đếnthành tích nữa đó là chiều cao cơ thể

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu.

Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.

Đây là phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu có liên quan đến giảngdạy, tập luyện nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong nhảy cao kiểu “nằmnghiêng”

Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu để tổnghợp và giải quyết nhiệm vụ nêu ra trong đề tài, bao gồm:

Văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về công tác xâydựng và phát triển thể dục thể thao

Sách lí luận về phương pháp TDTT, sinh lý TDTT, sinh cơ học TDTT,sinh hóa TDTT, y học TDTT, giáo trình điền kinh, đo lường TDTT…

Từ đó rút ra những vấn đề khoa học làm tiền đề cho việc nghiên cứu, lựachọn và đánh giá hiệu quả những bài tập được áp dụng

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn.

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiêncứu khoa học về tâm lý, giáo dục sư phạm Từ những thông tin chúng tôiđưa đi phỏng vấn các chuyên gia sau khi thu được, sẽ có thêm được nhữngnguồn kiến thức, các suy nghĩ và ý tưởng để có được tầm nhìn rộng hơn Từđó chúng tôi hình thành được các giả thiết khoa học

Mục đích của chúng tôi sử dụng phương pháp này để tận dụng kinhnghiệm của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, quý thầy cô giáo, cáchuấn luyện viên để góp phần tìm ra được nguyên nhân dẫn đến sai lầm và cácbài tập sửa chữa sai lầm, các bài tập để hoàn thiện và nâng cao thành tích kỹthuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ”

Trang 38

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm.

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát việc giảng dạy của giáoviên, tập luyện của nữ học sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnhBình Định Từ đó có cơ sở để đưa ra các bài tập nhằm khắc phục sai lầmthường mắc trong học nhảy cao kiểu “Nằm nghiêng” cho Nữ học sinh khối

10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tổ chức kiểm tra sưphạm Mục đích của quá trình này nhằm kiểm nghiệm trong thực tiễn độ tincậy, tính thông báo của hệ thống các test đánh giá hiệu quả các bài tập khắcphục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “Nằm nghiêng” cho nữhọc sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, trên cơ sở của việc kiểm tra sưphạm, đề tài tiến hành xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá và sử dụngphương pháp này để kiểm tra trước và sau thực nghiệm theo từng nội dung cụthể Để làm cơ sở cho việc phân tích, rút ra kết luận chính xác cho quá trìnhtập luyện các bài tập đã được lựa chọn nhằm khắc phục sai lầm thường mắctrong kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng” cho nữ học sinh khối 10, trườngTHPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định

Kết quả các lần kiểm tra được chúng tôi trình bày ở chương 3 của đềtài

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Sau khi phỏng vấn lựa chọn các bài tập bổ trợ, chúng tôi tiến hành thựcnghiệm sư phạm đối với 28 Nữ học sinh khối 10, trường THPT Trần CaoVân, tỉnh Bình Định Được chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên và được chia thànhhai nhóm:

Nhóm thực nghiệm A: Gồm 14 học sinh nữ, học tập theo chương trìnhgiáo án mà chúng tôi đã lựa chọn

Trang 39

Nhóm đối chứng B: Gồm 14 học sinh nữ, vẫn tiến hành giảng dạy bìnhthường theo chương trình quy định chung.

Sau 6 tuần tiến hành thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu, chúng tôitiến hành kiểm tra hai lần So sánh trước và sau thực nghiệm rồi đối chiếu làmsáng tỏ hiệu quả của bài tập

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê.

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các công thức toán họcthống kê để tính toán, xử lí số liệu thống kê và đánh giá kết quả nghiên cứumột cách chính xác, nhanh chóng Các công thức sử dụng như:

Công thức 1: Tính giá trị trung bình

x: là giá trị trung bình

xi: giá trị của cá thể

n : là số lần quan sát

∑ : là kí hiệu tổng

Công thức 2: Tính độ lệch chuẩn

n

i 1 i x

x x n

  

Trong đó: x : độ lệch chuẩn

x : giá trị trung bình

xi : giá trị của cá thể

n : số lần quan sát

Công thức 3: Hệ số biến sai

Ngày đăng: 07/06/2016, 08:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.10 Tổng hợp so sánh kết quả sau thực nghiệm của hai - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.10 Tổng hợp so sánh kết quả sau thực nghiệm của hai (Trang 5)
Bảng 3.1: Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ giảng dạy,  tập luyện ở trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định. - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.1 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ giảng dạy, tập luyện ở trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định (Trang 44)
Bảng 3.4: Kết quả phỏng vấn sai lầm thường mắc khi thực hiện kỹ  thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 trường  THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn sai lầm thường mắc khi thực hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định (Trang 50)
Bảng 3.7:  Tiến trình giảng dạy nhằm khắc phục sai lầm thường  mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 –  Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định cho nhóm thực nghiệm. - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.7 Tiến trình giảng dạy nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định cho nhóm thực nghiệm (Trang 59)
Bảng 3.8 : Kết quả phỏng vấn lựa chọn Test đánh giá hiệu quả của  các bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao  kiểu “nằm nghiêng” cho nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ( n=20 ). - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn lựa chọn Test đánh giá hiệu quả của các bài tập nhằm khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng” cho nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ( n=20 ) (Trang 60)
Bảng 3.10: Tổng hợp so sánh kết quả sau thực nghiệm của hai - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.10 Tổng hợp so sánh kết quả sau thực nghiệm của hai (Trang 62)
Bảng 3.12: So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng (B) trước - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.12 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng (B) trước (Trang 65)
Bảng 3.13: So sánh số lần mắc lỗi giữa hai nhóm thực nghiệm và  đối chứng sau thực nghiệm trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng  cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định. - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM  KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT  NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10  TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bảng 3.13 So sánh số lần mắc lỗi giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w