1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương triết học đại học và cao học

18 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 38,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

triết học nguyên lý mác xít đề thi cuối kỳ học và thi phân tích các lý luận duy tâm, duy vật. bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận. Trong tiếng Anh, từ philosophy (triết học) xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại φιλοσοφία (philosophia), có nghĩa là tình yêu đối với sự thông thái. Sự ra đời của các thuật ngữ triết học và triết gia được gắn với nhà tư tưởng Hy Lạp Pythagoras. Một nhà triết học được hiểu theo nghĩa tương phản với một kẻ ngụy biện (σοφιστής). Những kẻ ngụy biện hay những người nghĩ mình thông thái có một vị trí quan trọng trong Hy Lạp cổ điển, được coi như những nhà giáo, thường đi khắp nơi thuyết giảng về triết lý, nghệ thuật hùng biện và các bộ môn khác cho những người có tiền, trong khi các triết gia là những người yêu thích sự thông thái và do đó không sử dụng sự thông thái của mình với mục đích chính là kiếm tiền.

Trang 1

CÂU 1: NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP

LUẬN BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn:

Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu

tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên

hệ qua lại giữa sự vật hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác

Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện

Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc toàn diện:

- Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải: Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên

hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vật càng tốt

- Phân loại để xác định những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định ; còn những mối liên hệ, quan

hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên, không ổn định…;

- Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) bên trong cơ bản, tất nhiên, ổn định… Để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) còn lại Qua đó xây dựng một hình ảnh về

sự vật như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…); phát hiện ra quy luật (bản chất) của nó

- Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải: Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên

hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) chi phối sự vật Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ (…) bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng… của nó Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu

tố, mặt…) của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ

Trang 2

sung để phát huy hay hạn chế hay hạn chế sự tác động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta

Liên hệ:

- Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chúng ta khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật thường xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật hay hiện tượng mà không làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật nhưng không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách

vô nguyên tắc, tùy tiện Do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinh vi

- Ví dụ trong ngành biến đổi khí hậu: nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà cần phải liên hệ nhận thức với thực tiễn cuộc sống (nhìn nhận nguyên nhân của BĐKH từ yếu tố tự nhiên, từ yếu tố con người, trước đây như thế nào, sau này như thế nào, có tuân theo quy luật nữa không? nhận thức về BĐKH

và biểu hiện của BĐKH ở hiện tại – nắng, mưa, bão tố…, quan điểm của con người trong ứng phó với BĐKH, ….) Trong xem xét phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (ứng phó với BĐKH qua các chủ thể: nhà nước, bộ, ban ngành, doanh nghiệp, quốc tế, người dân,

…) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (phát triển kinh tế, ổn định đời sống con người, sinh thái….) và lợi ích không cơ bản, phải biết phát huy hay hạn chế mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa…) từ các thành phần kinh tế, từ các tổ chức chính trị - xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn đều, tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp (tác động vào ai? đối tượng nào? Như thế nào?)

Trang 3

2 Nguyên tắc phát triển:

Cơ sở lý luận:

Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển

Nội dung nguyên lý:

Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và phát triển Phát triển mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định

Nguyên tắc phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hóa để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai, nghĩa là phải phân tích để làm rõ những biến đổi của sự vật, hiện tượng, khái quát những hình thức biểu hiện của sự biến đổi đó để tìm ra khuynh hướng biến đổi chính của nó

Nguyên tắc phát triển yêu cầu, phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy cảm với cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới đó phát triển thay thế cái cũ; phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ

Liên hệ:

Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm siêu hình, đầu óc bảo thủ định kiến, cung cách suy nghĩ xơ cứng giáo điều; nó xa lạ với sự tuyệt đối hóa một giai đoạn nào đó trong quá trình vận động của đối tượng nhận thức cũng như cả bản thân quá trình nhận thức đối tượng, nó cũng xa lạ với đầu óc trọng cổ, chủ nghĩa lý lịch, chũ nghĩa thực tại, chủ nghĩa vị lai,… Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan điểm (tư duy) siêu hình, bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình

Ví dụ: Biến đổi khí hậu là quá trình thay đổi, chuyển hóa liên tục Biểu hiện ở thời điểm hiện tại (nhiệt độ, mực nước biển, thời tiết, khí hậu,…?) và những biến đổi có thể xảy ra trong tương lai: thời tiết nóng hơn, mực nước biển cao hơn Xem xét khả năng ứng

Trang 4

phó của con người trước đây – hiện tại – sau này: thụ động, phụ thuộc vào thiên nhiên – thụ động, theo từng diễn biến – chủ động (cắt giảm ô nhiễm, cảnh báo, xây dựng công trình tránh, trú bão, lũ,…) Ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam phải gắn liền với phát triển bền vững, tận dụng các cơ hội để đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia Tiến hành đồng thời các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, trong đó ở thời kỳ đầu thích ứng là trọng tâm và chuyển dần sang giảm thiểu Ứng phó với BĐKH là trách nhiệm của toàn hệ thống; phát huy nội lực

là chính, tận dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu phải có tính hệ thống, đồng bộ, liên ngành, liên vùng, trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn và các quy định quốc tế Chiến lược về biến đổi khí hậu có tầm nhìn xuyên thế kỷ, là nền tảng cho các chiến lược khác, gắn liền với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội,…

3 Nguyên tắc lịch sử - cụ thể:

Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc lịch sử - cụ thể

*Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển cụ thể của những sự vật cụ thể trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Nghĩa là: Phải biết sự vật đã ra đời và đã tồn tại như thế nào, trong những điều kiện, hoàn cảnh nào, bị chi phối bởi những quy luật nào; Hiện giờ sự vật đang tồn tại như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh ra sao, do những quy luật nào chi phối; Trên cơ sở đó, phải nắm bắt được sự vật có thể sẽ phải tồn tại như thế nào (trên những nét cơ bản) trong tương lai

*Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp dụng cho những sự vật cụ thể, đang tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể mà không nên áp dụng những khuôn mẫu chung chung cho bất cứ sự vật nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ nào

Điều này có nghĩa là nguyên tắc lịch sử - cụ thể đỏi hỏi phải phân tích sự vật cụ thể trong những tình hình cụ thể để thấy được: Sự vật đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những chất, lượng nào; thể hiện qua những độ nào; đang (đã hay sẽ) thực hiện những bước nhảy nào để tạo nên những chất, lượng mới nào? Sự vật đang (đã hay sẽ) bị tác động bởi những mâu thuẫn nào; những mâu thuẫn đó đang nằm ở giai đoạn nào, có vai trò như thế nào đến sự vận động, phát triển của sự vật? Sự vật đang (đã hay sẽ) trải qua

Trang 5

những lần phủ định biện chứng nào; cái cũ nào đang (đã hay sẽ) phải mất đi, cái mới nào đang (đã hay sẽ) xuất hiện?

Trong mối quan hệ với những sự vật khác, những điều gì được coi là những cái riêng hay cái đơn nhất, điều gì là cái chung hay cái đặc thù / cái phổ biến; chúng quy định nhau, chuyển hóa lẫn nhau như thế nào? Bản chất của sự vật là gì, nó được thể hiện qua những hiện tượng nào; hiện tượng nào chỉ là giả tượng, hiện tượng nào là điển hình … Nội dung của sự vật là gì, nó đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những hình thức nào; hình thức nào phù hợp với nội dung của sự vật, hình thức nào không phù hợp với nội dung, cái gì làm cho nội dung của sự vật biến đổi? Trong bản thân sự vật, hiện thực là gì; hiện thực đó đang (đã hay sẽ) nảy sinh ra những khả năng nào; mỗi khả năng đó, trong những điều kiện cụ thể nào có độ tất yếu hiện thực hóa ra sao?

* Nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta phải bao được các sự kiện xảy ra trong nghiên cứu khoa học hay các biến cố xảy ra trong các tiến trình lịch sử nhân loại Tuy nhiên, nó không cho phép chúng ta kết hợp các sự kiện khoa học như những cái ngẫu nhiên thuần túy của tự nhiên hay mô tả các biến cố lịch sử như những cái vụn vặt đơn lẻ của xã hội, mà nó đòi hỏi chúng ta phải tái hiện chúng, mô tả chúng trên cơ sở vạch ra được cái tất yếu logic, cái chung (quy luật, bản chất) của chúng, chỉ ra được những trật tự nhân quả quy định chúng Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được bức tranh khoa học về thế giới, để qua đó chúng ta nhận thức được tính muôn vẻ của tự nhiên, tính phong phú của lịch sử trong sự thống nhất

Liên hệ:

Trong học tập và nghiên cứu Biến đổi khí hậu cần phải xem xét đầy đủ:

Thời điểm hình thành vấn đề Biến đổi khí hậu, diễn ra khi nào?, tốc độ ra sao? Biểu hiện trong quá khứ? Biểu hiện ở hiện tại?

Các quy luật của Biến đổi khí hậu: quy luật thời gian (Chu kỳ 20 năm – 30 năm), quy luật thay đổi về nhiệt độ, nồng độ khí nhà kính,…

Tác động với kinh tế ra sao?, Tác động với xã hội như thế nào?: ví dụ: trước đây BĐKH chưa nghiêm trọng, nhiệt độ tăng lên chậm, nắng nóng, hạn hán chỉ ảnh hưởng nhỏ đến việc sản xuất nông nghiệp Hiện tại, hạn hán, nắng nóng diễn ra thường xuyên hơn, mùa vụ bị thay đổi to lớn, thời gian gieo trồng thay đổi,…

Trang 6

CÂU 2 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LLSX VÀ QHSX

Một trong những vấn đề lớn của Triết học Mác – Lênin là quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất Chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hiểu được mối quan hệ biện chứng này sẽ giúp cho quá trình phát triển của xã hội trở nên dễ dàng hơn

1 Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, nó thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, chinh phục giới tự nhiên, là nội dung của PTSX

- LLSX bao gồm (1) người sản xuất và (2) tư liệu sản xuất

2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuất bao gồm:

+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất (quan hệ sở hữu)

+ Quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất

+ Quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó

Trong ba mối quan hệ trên thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định hai mối quan hệ kia, đồng thời tác động trở lại bằng cách thúc đẩy hay kìm hãm

3 Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX:

Lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất Tương ứng với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất phù hợp Do lực lượng sản xuất không ngừng phát triển ở một trình độ cao hơn nên quan hệ sản xuất cũng phải phát triển để tạo động lực cho lực lượng sản xuất Nhưng do lực lượng sản xuất luôn phát triển nhanh hơn quan hệ sản xuất nên đến một lúc nào đó sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, đòi hỏi phải xuất hiện quan

hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất có vai trò tác động trở lại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối Do đó nó

Trang 7

trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động Sự tác động của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng, hoặc là tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp hoặc tiêu cực, kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp Như vậy, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển phá vỡ sự phù hợp về mặt trình

độ của quan hệ sản xuất đối với nó, đòi hỏi phá bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời và thay thế bằng một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn Quá trình đó lặp đi lặp lại, tác động cho xã hội loài người trải qua những phương thức sản xuất từ thấp đến cao dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội

4 Thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Việt nam trước

và sau Đổi mới (1986)

Ở nước ta, trước thời kỳ Đổi mới, quy luật QHSX phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã không được nhận thức một cách đầy đủ, cơ chế quan liêu, bao cấp kéo dài khiến nền kinh tế trở nên trì trệ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đưa nước ta chính thức bước vào thời kỳ Đổi mới Từ đây, Đảng đã không ngừng nâng cao về nhận thức và

lý luận, áp dụng linh hoạt vào việc Đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu là đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển, được ứng dụng rộng rãi trong xã hội, năng suất lao động không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân được cải thiện

Thời kỳ trước đổi mới: (đánh giá LLSX, MQH SX, phân phối cho cả 2 thời kỳ trước và sau đổi mới)

Ảnh hưởng của chiến tranh LLSX thấp kém (trình độ, chuyên môn, ko đc đào tạo

chuyên sâu, kinh tế NN là chủ yếu)

TLSX: công cụ lao động ở nước ta thời kỳ này còn thô sơ, lạc hậu

Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (Hình thức sở hữu: kinh tế Quốc doanh và Hợp tác xã)

Sau cuộc chiến tranh bảo vệ dân tộc kéo dài, kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay lại càng gặp nhiều khó khăn hơn, lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp kém và chưa có điều kiện phát triển Trình độ người lao động rất thấp, hầu hết không có chuyên môn tay nghề, phần lớn lao động chưa qua đào tạo Lao động Việt nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, dựa trên kinh nghiệm mà cha ông để lại Trường dạy nghề rất

Trang 8

hiếm, chủ yếu chỉ xuất hiện ở Hà Nội, Sài Gòn, … Tại những đô thị lớn, trình độ của người lao động cao hơn các vùng khác trong cả nước

Tư liệu sản xuất mà nhất là công cụ lao động ở nước ta thời kỳ này còn thô sơ, lạc hậu Là một nước nông nghiệp thế nhưng công cụ lao động chủ yếu là cày, cuốc, theo hình thức “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, sử dụng sức người là chủ yếu Trong công nghiệp máy móc thiết bị còn ít và rất lạc hậu Phát triển công cụ lao động giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau

Trong hoàn cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất xã hôi chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động

Nhà nước không thừa nhận yếu tố kinh tế tư bản như là các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân dựa trên chế độ sở hữu tư nhân, đã phân định tách bạch thuần khiết chế độ sở hữu và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, phi xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò của chế độ công hữu, dẫn đến chủ trương cải tạo, sớm xóa bỏ các thành phần kinh

tế phi xã hội chủ nghĩa

(Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất Có những nơi nông dân bị bắt ép đi vào các hợp tác xã, mở rộng nông trường quốc doanh mà không tính đến lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu Người lao động không được chú trọng về cả trình độ và thái độ lao động, đáng ra là chủ thể của sản xuất nhưng lại trở nên thụ động trong cơ chế quan liêu bao cấp Nước ta quá nhấn mạnh sở hữu tư liệu sản xuất theo hướng tập thể hóa, cho đó là nhân tố hàng đầu của quan hệ sản xuất mới, từ đó người lao động bị biệt lập với đối tượng lao động Quan hệ sản xuất lên quá cao, tách rời với lực lượng sản xuất Hậu quả là sản xuất bị kìm hãm, đời sống nhân dân đi xuống nhanh chóng Đến cuối năm 1985 (12/1985, giá bán lẻ hàng hóa tăng 845.3%), năng suất lao động quá thấp, kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng)

Thời kỳ sau đổi mới (1986)

Nhận ra sai lầm và chủ trương đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế

+ Người lao động: được đào tạo nâng cao chuyên môn (skills, ….)

Trang 9

+ Công cụ SX: cải tiến công cụ, máy móc… để nâng cao năng suất lao động (công, nông nghiệp)

Nhận thức được sai lầm trong thời kỳ trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, chủ trương Đổi mới phương thức quản lý kinh tế và cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Người lao động nước ta đến năm 2005 là 44,3 triệu người, trong đó lao động đã qua đào tạo là 24,79 % Hệ thống trường dạy nghề các cấp được mở rộng Đội ngũ trí thức cũng tăng lên nhanh chóng Năm 2008, nước ta

có 160 trường đại học, 209 trường cao đẳng và 275 trường trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng được phần nào nhu cầu đào tạo lao động cho đất nước Tuy nhiên, thị trường lao động vẫn bị phân mảng, tồn tại tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu lao động, nhất là thiếu thợ” Nền kinh tế đang thiếu đi nguồn nhân lực có tay nghề, chất lượng nhân lực của Việt Nam còn thấp so với các nước lân cận

Máy móc và các trang thiết bị hiện đại ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế Trong nông nghiệp là các loại máy móc hiện đại ứng dụng công nghệ thông tin vào SXNN (máy cấy, máy gặt, máy bay không người lái để phun thuốc BVTV; các kỹ thuật canh tác, lai ghép, cải tạo giống tiên tiến Trong công nghiệp, các trang thiết bị hiện đại ngày càng được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi, tạo ra bước nhảy vọt trong nền SXCN Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục mở cửa để đón nhận, đi tắt đón đầu các thành tựu khoa học của thế giới, ứng dụng vào các ngành sản xuất

Có thể nói, với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, cho thấy hiệu quả bước đầu vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và được đạt nhiều thành tựu đáng kể

Sau 35 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng với GDP tăng

từ <1% (1986) lên > 7.5% (2020) (VN thuộc nhóm nước có GDP tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới năm 2020)

- Từ đại hội VI (1986) đến Đại hội VII (1991) tăng trưởng GDP từ dưới 1% tăng lên

> 1%, và đến Đại hội VIII (1996), GDP đạt gần 2%

5 Chứng minh luận điểm của C.Mac “Khoa học ngày càng trở thành LLSX trực tiếp”

- Các cuộc cách mạng KHCN:

Trang 10

+ Cơ giới hóa

+ Điện khí hóa

+ Tự động hóa

+ Thông minh hóa

- Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã giúp phát minh ra nhiều loại công cụ sản xuất hiện đại tham gia vào quá trình sản xuất có sự thay thế sức

lao động của con người (giải phóng sức lao động)

- VD: Trong nông nghiệp, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra các loại máy móc hiện đại (máy cấy, máy gặt, máy bay không người lái để phun thuốc BVTV…) sử dụng

trong sản xuất (công cụ lao động) chia sẻ sức lao động trực tiếp (máy gặt, máy cấy) đến

gần như thay thế đến 80% sức lao động ứng dụng, quản lý ntn?

(sự vận dụng/cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, quá trình vận dụng khoa học vào sx, đời sống như thế nào? trang bị cho con người như nào? ứng dụng, quản lý ntn? .)

- VD: Theo báo cáo của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), công nghiệp 4.0 có thể góp phần tìm ra những cách thức mới để đối phó với những thách thức toàn cầu quan trọng, chẳng hạn như biến đổi khí hậu Các công nghệ tiên tiến sẽ thúc đẩy sử dụng hợp lý năng lượng và tài nguyên, đồng thời giảm thiểu chất thải Từ đó công nghệ sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu trước mắt về bảo tồn tài nguyên và các mối quan tâm về biến đổi khí hậu Các công nghệ hỗ trợ sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, thiết lập hệ thống nước thông minh, phát triển hệ thống lưới điện thông minh, xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng hiệu quả, sản xuất vật liệu và sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu chung

về tính bền vững Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, khác biệt là khả năng thích nghi

và làm chủ với biến đổi khí hậu “Nghị quyết số 120 chúng ta không can thiệp thô bạo với tự nhiên nhưng không có nghĩa là cam chịu số phận, sắp đặt của tạo hóa Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều thành tựu giúp con người chinh phục và làm chủ thiên nhiên, nên tận dụng điều này để ứng phó biến đổi khí hậu”

- Sự tác động ngược lại của QHSX đối với LLSX ngoài việc tạo ra những tác động tích cực thì nó cũng có thể kìm hãm sự phát triển của LLSX

Ngày đăng: 09/02/2022, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w