1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương Triết học cao học

36 353 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 351,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC Câu 1. Khái niệm triết học. Đối tượng nghiên cứu của triết học. 2 Câu 2. Đặc điểm chung và một số nội dung cơ bản của triết học Ấn Độ cổ, trung đại. Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam........................3 Câu 3. Đặc điểm chung và một số tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại, trung đại. Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam.......................................5 Câu 4. Điều kiện hình thành, phát triển và một số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam………………………………………………………….......................................8 Câu 5. Đặc điểm và một số nội dung cơ bản trong triết học Hy Lạp cổ đại. 9 Câu 6. Đặc điểm và một số nội dung cơ bản trong triết học cổ điển Đức.. 11 Câu 7. Sự du nhập triết học Mác Lênin vào Việt Nam. Vai trò của triết học Mác – Lênin đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam. 12 Câu 8. Nội dung và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và việc vận dụng nó trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay................................................................................................................14 Câu 9. Nội dung cơ bản và một số nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật. Sự vận dụng nó trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay........................................18 Câu 10. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Sự vận dụng lý luận Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. .............................................................................................20 Câu 11. Biện chứng của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam...................................22 Câu 12. Biện chứng của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam? 25 Câu 13. Sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Vận dụng xem xét sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. 28 Câu 14. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội? Liên hệ thực tiễn 30 Câu 15. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội. Liên hệ thực tiễn. 31 Câu 16. Mối quan hệ giữa khoa học với triết học 33 Câu 17. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học. Vấn đề đặt ra cho triết học trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ ngày nay 34 Câu 18. Khoa học công nghệ, động lực của sự phát triển xã hội? Liên hệ với Việt Nam 35

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC

Câu 1 Khái niệm triết học Đối tượng nghiên cứu của triết học 2

Câu 2 Đặc điểm chung và một số nội dung cơ bản của triết học Ấn Độ cổ, trung đại Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam 3

Câu 3 Đặc điểm chung và một số tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại, trung đại Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam 5

Câu 4 Điều kiện hình thành, phát triển và một số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam……… 8

Câu 5 Đặc điểm và một số nội dung cơ bản trong triết học Hy Lạp cổ đại 9

Câu 6 Đặc điểm và một số nội dung cơ bản trong triết học cổ điển Đức 11

Câu 7 Sự du nhập triết học Mác - Lênin vào Việt Nam Vai trò của triết học Mác – Lênin đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam 12

Câu 8 Nội dung và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và việc vận dụng nó trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay 14

Câu 9 Nội dung cơ bản và một số nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật Sự vận dụng nó trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay 18

Câu 10 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Sự vận dụng lý luận Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam 20

Câu 11 Biện chứng của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam 22

Câu 12 Biện chứng của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam? 25

Câu 13 Sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên Vận dụng xem xét sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở Việt Nam 28

Câu 14 Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội? Liên hệ thực tiễn 30

Câu 15 Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Liên hệ thực tiễn 31

Câu 16 Mối quan hệ giữa khoa học với triết học 33

Câu 17 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học Vấn đề đặt ra cho triết học trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ ngày nay 34 Câu 18 Khoa học - công nghệ, động lực của sự phát triển xã hội? Liên hệ với Việt Nam 35

Trang 2

Câu 1 Khái niệm triết học Đối tượng nghiên cứu của triết học

1 Khái niệm triết học

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyênvới các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại

Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biếtsâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật

Theo người Ấn Độ, triết học là darshana Điều đó có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựatrên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải

Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái Nhàtriết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ đượcbản chất của sự vật

Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới ra đời, đều coi triếthọc là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân

lý, được quy luật, được bản chất của sự vật

Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học Trongcác quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung Đó là, tất cả các hệ thống triết họcđều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm

ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người

Khái quát lại, có thể hiểu Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó

2 Đối tượng nghiên cứu của triết học

Triết học ra đời từ thời cổ đại Từ đó đến nay, triết học đã trải qua nhiều gđoạn ptriển.Trong quá trình ptriển đó, đtượng của triết học cũng thay đổi theo từng gđoạn lịch sử

Thời cổ đại, khi mới bắt đầu có sự phân chia giữa lao động trí óc với lao động chântay, tri thức của loài người còn rất ít, chưa có sự phân chia giữa triết học với các khoa họckhác, mà tất cả tri thức khoa học đều gọi là triết học Ở Trung hoa, triết học gắn liền vớinhững vấn đề chính trị- xã hội; ở Ấn Độ, triết học gắn liền vơi tôn giáo; ở Hy Lạp triếthọc gắn liền với khoa học tự nhiên và gọi là triết học tự nhiên Cũng vì vậy, khi đó đốitượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức Đây cũng là nguyên nhân sâu xa về

sau dẫn đến quan niệm cho rằng: "Triết học là khoa học của các khoa học" Thời kỳ này,

triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đặt nền móng cho sự phát triển về sau khôngchỉ đối với triết học mà còn đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Thời Trung cổ ở Tây Âu, do sự thống trị của Giáo hội thiên chúa giáo trên mọi mặt củađsống XH, triết học trở thành đầy tớ của thần học Nhiệm vụ của triết học khi đó là lý giải vàchứng minh tính đúng đắn của các nội dung trong kinh thánh Triết học đó gọi là triết họckinh viện Với khuôn khổ chật hẹp của đêm trường Trung cổ, triết học ptriển rất chậm chạp

Vào thế kỷ XV- XVI, khi trong lòng xã hội phong kiến các nước Tây Âu xuất hiệnphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khoa học tự nhiên ptriển Khi đó, triết học duy vậtphát triển gắn liền với yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản và sự phát triểncủa khoa học tự nhiên Đặc biệt, đến thế kỷ XVII- XVIII, khi cách mạng tư sản nổ ra ở cácnước Tây Âu, khoa học tự nhiên diễn ra quá trình phân ngành sâu sắc, đạt được nhiềuthành tựu, nhất là cơ học Niutơn, triết học duy vật phát triển mạnh mẽ trong cuộc đấutranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Vào thời kỳ này, mặc dầu khoa học tự nhiên đãhình thành các bộ môn khoa học độc lập, nhưng triết học vẫn gắn liền với khoa học tựnhiên, chưa xác định rõ đtượng nghiên cứu của riêng mình

Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi Anh, Pháp đã là nước tư bản, thì nướcĐức còn là một nước phong kiến, giai cấp tư sản đang hình thành Trước ảnh hưởng của

Trang 3

Anh, Pháp và yêu cầu phát triển của giai cấp tư sản Đức, triết học Đức đã phát triển mạnh

mẽ nhưng trên lập trường duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen Hêghen xem triết họccủa mình là một hệ thống phổ biến của tri thức khoa học, mà trong đó các ngành khoa học

cụ thể chỉ là những móc khâu của triết học Triết học Hêghen là hệ thống triết học cuối

cùng xem triết học là "khoa học của các khoa học"

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, trước yêu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp vôsản và sự phát triển của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ, triết học Mác đã ra đời Triết họcMác đã đoạn tuyệt với quan niệm "triết học là khoa học của các khoa học" và xác định đốitượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất với ýthức trên lập trường duy vật; nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội

và tư duy, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con ngườinhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội theo con đường tiến bộ

Với sự phát triển đầy mâu thuẫn trong xã hội tư bản, với những thành tựu trong cuộccách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, ở các nước tư bản hiện đại đã xuất hiện nhiềutrào lưu triết học khác nhau mà ta gọi là "triết học phương Tây hiện đại" Đó là các trào lưutriết học duy khoa học, trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trào lưu triết học tôn giáo

Câu 2 Đặc điểm chung và một số nội dung cơ bản của triết học Ấn Độ cổ, trung đại Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam.

1 Đặc điểm chung của triết học Ấn Độ cổ, Trung đại

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hoá luôn tác động mạnh đến con người Ấn

độ, để lại dấu ấn đậm nét, tạo nên cơ sở ra đời và quy định nội dung tính chất cuả nền triếthọc Ấn Độ Cổ, Trung đại Nét đặc thù của tư tưởng triết học này chịu ảnh hưởng lớn của

tư tưởng tôn giáo có tính chất "hướng nội" Xu hướng lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" là xu hướng trội

của nhiều học thuyết triết học - tôn giáo Ấn Độ cổ, trung đại

Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã lý giải căn nguyên của vũ trụ; các học thuyết kế thừa tưtưởng của nhau, tạo nên những k/niệm, phạm trù triết học - tôn giáo cơ bản, mang tính truyềnthống, chịu sự chi phối mạnh mẽ của kinh Vệđà và các tôn giáo lớn của Ấn Độ cổ, trung đại.Triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nội dung tư tưởng và hình thức đa dạng, phản ánhđời sống xã hội Ấn Độ đương thời; hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ cổ, trung đạiđều tập trung lý giải bản chất đời sống tâm linh; tìm căn nguyên nỗi khổ của cuộc đời, chỉ

ra cách thức, con đường để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó

Triết học Ấn Độ cổ, trung đại được nhân dân Ấn Độ vận dụng và được truyền bárộng rãi tới nhiều quốc gia trên thế giới

2 Một số nội dung triết học Ấn Độ cổ, trung đại

a Tư tưởng bản thể luận

Nội dung cơ bản của kinh Upanisad là cơ sở triết lý cho đa số các hệ thống triết học tôngiáo Ấn Độ Svật, htượng dù đa dạng, phong phú đến mấy, kể cả con người, đều là các dạngcủa Brahman Linh hồn cứ bị giam hãm hết trong thể xác này rồi trong thể xác kia, luân hồimãi mà k trở về với mình là Brahman được Muốn linh hồn được giải thoát khỏi nghiệp báo,luân hồi, con người phải toàn tâm, toàn ý tu luyện hành động và tu luyện tri thức để siêuthoát

Kinh Upanisad chia nhận thức Bản thể tuyệt đối tối cao của vũ trụ thành trình độnhận thức hạ trí gồm các tri thức khoa học thực nghiệm, ngữ pháp, luật học, bốn tập kinhVéda dùng để phản ánh sự vật, hiện tượng hữu hình, hữu hạn; trình độ nhận thức này làphương tiện để đạt tới trình độ nhận thức thượng trí

b Tư tưởng giải thoát của triết học tôn giáo Ấn Độ

Trang 4

Vấn đề cơ bản nhất trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại là bản chất, ý nghĩa cuộc

sống; là nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường, cách thức giải thoát con ngườikhỏi bể khổ Giải thoát là giải thoát trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đức của con ngườithoát khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộc đời; giải thoát khỏi luânhồi- nghiệp chướng của con người

Như vậy, tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại thể hiện tính nhân

văn sâu sắc Tuy mới chỉ giải thoát về mặt tư tưỏng nhưng tư tưởng giải thoát đó đã phản

ánh những yêu cầu của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời.

3 Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam.

Phật giáo đến với người Việt Nam từ rất lâu đời, vào khoảng nửa cuối thế kỉ thứ I

Do bản chất từ bi hỉ xã, đạo Phật đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng và bám rễ vững chắctrên đất nước ta Từ khi vào Việt Nam, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến dời sống tinh thầncủa người Việt Nam Vì các triết lý Phật giáo xuất phát từ tâm tư và nguyện vọng củangười lao động nên số người theo Phật tăng nhanh Những ảnh hưởng của tư tưởng Phậtgiáo ăn sâu vào đời sống của đại đa số người dân Việt Nam không chỉ từ trong giai đoạnđầu của lịch sử dân tộc mà còn ngay cả cuộc sống ngày nay

Ảnh hưởng của triết học Phật giáo về tư tưởng: Tư tưởng hay đạo lí của Phật giáo làđạo lí Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo Ba đạo lí này là nền tảng cho tất cả cáctông phái Phật giáo nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng người dân Việt

Về giáo lí nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của đạo Phật đã được truyền vào nước tarất sớm Giáo lí này đã trở thành nếp sống tín ngưỡng đối với người Việt Nam có hiểubiết, có suy nghĩ Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, nó chẳng những thích hợp với giớibình dân mà còn ảnh hưởng đến giới trí thức Vì thế, giáo lí nghiệp báo luân hồi đã in dấu

ấn đậm nét trong văn chương bình dân, văn chương chữ Hán, chữ Nôm từ xưa cho đến nay

để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lí nhân quả nghiệp báo màhành động sao cho tốt đẹp, đem lại hòa bình an vui cho mọi người Mỗi người dân ViệtNam đều biết câu” ác giả ác báo” Mặt khác, họ hiểu rằng nghiệp nhân quả không phải làđịnh nghiệp mà có thể làm thay đởi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác thành thiện

Từ những hành động thiện, giảm bớt điều ác, dần dần ta sẽ chuyển hóa và tạo cho ta mộtcuộc sống yên vui

Ảnh hưởng của Phật giáo về đạo lí: Đạo lí ảnh hưởng nhất là giáo lí từ bi, tinh thầnhiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồnngười Việt Nam Tinh thần thương người như thể thương thân này đã biến thành ca dao,tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như: “ lá lành đùm lá rách”, “ nhiễu điềuphủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” Đó là những câu cadao tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng thấm nhuần và thuộc lòng, nói lên lòngnhân ái vị tha của người Việt Nam Ngoài đạ lí Từ Bi, người Việt Nam còn chịu ảnhhưởng của Đạo lí Tứ Ân, gồm: ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh.Trong đó ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lí ngườiViệt bởi vì đạo Phật đặc biệt chú trọng đến chữ hiếu, như thế là, phù hợp với đạo lí truyềnthống của dân tộc Việt Đạo lí Tứ Ân còn có chung động cơ thúc đẩy từ bi hỉ xa khiến conngười ta sống hài hòa với xã hội,thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc dích thực và bền vững

Ảnh hưởng của Phật giáo qua phong tục tập quán: Ảnh hưởng qua tục ăn chay,phóng sanh, bố thí: Về ăn chay, hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng củanếp sống văn hóa này Nó xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo Đạo Phật khôngmuốn sát sinh mà trái lại phải thương yêu mọi loài Số ngày ăn chay tuy có khác nhautrong từng tháng, nhưng cùng giống nhau ở quan điểm từ bi hỷ xả của Phật giáo Do hiệu

Trang 5

quả của việc ăn chay trong việc tăng cường sức khỏe, chống bệnh tật, nên người Việt Nam

dù là Phật tử hay không đều thích ăn chay Ăn chay và thờ Phật là hai việc đi đôi với nhaucủa người Việt Nam Dù không phải là Phật Tử cũng dùng tượng Phật hay tranh ảnh vềPhật giáo để trang trí cho đẹp và nghiêm trang Cùng với tục thờ Phật, tục thờ cúng tổ tiêncủa dân tộc Việt Nam có từ lâu đời Tục này xuất phát từ lòng kính yêu đối với ông bà, cha

mẹ, tổ tiên và được xem là một dạng tín ngưỡng quan trọng của người Việt Nam Vàonhững ngày rằm, mùng 1 những gia đình không theo đạo Phật cũng mua hoa quả thắpnhang trên bàn thờ tổ tiên Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí vàphóng sinh đã ăn sâu vào đời sống tinh thần Đến ngày rằm và mùng 1, người Việt thườngmua chim, cá… để đem về chùa cầu nguyện rồi đi phóng sinh Người dân cũng thích làmphước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó hoạn nạn Tuy nhiên, trong xã hội hiện đạinhững biểu hiện mang tính chất hình thức trên ngày càng bị thu hẹp Thay vào đó mọingười tham gia vào những đợt cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảnh sốngkhó khăn đúng với truyền thống đạo lí của dân tộc: lá lành đùm lá rách b Ảnh hưởng quatục cúng rằm, mùng một và lễ chùa: Tập tục đến chùa đẻ tìm sự bình an cho tâm hồn đãtrở thành một nét phong tục lâu dời “ đi chùa lễ Phật” của tổ tiên Những ngày lễ hội lớntrong năm bắt đầu từ Phật giáo như: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lể tắm Phật…thực sự đã trởthành ngày hội văn hóa của người dân Những ngày lễ lớn như trên của Phật giáo đã làchất keo gắnời dân với nhau và ảnh hưởng ngày càng sâu đậm trong nhân dân

Câu 3 Đặc điểm chung và một số tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại, trung đại Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam.

1 Đặc điểm chung của triết học Trung Quốc cổ, trung đại

Nhấn mạnh sự hài hoà giữa tự nhiên với con người, với xã hội

Nhấn mạnh vấn đề chính trị đạo đức

Các quan điểm, tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại thường dùng châm ngôn,ngụ ngôn, ẩn ngữ để diễn đạt tư tưởng của mình Cách diễn đạt đạt ý quên lời, ý ở ngoàilời mở ra sự suy ngẫm Châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ không thể khúc chiết, mạch lạcnhưng bù lại, sức mạnh và tính chất sâu xa của tư tưởng triết học ẩn náu trong đó là sự gợi

ý thâm trầm, sâu rộng dường như vô biên của chúng

2 Một số tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại

a Tư tưởng bản thể luận

Quan điểm duy tâm và tôn giáo cho rằng thế giới bên ngoài, kể cả con người, số phậncon người đều do Trời, do Thượng đế quy định Quan điểm duy vật và vô thần trong KinhDịch cho rằng do sự giao cảm của Âm Dương sinh ra; Trong Kinh Thi cho rằng do Ngũhành tương sinh, tương khắc sinh ra; trong tư tưởng Lão Tử là do “Đạo” sinh ra, trong tưtưởng của Tuân Tử, của Vương Sung là do Khí, trong tư tưởng của Trương Tải là - Thái hư

b Tư tưởng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức

Tư tưởng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức được thể hiện trong các cặp Thần Hình, Tâm - Vật, Lý - Khí

-Thần - Hình xuất hiện thời Hán với quan điểm -Thần là bản nguyên của Hình, Hình làphái sinh từ Thần của Đổng Trọng Thư

Tâm - Vật xuất hiện thời Tuỳ - Đường, khi Đạo Phật làm chủ nền triết học Trung Quốc

Lý - Khí xuất hiện thời Tống Lý học là hình thái ý thức giữ vai trò chủ đạo trong xãhội phong kiến thời Tống

c Tư tưởng biện chứng

Trang 6

Triết lý duy vật biện chứng của triết học Trung Quốc cổ, trung đại đã có những ảnhhưởng sâu sắc đến thế giới quan triết học không những của người Trung Quốc, mà còn củanhững người chịu ảnh hưởng của triết học Trung Quốc.

Biến dịch là quan niệm chung của triết học Trung Quốc cổ, trung đại, theo đó, TrờiĐất, vạn vật luôn vận động và biến đổi với nguyên nhân là giữa Trời Đất với vạn vật vừađồng nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động, biến đổi theo luậtbình quân và luật phản phục

d Tư tưởng về nhận thức

Trong quá trình tìm hiểu thế giới bên ngoài để phục vụ cho lợi ích của con người, cácnhà triết học Trung Quốc cổ, trung đại đã có những tư tưởng khác nhau về nhận thức.Khổng Tử tập trung vào thực tiễn giáo dục và phương pháp học hỏi; thuyết chính danhcủa ông lấy Danh để định Thực, Danh có trước Thực Ngược lại, Tuân Tử cho rằng Thựckhác nhau bằng Danh Mặc Tử với thuyết Tam biểu lấy Thực đặt Tên Huệ Thi coi Thực tođến mức k có cái bên ngoài gọi là đại nhất, nhỏ đến mức k có cái bên trong gọi là tiểu nhất.Ngược lại, Công Tôn Long bắt đầu từ Danh, nhấn mạnh sự khác nhau giữa từ và k/niệm

đ Tư tưởng về con người và xây dựng con người

Tư tưởng về con người

Vấn đề nguồn gốc con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều coi con người do Trời sinh

ra và bị quy định bởi Mệnh Trời Lão Tử Đạo sinh ra Trời, Đất, Người, Vạn vật Trang Tửcho rằng ở mỗi vật đều có cái đức tự sinh, tự hoá ở bên trong

Vđề xác định vị trí và vai trò của con người trong mối liên hệ với Trời, Đất, Người,Vạn vật trong vũ trụ, Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có bốn cái lớn là Đạo lớn, Trời lớn, Đấtlớn, Người cũng lớn Khổng Tử và Mặc Tử đều coi con người do Trời sinh ra nhưng sau đócùng với Trời và Đất tạo nên ba ngôi tiêu biểu cho mọi svật, htượng vật chất và tinh thần Vấn đề bản tính con người cũng được chú trọng Khổng Tử coi tính người là gần nhau,

do tập tành và thói quen nên mới xa nhau Mạnh Tử coi bản tính người là thiện (thuyết tínhthiện), phần cao quý làm nên sự khác biệt giữa người với cầm thú Tuân Tử lại cho rằng ác(thuyết tính ác), con người sinh ra vốn ham lợi, dẫn đến tranh giành lẫn nhau, sinh ra đố kỵ,không có lòng trung tín thành dâm loạn, không có lễ nghĩa Cáo Tử lại coi là không thiện,không ác Vương Sung còn cho rằng thiện có thể biến thành ác và ác có thể biến thànhthiện

Tư tưởng về xây dựng con người coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quan tâm củagiai đình và xã hội trong việc xây dựng con người

Theo Nho gia, con người phải x/đ và làm tròn qhệ của mình là Ngũ Luân (Vua - tôi, cha

- con, anh - em, chồng - vợ, bạn hữu), trong đó Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (Tam cương)

là các qhệ chính Trong Tam cương lại có hai quan hệ cơ bản là Vua - tôi, biểu hiện bằng đứcTrung, cha - con biểu hiện bằng đức Hiếu Con người phải thường xuyên trau dồi Ngũ thường(Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), đứng đầu Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, trong đó Nhân là chủ.Đạo gia coi bản tính của con người có khuynh hướng trở về csống với tự nhiên, do vậyphải trừ khử cái thái quá, nâng đỡ cái bất cập, sống thanh cao, gần gũi tự nhiên và tránh chạytheo csống vchất Đạo Phật khuyên con người sống hiền lành, k sát sinh, k làm hại người ≠

e Tư tưởng về xã hội lý tưởng và con đường trị quốc

Điển hình của tư tưởng này là xã hội đại đồng của Khổng Tử với đặc trưng cơ bản là xãhội thái bình, ổn định; có trật tự, kỷ cương; mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cáiđều là của chung; được đảm bảo đầy đủ về vật chất; quan hệ tốt đẹp giữa người với người; xãhội có giáo dục, mọi người đều được giáo hoá Muốn vậy, phải có Vua đứng đầu, hiểu Đạo vàhành Đạo là trên dưới thuận hoà; Hiếu, Đễ làm gốc là mọi nhà nhân hậu, thiên hạ được yên

Trang 7

Đường lối trị nước theo Thuyết Nhân trị và Thuyết Pháp trị Thuyết Nhân trị chủtrương lấy đạo đức làm căn bản trong việc cai trị Những người cầm quyền quy định sựhưng thịnh, suy vong của đất nước; do vậy những người cầm quyền phải có khả năng vàđức hạnh Thuyết Pháp trị chủ trương lấy pháp luật làm căn bản trong việc cai trị Do bảntính con người là yếu hèn, thấp kém, dễ mắc sai lầm nên phải dùng pháp luật áp dụng chođồng đều, không thiên vị, không phân biệt đẳng cấp xã hội

3 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam.

Nho giáo ảnh hưởng đến cá nhân

Nho giáo ảnh hưởng đến con người và cá nhân, duy trì tinh thần học hỏi, hiếu họcthành công hơn trong xã hội Nho giáo giúp con người hướng về cái thiện (giống như Phậtgiáo), và cái đức để cư xử tốt hơn trong tập thể, trong gia đình, trong cộng đồng TheoKhổng tử, chữ “Nhân” có ý nghĩa trong việc hoàn thiện giá trị con người và là nguyên tắcquy định bản tính, quan hệ giữa người với người, ở mọi tầng lớp trong xã hội Ngày naytrong xã hội đương đại, nho giáo tạo được cơ chế tuyển dụng chọn lọc người tài thông quathi tuyển và xét tuyển Các cá nhân nếu học giỏi và đỗ đạt, có thể có việc làm tốt giúpnước bất kể xuất thân sang hèn Nho giáo coi trọng giáo dục đạo làm người Chính nhờnho giáo, lực lượng tri thức ngày nay được tạo ra kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹpcủa xã hội tiến bộ

Nho giáo ảnh hưởng đến tập thể

Cũng theo thuyết nho giáo của Khổng tử, con người trong xã hội phải coi trọng tamcương, ngũ luân Tam cương đó là 3 mối quan hệ cơ bản trong xã hội: vua – tôi, cha – con,chồng – vợ Ngũ luân bao gồm 5 mối quan hệ: Anh – em, bạn bè và 3 mối quan hệ kể trên.Tục ngữ Trung Hoa có câu “nhân chi sơ tính bổn thiện”, tuy nhiên trong quá trình pháttriển con người có thể hình thành tính ác, tức là nhiễm phải thói hư tính xấu trong xã hội

Do vậy, nho giáo coi trọng giáo dục và rèn luyện đạo đức Nho giáo coi trọng giáo dục kẻ

sĩ và đặt cho họ trách nhiệm đối với xã hội Trong phạm vi gia đình, nho giáo cũng có vaitrò quan trọng trong việc xây dựng truyền thống văn hóa lễ nghĩa trong gia đình Giữ gìngia đạo chính là thể hiện nét đẹp văn hóa nho giáo

Nho giáo ảnh hưởng đến xã hội

Xã hội càng văn minh, tiến bộ thì đạo đức xã hội càng có nguy cơ bị ảnh hưởng tiêucực Con người xã hội thường sống khép kín và ít quan tâm đến nhau Con người thườngquan niệm học nhiều, tri thức nhiều là có đạo đức, song nhiều trường hợp có tri thức nhiềuchưa chắc có đạo đức tốt Nhất là khi nền kinh tế càng phát triển, đời sống vật chất ngàycàng sung túc, đạo đức con người có nguy cơ xấu đi, làm cho mọ người mất niềm tin vớinhau

Nho giáo trong trường học

Nho giáo đã và đang khẳng định vị trí quan trọng trong nhà trường Từ khi còn làhọc sinh tiểu học, tư tưởng “tiên học lễ, hậu học văn” đã được thấm nhuần bởi các họcsinh Chữ “Lễ” luôn nhắc các học sinh cư xử lễ độ với bố mẹ, thầy cô, ứng xử có tôn ti trật

tự, đề cao lễ giáo và sự lễ phép là truyền thống văn hóa tốt đẹp phương Đông Chữ “Văn”luôn nhắc nhở các thế hệ học sinh phải dùi mài kinh sử để ghi nhớ bao công lao dựng vàgiữ nước của cha ông ta Chính tư tưởng Hồ Chí Minh khi dặn dò bao thế hệ học sinhtrong việc đưa tổ quốc Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu một phần là nhờcông lao học tập của các cháu” đã thể hiện chữ “Văn” của nho giáo Tư tưởng này đã phổbiến trong khắp các trường học trong cả nước, và là 1 công cụ hữu ích trong phát triển xãhội Việt Nam ngày nay

Nho giáo có tính quốc gia

Trang 8

Trong thời xưa và cho đến ngày nay, chữ “trung” trong nho giáo có ý nghĩa trungvới vua, trung với nước Chữ “nghĩa” đi theo hàm ý con người sống trong 1 quốc gia phải

có trung có nghĩa Có nghĩa vụ với quốc gia, bao thế hệ thanh niên Việt Nam đã lên đườngnhập ngũ trong các cuộc chiến tranh và làm nghĩa vụ quân sự trong thời bình Ở nước ta,chữ trung gắn với chữ nghĩa nhằm đề cao nghĩa vụ của cộng dân, trách nhiệm của ngườidân đối với Tổ quốc, quê hương, làng xóm

Được du nhập vào Việt Nam, các tư tưởng nho giáo được người Việt tiếp thu cóchọn lọc và sáng tạo, thể hiện không chỉ qua các giá trị về đạo đức cá nhân, mối quan hệcộng đồng làng xã, về nhân lễ nghĩa trí tín, mà cả về việc xây dựng đất nước và giữ nước

Câu 4 Điều kiện hình thành, phát triển và một số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam.

1 Điều kiện hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Điều kiện tự nhiên: Nằm ở đông nam châu Á, vị trí tạo cơ sở tự nhiên cho sự giao lưuvăn hoá, thông thương thương nghiệp giữa Việt Nam với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản

Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá: Việt Nam là nước nông nghiệp cơ bản dựavào kinh nghiệm truyền đời và trình độ lao động thủ công, hầu như không có cuộc cáchmạng nào của lực lượng sản xuất Chỉ từ cuối thời Lý (1010 - 1225) mới có sự phát triểnnhất định của chế độ tư hữu ruộng đất Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, lịch

sử Việt Nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm để xây dựng, bảo vệ và củng cố nền độc lậpcủa dân tộc Từ thế kỷ X - XVIII, nhà nước phong kiến Việt Nam tập trung vào hai nhiệm

vụ cơ bản là tổ chức dân cư lãng, xã chống giặc và xây dựng, bảo trì hệ thống thuỷ lợi.Vốn tri thức cơ bản của người Việt Nam truyền thống là những kinh nghiệm liên quan tớinông nghiệp và đánh bắt hải sản Tri thức ngành nghề thủ công chỉ là những bí quyếtngành, nghề của các làng nghề truyền thống và được bảo tồn chủ yếu thông qua truyềnkhẩu Sự giao lưu với các nước láng giềng chỉ mang lại một số tri thức về chính trị - xã hộicho một bộ phận trí thức Việt Nam

2 Những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

a Những tư tưởng triết học chính trị, đạo đức và nhân văn trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Tư tưởng yêu nước trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam không chỉ là tư tưởngchính trị, mà còn là tư tưởng đạo đức và nhân văn cao cả

Chủ nghĩa yêu nước VNam là ý thức về dân tộc và độc lập dân tộc; về một quốc giangang hàng với phương Bắc và về nguồn gốc, động lực của công cuộc cứu nước, giữ nước

Nguồn gốc, động lực của công cuộc cứu nước, giữ nước với tư tưởng trọng dân Tưtưởng này là cơ sở của đường lối đề cao Nhân, Nghĩa và cho biện pháp nhằm hạn chế mâuthuẫn giai cấp trong xã hội

Quan niệm về đạo làm người trong lịch sử tư tưởng triết học VN là vấn đề liên quanmật thiết với việc xác định cơ sở tư tưởng cho hành động chính trị, đạo đức và nhân sinh

Tư tưởng về đạo làm người được hình thành nhờ tiếp thu Đạo Nho, Đạo Phật và Đạo Lão.Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, vai trò nổi trội của mỗi tư tưởng được thể hiện rõ nét

b Một số tư tưởng triết học Đạo Phật trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Quan niệm về thế giới: Các phạm trù triết học của phái Thiền tông là Bản Thể ChânNhư, Thực Tướng, các Pháp hoặc bản thể Như Lai, trong đó Bản Thể Chân Như là nguyên

lý thống nhất của thế giới Thế giới các svật, htượng (Pháp Hữu Vi) luôn biến đổi k ngừng,nhưng tất cả chúng đều là sự thể hiện của Bản Thể Chân Như; do vậy, muốn nhận thức

Trang 9

được Bản Thể Chân Như cần phải vượt qua Pháp Hữu Vi và khi đó con người sẽ đạt tới sựGiác ngộ Muốn có sự Giác ngộ thì phải trải qua con đường siêu việt qua Pháp Hữu Vi

Nhân sinh quan: Triết học nhân sinh của Đạo Phật VN thể hiện qua phạm trù Từ Bitrong triết học Đại Thừa Nội dung cơ bản của Từ Bi là tinh thần bao dung giữa con ngườivới nhau cũng như với muôn loài vô tình hay hữu tình Từ giác ngộ Từ Bi sinh ra hệ quả làtinh thần cứu độ chúng sinh, một tinh thần thực tiễn của tư tưởng nhân văn Đạo Phật Với

tư tưởng Từ Bi, triết học Đạo Phật VN đã góp phần tạo dựng cơ sở lý luận cho tư tưởngNhân ái Việt Nam, vốn đã có cơ sở thực tiễn từ lịch sử cố kết cộng đồng làng xã, dân tộc

c Một số tư tưởng triết học Nho giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Triết học Nho gia bao gồm hai bộ phận cơ bản cấu thành là Hình nhi thượng học vàHình nhi hạ học Hình nhi thượng học với khuynh hướng nghiên cứu triết lý sâu về thếgiới và có ảnh hưởng quan trọng đến các nhà tư tưởng Việt Nam như Nguyễn BỉnhKhiêm, Ngô Thời Nhậm Hình nhi hạ học với khuynh hướng nghiên cứu triết lý sâu vềchính trị và đạo đức nhằm xác lập ý thức cai trị phong kiến theo mô hình tập quyền cao độ

d Sự đối lập giữa thế giới quan duy vật với thế giới quan duy tâm, giữa thế giới quan triết học với thế giới quan tôn giáo trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Sự hình thành, phát triển của tư tưởng triết học diễn ra trong sự thống nhất, nhưng

có sự đối lập và đấu tranh giữa thế giới quan duy vật với duy tâm; triết học với tôn giáo

Tư tưởng triết học duy tâm kết hợp với các tư tưởng tôn giáo là thế giới quan bao trùm;còn thế giới quan duy vật và chủ nghĩa vô thần chỉ thể hiện trong phạm vi cụ thể Chủnghĩa duy tâm và tôn giáo có luận lý sâu sắc và có tính hệ thống cao, còn chủ nghĩa duyvật và vô thần chỉ là những yếu tố nhận thức mang nặng tính kinh nghiệm, ngẫu nhiên

Câu 5 Đặc điểm và một số nội dung cơ bản trong triết học Hy Lạp cổ đại.

1 Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại

Nội dung cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại là cuộc đấu tranh giữa các trường pháitriết học duy vật với duy tâm, biện chứng với siêu hình, vô thần với tôn giáo mà điển hình

là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy vật của Đêmôcrít, Êpiquya với triết họcduy tâm của Xôcrát, Platôn

Triết học Hy Lạp cổ đại, nói chung còn ở trình độ trực quan, chất phác- đặc biệt đốivới các hệ thống triết học duy vật và biện chứng, nhưng đã gắn bó với khoa học Tuy cónhững ý kiến khác nhau, nhưng đã đề cập tới vấn đề con người, coi con người là tinh hoacủa tạo hoá và con người cần chinh phục thiên nhiên để phục vụ mình

2 Một số nội dung cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại

a Tư tưởng về bản nguyên thế giới

Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đơn nhất xuất hiện trong trường phái Milê;Talét cho rằng đó là nước, Anaximandrơ là Apeirôn, Anaximen là không khí

Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đặc thù xuất hiện trong trường phái các nhàtriết học tự nhiên thế kỷ V tr.c.n; Anaxago cho rằng đó là những phần nhỏ bé, siêu cảmgiác không nhìn thấy được của nước, đất, khí, lửa gọi là mầm sống, là hạt giống của muônvật Empeđôclơ lại cho rằng đó là đất, nước, lửa và không khí luôn vận động do nguyênnhân tình yêu và hận thù

Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái phổ biến xuất hiện trong trường phái nguyên

tử luận thế kỷ V - IV tr.c.n Đêmôcrít cho rằng nguyên tử (tồn tại) và chân không (khôngtồn tại) là những bản nguyên đầu tiên và chúng luôn đối lập nhau

b Tư tưởng biện chứng

Tư tưởng biện chứng khẳng định của Hêraclít (520 - 460 tr.c.n) thể hiện trong 1)quan niệm về sự vận động vĩnh viễn của vật chất và tính thống nhất của thế giới 2) quan

Trang 10

niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng 3) quan niệm

về nguyên nhân của sự vận động

Tư tưởng biện chứng của Pácmênít thể hiện ở ba quan niệm: vận động, biến đổi là hư

ảo, không có kgian rỗng thuần tuý; tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như là quátrình, vừa như là kết quả; trong thế giới k có sự sinh thành, xuất hiện và diệt vong Tư tưởngbiện chứng của Dênôn thể hiện ở quan niệm về vạn vật đồng nhất thể và vạn vật bất biến

Tư tưởng biện chứng của Xôcrát (469 - 399 tr.c.n) được thể hiện trong phương phápbốn bước của ông Một là, mỉa mai là thủ pháp nêu các câu hỏi dồn người đối thoại vàomâu thuẫn để thừa nhận chân lý Hai là, đỡ đẻ với nghĩa là người dẫn dắt cuộc đối thoạichủ động nêu ra những vấn đề mới giúp người đối thoại, từ chỗ lúng túng, đạt được chân

lý Ba là, quy nạp là quá trình đi từ phân tích những hành vi riêng lẻ đến khái quát để nhậnthức bản chất Bốn là, xác định hay định nghĩa là gọi đúng tên, nêu đúng bản chất của sựvật, hiện tượng; xác định chuẩn mực, hành vi đạo đức để xây dựng khoa học về cái thiện,giúp con người có cuộc sống hạnh phúc, hợp lý trí

Tư tưởng biện chứng của Platôn (472 - 347 tr.c.n) muốn có tri thức thì phải hồi tưởng

để đánh thức những tri thức đã bị lãng quên trong linh hồn, là tìm kiếm tri thức nơi mình Arítxtốt có những nghiên cứu sâu về những vấn đề của phép biện chứng; tạo ra mônlôgíc học để nghiên cứu tư duy dựa trên cơ sở phân biệt dứt khoát giữa chân lý với sai lầm

d Tư tưởng về đạo đức và chính trị

Với ý đồ chính trị muốn những nhà cầm quyền phải có tri thức, hiểu biết, Xôcrát coiđạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, có đạo đức là nhờ có hiểu biết, do vậy đạo đức

có sau hiểu biết

Đêmôcrít lại xuất phát từ bản chất con người để định nghĩa đạo đức, theo đó sự hàilòng và không hài lòng là động lực của mọi hành vi;

Platôn phê phán cả ba hình thức nhà nước là nhà nước của Vua Chúa xây dựng trênkhát vọng giàu có và danh vọng dẫn tới sự cướp đoạt; nhà nước quân phiệt của số ít kẻgiàu có áp bức số đông, đối lập giữa giàu và nghèo đưa tới cái ác; nhà nước dân chủ,quyền lực thuộc về số đông, sự đối lập giàu nghèo trong nhà nước này hết sức gay gắt chonên đó là nhà nước tồi tệ

Arítxtốt lại cho rằng đạo đức là khoa học đứng sau triết học và đặc biệt quan tâm đếnphẩm hạnh bởi đó là cái tốt đẹp nhất, là lợi ích tối cao mà mọi công dân phải có

Êpiquya cho rằng những yêu cầu, khát vọng của con người phản ánh bản chất conngười Do vậy, đạo đức học phải dạy cho con người biết lựa chọn những yêu cầu, khátvọng thiết yếu, tránh những mong ước vô nghĩa và phản tự nhiên

Trang 11

Câu 6 Đặc điểm và một số nội dung cơ bản trong triết học cổ điển Đức.

1 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức

Triết học cổ điển Đức có nội dung cách mạng trong hình thức duy tâm, bảo thủ; đềcao vai trò tích cực của tư duy con người; coi con người là thực thể hoạt động và là nềntảng, điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học

Phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức trở thành phương pháp đối lập vớiphương pháp siêu hình trong việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội

2 Một số nội dung triết học cổ điển Đức

a Tư tưởng về nguồn gốc thế giới

Tư tưởng về nguồn gốc thế giới trong triết học cổ điển Đức đầy mâu thuẫn thể hiện ởtính duy tâm, duy vật và nhị nguyên của các nhà triết học tiêu biểu

Trong triết học nhị nguyên của Cantơ (1724 - 1804), thế giới được tạo nên từ vật tự

nó tồn tại khách quan và tác động lên các giác quan con người, nhưng các sự vật mà conngười nhận thấy được chỉ là các hiện tượng phù hợp với các cảm giác và tri giác do lý tínhcon người tạo ra, không liên quan tới vật tự nó

Trong triết học duy tâm khách quan của Hêghen (1770 - 1831), ý niệm tuyệt đối lànguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội

Trong triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc (1804 - 1872), thế giới là thế giới vậtchất, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào bất kỳ học thuyết triết học nào, do vậy cơ sởtồn tại của giới tự nhiên nằm trong giới tự nhiên

b Tư tưởng biện chứng

Ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khởi đầu từ Cantơ qua Phíctơ, Sêlinh

và phát triển đến đỉnh cao ở Hêghen, đây là hình thức thứ hai của phép biện chứng, hìnhthức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức

Là người sáng lập phép biện chứng cổ điển Đức, những quan điểm biện chứng củaCantơ thể hiện rõ nét ngay từ thời kỳ tiền phê phán (1746 - 1770), theo đó phát triển khôngnhững chỉ là trạng thái tự nhiên, mà còn là nguyên lý quan trọng để nhận thức tự nhiên vànguyên lý này phải được vận dụng trong mọi khoa học chuyên ngành

Trái lại, phép biện chứng duy tâm của Hêghen thể hiện trong quan điểm của ông vềmâu thuẫn; về quy luật lượng - chất; về các phạm trù riêng - chung, bản chất - hiện tượng,nguyên nhân - kết quả v.v Hêghen coi phát triển là nguyên lý cơ bản nhất của phép biệnchứng với phạm trù trung tâm là tha hoá và khẳng định tha hoá diễn ra ở mọi nơi, mọi lúctrong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần

c Tư tưởng về con người

Trong triết học cổ điển Đức, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trìnhhoạt động của mình và có bản chất xã hội

Tư tưởng về con người trong triết học Cantơ bắt đầu tư tưởng về sự thống nhất củaloài người Sự phát triển của loài người dược ông phân chia thành bốn bước 1) chuyển từtrạng thái động vật sang trạng thái có tính người; từ lệ thuộc vào bản năng sang sự chỉ đạocủa lý trí 2) khi lý trí đã đóng vai trò chủ yếu- mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội

đã do lý trí chỉ đạo; ở con người đã xuất hiện nhu cầu giáo dục 3) hãy sống cho thế hệ maisau, tức là sự phát triển hướng tới tương lai 4) bước phát triển được thực hiện bằng lý trí

và từ đây, con người vượt lên con vật

Hêghen lại coi thế giới vật chất là con người vô cơ, ở giai đoạn chưa hình thành; còncon người bằng xương, bằng thịt là con người đã phát triển đầy đủ, là con người đã trở vềvới bản thân mình với tất cả những đặc tính vốn có Con người vừa là chủ thể, vừa là kếtquả của quá trình hoạt động của chính mình; tư duy, trí tuệ con người được hình thành và

Trang 12

phát triển khi con người nhận thức và cải biến thế giới đối lập với mình thành thế giới củamình; hoạt động càng phát triển thì ý thức càng mang bản chất xã hội.

Tư tưởng về con người trong triết học nhân bản của Phoiơbắc được bắt đầu từ quanđiểm coi con người là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên và nhận thức con người là nềntảng để nhận thức thế giới và giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Con người là sự thốngnhất giữa vật chất và tinh thần; con người sáng tạo ra Thượng Đế; thần thánh là bản chất conngười được tinh chế, khách quan hoá, tách rời con người hiện thực, tôn giáo là bản chất conngười đã bị tha hoá Phoiơbắc cho rằng bản chất tự nhiên của con người là hướng tới cái chân,cái thiện, hướng tới cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người; những đkiện,mtrường và hoàn cảnh sốngcó tác động to lớn đối với tư duy và ý thức con người

d Tư tưởng về đạo đức

Bước phát triển mới của đạo đức học được thể hiện trong học thuyết đạo đức của cácnhà triết học cổ điển Đức

Cantơ coi lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý, chuẩn mực đạo đức;còn các khát vọng cảm tính đưa con người đến hưởng thụ cá nhân, ích kỷ, phi đạo đức.Phạm trù trung tâm của đạo đức Cantơ là tự do với quan niệm ý chí tự do và ý chí tuântheo các quy luật đạo đức là như nhau

Tư tưởng về đạo đức của Hêghen gắn liền với tư tưởng về pháp quyền, đạo đức, giađình, xã hội công dân và nhà nước trong sự tha hoá của tinh thần đạo đức khách quan.Trong đạo đức học của Hêghen, phạm trù cái thiện và cái ác tồn tại trong những mâu thuẫnnội tại và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng trong những đkiện cụ thể của quá trình lịch sử

Tư tưởng về đạo đức của Phơibắc thể hiện trong việc xác định được sự hài hoà giữanghĩa vụ với hạnh phúc, với các lợi ích của con người Nguyên tắc cơ bản của đạo đức là

sự yêu thương lẫn nhau giữa con người và nguyện vọng tự nhiên muốn có hạnh phúc của

nó, trong đó tình yêu có thể khắc phục được bất công xã hội, đau khổ của con người

Câu 7 Sự du nhập của triết học Mác - Lênin vào Việt Nam Vai trò của triết học Mác

- Lênin đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

*/ Sự du nhập của triết học Mác - Lênin vào Việt Nam

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Trong quá trình tìmđường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới Ngườiđánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc cáchmạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789)… nhưng cũngnhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản Từ đó, Nguyễn Ái Quốckhẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc cho nhândân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng

Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, vàthành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”

Tháng 7 – 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương

về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo Người tìm thấytrong Luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam:

về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới… Nguyễn ÁiQuốc đã đến với chủ nghĩa Mác –Lênin

Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (12/1920) Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việcgia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánhdấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người - từ người yêu nước trở

Trang 13

thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn “Muốn cứu nước phảigiải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Từ đây cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế,Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, vạch phương hướng chiếnlược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Quá trình Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng được đánh dấubằng việc Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - LêNin vào Việt Nam thông quanhững bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và đặc biệt

là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925) Tác phẩm này đã vạch rõ những âmmưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc che dấu tội ác dưới cái vỏ bọc “khai hóa vănminh”, từ đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm đánhđuổi thực dân Pháp xâm lược Mùa hè 1923 từ Pháp sang Liên Xô, Người tham gia nhiềuĐại hội quốc tế và học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê nin

*/ Vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng Việt Nam

Đối với CM VN, Chủ nghĩa Mác- Lê nin là kim chỉ nam, là nền tảng của tư tưởng,hành động của Đảng, là ngọn đèn soi sáng cho con đường dẫn đến thắng lợi của dân tộc ta

Trước khi chủ nghĩa Mác- Lênin xuất hiện ở VN, những ptrào giải phóng dtộc như:ptrào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận độngcủa Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học đều thất bại Nhưng kể từ khiHCM đem chủ nghĩa Mác- Lênin vào VN, phong trào đấu tranh giành độc lập của nước

Đầu tiên, sau gần 100 năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp và đế quốc Nhật, năm 1945,dưới sự lãnh đạo của HCM và Đảng Cộng sản, Việt Nam đã giành được chính quyền từtay đế quốc và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945

Tiếp theo là chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 trước thực dân Pháp sau khiPháp trở lại Đông Dương năm 1946 Sau đó, Hoa Kỳ hậu thuẫn chính phủ Việt Nam Cộnghòa ở miền Nam Việt Nam

Cuộc chiến kéo dài hơn 30 năm, kết cục là Mỹ đã rút khỏi Việt Nam sau khi Hiệpđịnh Hòa bình Paris được kí kết vào tháng 1 năm 1973 và chính phủ Việt Nam Cộng hòasụp đổ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 của Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VII của Đảng đã thông qua “ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kì quá độ” trong đó khẳng định: “ Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minhlàm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Đây là kết luận rút ra từ kết quả tổngkết sâu sắc thực tiễn lịch sử của Đảng và của CM Việt Nam trong suốt quá trình cáchmạng từ khi thành lập Đảng đến nay

Đó là 1 quyết định có tầm lịch sử quan trọng thể hiện bước tiến trong tư duy lý luậncủa Đảng ta Như ánh sáng mặt trời xua tan bóng tối, trong “Luận cương về vấn đề dân tộc

và thuộc địa”, Lênin đã chỉ cho nhân dân ta thấy rõ: Trong thời đại ngày nay, muốn đánh

đổ chủ nghĩa tư bản và đưa loài người tiến lên chủ nghĩa xã hội chỉ có thể giành đượcthắng lợi bằng sự kết hợp thành một trào lưu chung cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản tất

cả các nước với cuộc đấu tranh của nhân dân các thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc

Và sự nghiệp giải phóng dtộc của nhân dân các nước thuộc địa chỉ có thể đi đến thắnglợi triệt để khi nó trở thành bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới Nhờ vậndụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thốngđấu tranh oanh liệt của dân tộc, Đảng ta đã đề ra cương lĩnh đúng đắn qua các thời kỳ, đưacon thuyền cách mạng VN vững vàng vượt qua phong ba bão táp để cập bến vinh quang

Trang 14

Câu 8 Nội dung và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và việc vận dụng nó trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay.

1- Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Nội dung của chủ nghĩa DVBC thể hiện qua tất cả các qđiểm, quan niệm của nó song

có thể khái quát thành 2 qđiểm lớn: qđiểm duy vật về thế giới và qđiểm duy vật về xã hội

a) Quan điểm duy vật về thế giới

Cũng như những nhà duy vật trước đó, các nhà duy vật biện chứng khẳng định bảnchất của thế giới là vật chất nhưng vật chất không phải là một hay một số chất cụ thể màvật chất là thực tại khách quan, tức là tất cả những gì tồn tại ngoài ý thức, không phụ thuộcvào ý thức, quyết định sinh ra ý thức và được ý thức phản ánh

Từ quan niệm bản chất của thế giới là vật chất, các nhà duy vật biện chứng khẳngđịnh thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó

Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới thể hiện:

Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất tồntại khách quan, tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không sinh ra và không mất đi

Tất cả các bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ với nhau, chúng hoặc lànhững dạng tồn tại cụ thể của vật chất, hoặc có nguồn gốc từ vật chất, do vật chất sinh ra.Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi,chuyển hoá lẫn nhau, là nguyên nhân, kết quả của nhau

Mọi sự tồn tại, biến đổi, chuyển hoá của các dạng vật chất đều bị chi phối bởi cácquy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất

Những nội dung trên không phải là sáng tạo thuần tuý từ tư duy của các nhà duy vậtbiện chứng mà trước hết nó là sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên:

Từ phỏng đoán thiên tài về bảo toàn vật chất và bảo toàn vận động của Lômônôxốp;

từ việc chứng minh được bằng thực nghiệm sự bảo toàn khối lượng trong các phản ứnghoá học của ông và Lavoadiê đến định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của Maye

và hệ thống các định luật bảo toàn của vật lý học sau này là nền tảng khoa học cho kếtluận về tính bất sinh, bất diệt của thế giới vật chất

Từ phát hiện ra tế bào hữu cơ với tư cách là đơn vị sống của Svannơ và Slaiđen màcấu tạo và mọi quá trình phát sinh, phát triển của các cơ thể đã hiện ra theo quy luật

Từ phát hiện của Đácuyn về chuỗi tiến hoá của giới hữu sinh cùng một loạt các pháthiện khác trong vật lý học, hoá học, sinh học, thiên văn học đã dẫn đến phát hiện về cáchình thức vận động của Ph.Ăngghen với tư cách là luận cứ khoa học về các mối liên hệ phổbiến của vật chất đang biến đổi, đang chuyển hoá, đang là nguyên nhân, kết quả của nhau

Như vậy, đúng như các nhà duy vật biện chứng đã tổng kết, bản chất vật chất và tínhthống nhất vật chất của thế giới được chứng minh k phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻlàm trò ảo thuật, mà bằng một sự ptriển lâu dài, khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên

b) Quan điểm về xã hội

Xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, là tổng hợp những conngười hiện thực cùng tất cả các hoạt động, các quan hệ của họ

Đối với quá trình hình thành quan điểm duy vật về xã hội và cơ sở để xác định quanđiểm duy vật về xã hội V.I.Lênin viết: “Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩaduy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từchỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người”; Mác và Ăngghen nhậnthấy rằng, cũng như mọi hiện tượng trong giới tự nhiên đều có nguyên nhân vật chất, sựphát triển của xã hội loài người cũng do sự phát triển của lực lượng vật chất quyết định

Trang 15

Nội dung cơ bản quan điểm duy vật về xã hội thể hiện ở chỗ:

- Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên

Quán triệt quan điểm duy vật vào lĩnh vực xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứngkhẳng định: xã hội là một bộ phận đặc thù cho tự nhiên Chính sự phát triển lâu dài của tựnhiên đã dẫn đến ra đời con người và xã hội loài người Xã hội là sản phẩm phát triển caonhất và là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên Tính đặc thù của xã hội thể hiện ở chỗ,

nó có những quy luật vận động, phát triển riêng và sự vận động, phát triển của xã hội phảithông qua hoạt động có ý thức của con người đeo đuổi những mục đích nhất định

- Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt chính trị, tinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.

Phê phán quan điểm duy tâm, tôn giáo cho ý thức, tinh thần quyết định đời sống xãhội, quan điểm duy vật về xã hội cho rằng: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, làđiểm khác nhau căn bản giữa con người với động vật Lịch sử phát triển của xã hội gắn liềnvới lịch sử phát triển của sản xuất vật chất Sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử lạiđược tiến hành theo những phương thức sản xuất nhất định Từ đó quan điểm duy vật về xãhội đi đến khẳng định: phương thức sản xuất quyết định tất cả các mặt của đời sống xã hội,quyết định quá trình sinh hoạt chính trị và tinh thần nói chung; “không phải ý thức của conngười quyết định sự tồn tại của họ; trái lạ tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”

- Sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên

Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, một xã hội trọn vẹn trong từng giai đoạn lịch sử cụthể là một hình thái kinh tế - xã hội; mỗi hình thái kinh tế - xã hội gồm những mặt cơ bản

là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (mà những quan hệ sản xuất này tạo nên kết cấukinh tế hay cơ sở hạ tầng của xã hội) và kiến trúc thượng tầng

Trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất thường xuyên phát triển Khi lực lượngsản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợpvới trình độ mới của lực lượng sản xuất Lúc này, kết cấu kinh tế – tức cơ sở hạ tầng củ xãhội – thay đổi Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượngtầng Đến đây, tất cả các mặt cơ bản cấu thành một hình thái kinh tế - xã hội đã thay đổi.Hình thái kinh tế - xã hội này đã chuyển sang một hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn

- Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử

Sự vận động, phát triển của xã hội diễn ra theo các quy luật khách quan, nhưng phảithông qua hoạt động có ý thức của con người Trong hoạt động của con người không thểtách rời mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ, trong đó quần chúng nhân dânđóng vai trò quyết định, là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử Vai trò quyết định củaquần chúng nhân dân thể hiện ở chỗ: quần chúng nhân dân là lực lượng trực tiếp sản xuất

ra của cải vật chất; là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử; làngười sáng tạo ra các giá trị văn hoá tinh thần

Như vậy, qđiểm duy vật về XH là 1 hthống qđiểm thống nhất chặt chẽ với nhau, về sự

ra đời, tồn tại, vđộng ptriển của XH và các lực lượng thực hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra

2 - Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện ở việc giải quyết đúng đắnvđề cơ bản của triết học trên qđiểm thực tiễn, ở sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duyvật với phép biện chứng, ở quan niệm duy vật triệt để và ở tính thực tiễn – cách mạng của nó

a) Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại Ở đây, mối quan

hệ này được hiểu là mối quan hệ giữa ý thức và vật chất Về vấn đề này, trong khi chủnghĩa duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, coi ý thức là nguồn gốc của vật chất, sản

Trang 16

sinh ra vật chất thì với việc khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, chủ nghĩa duy vậttrước Mác đã góp phần không nhỏ vào việc chống lại chủ nghĩa duy tâm, đặt nền móngcho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật sau này Song, hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duyvật trước Mác là duy vật không triệt để (duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội) vàkhông thấy được sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên song nguyên nhân chủ yếu và cũng là

“khiếm khuyết chủ yếu” là các nhà duy vật trước Mác thiếu quan điểm thực tiễn1

Thực tiễn, với tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xãhội của con người nhằm cải tạo hiện thực mà những dạng cơ bản của nó là hoạt động sản xuấtvchất, hđộng chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học, được các nhà duy vật biệnchứng coi là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người Hoạtđộng này là mắt khâu trung gian trong mqhệ giữa ý thức của con người với thế giới vật chất

Thông qua thực tiễn, ý thức con người được vật chất hoá, tư tưởng trở thành hiệnthực Thông qua thực tiễn, ý thức con người đã không chỉ phản ánh thế giới mà còn “sángtạo ra thế giới” C.Mác cho rằng thực tiễn là nơi con người chứng minh sức mạnh, chứngminh tính hiện thực và tính trần tục của tư duy

Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức thế giới, đặc biệt việcthấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của

xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vậttrước đó để giải quyết thoả đáng vấn đề cơ bản của triết học Ở đây, trong khi khẳng địnhvai trò quyết định của các yếu tố vật chất, các nhà duy vật biện chứng đã “không loại trừviệc các lĩnh vực tư tưởng, đến lượt chúng, lại có thể tác động ngược trở lại, nhưng là tácđộng cấp hai lên những điều kiện vật chất ”; không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng “ cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

b) Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng

Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách khỏi nhau Chủnghĩa duy vật tuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chung ppsiêu hình giữ vtrò thống trị, đbiệt trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ thứ XVII – XVIII

Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở chủ nghĩa duy tâm với quanniệm về sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học cổ điển Đức

Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉ làm cácnhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiểu về mối liên hệ phổ biến,

về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất

Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổngkết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thoát thếgiới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâmthần bí để hình thành nên con người duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thếgiới quan duy vật với phép biện chứng Sự thống nhất này đã đem lại cho con người mộtquan niệm hoàn toàn mới về thế giới – quan niệm thế giới là một quá trình với tính cách làvật chất không ngừng vận động, chuyển hoá và phát triển

c) Quan niệm duy vật triệt để

Bất kỳ một học thuyết triết học nào cũng phải thể hiện quan niệm của mình về tựnhiên và xã hội

Khi giải quyết những vấn đề tự nhiên, chủ nghĩa duy vật trước Mác đứng trên quanđiểm duy vật vì các nhà duy vật đều khẳng định sự tự tồn tại của thế giới vật chất và thừanhận tính thứ nhất của vật chất Song, vì không hiểu đúng về vật chất, không hiểu đúngnguồn gốc, bản chất của ý thức, thiếu quan điểm thực tiễn, thiếu phương pháp tư duy biện

Trang 17

chứng và một số hạn chế khác về nhận thức, về lịch sử nên khi giải quyết những vấn đề về

xã hội, các nhà duy vật trước Mác đã lấy các yếu tố tinh thần như tình cảm, ý chí, nguyệnvọng, làm nền tảng Vì vậy, chủ nghĩa duy vật trước mác là chủ nghĩa duy vật k triệt để

Khẳng định nguồn gốc vật chất của xã hội; khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở củađời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị vàtinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hộiloài người là một quá trình lịch sử – tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phụcđược tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ V.I.Lênin nhận định rằng: “Trong khinhận thức sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗhoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hộiloài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoahọc”

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật duy vật lịch sử là cuộc cách mạng đối với quan niệm

về XH, nó đem lại cho con người 1 công cụ vĩ đại trong việc nhận thức và cải tạo thế giới

d) Tính thực tiễn – cách mạng

Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thể hiện ở:

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản

Giải cấp vô sản được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại1; nó

có lợi ích, có mục đích phù hợp với lợi ích cơ bản, mục đích cơ bản của nhân dân lao động

và sự phát triển của xã hội Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời đã được giai cấp vô sảntiếp nhận như tiếp nhận một công cụ định hướng cho hành động, như vũ khí lý luận trongcuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân loại Công cụ định hướngnày, vũ khí lý luận này đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào công nhân từtrình độ tự phát lên trình độ tự giác C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định: Giống như chủnghĩa duy vật biện chứng thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sảncũng thấy chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí tinh thần của mình2 nên ngay từ đầu, cáikhuynh hướng mới, coi lịch sử phát triển của lao động là chìa khoá để hiểu toàn bộ lịch sửcủa xã hội, đã chủ yếu hướng về giai cấp vô sản và đã được giai cấp vô sản giành cho một

sự hưởng ứng mà nó không tìm thấy và không mong chờ có được ở một nơi nào khác

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng k chỉ gthích thế giới mà còn đóng vtrò cải tạo TG.Bất kỳ một học thuyết triết học nào cũng không trực tiếp làm thay đổi thế giới màthông qua tri thức về thế giới, con người hình thành mục đích, phương hướng, biện pháp, chỉ đạo hoạt động của mình tác động vào thế giới

Bất kỳ học thuyết triết học nào cũng phải giải thích thế giới song để thực hiện đượcvai trò cải tạo thế giới học thuyết phải phản ánh đúng thế giới, phải định hướng hoạt độngcho con người phù hợp với quy luật, phải được quần chúng nhân dân tin và hành động theo.Nội dung và bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng đáp ứng được những yêu cầu này

Sức mạnh cải tạo thế giới của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện ở mối quan hệmật thiết với hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, với cuộc đấu tranh của giaicấp vô sản trên mọi lĩnh vực

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng của cái mới

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong quan niệm về tính hợp lý của cái hiện tồn

đã bao hàm cả quan niệm về sự phủ định, về sự diệt vong tất yếu của cái hiện tồn đó

Ph.Ăngghen cho rằng k có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Trên mọi sựvật và trong mọi sự vật đều mang dấu ấn của sự suy tàn tất yếu bởi k có gì tồn tại ngoài quátrình k ngừng của sự hình thành và tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao

Trang 18

Tính cách mạng sâu sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện qua việc nó phảnánh đúng đắn các quy luật chi phối sự vận động và phát triển; qua đó, quá trình xoá bỏ cái

cũ, cái lỗi thời để xác lập cái mới, cái tiến bộ hơn là tất yếu

Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện phong phú, đa dạngqua mỗi luận điểm của nó song có thể khái quát thành tư tưởng cơ bản là:

Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất; trong thế giới vậtchất, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức song ý thức có thể tác động trởlại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là kết quả của sự

tư biện mà là thành tựu hoạt động thực tiễn, thành tựu tư duy khoa học của nhân loại trongquá trình phản ánh thế giới Trên tinh thần ấy có thể khẳng định chủ nghĩa duy vật biệnchứng là cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học

Song, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ thống mở nên chúng ta không coi nó nhưmột cái gì đó đã xong xuôi hẳn, bất khả xâm phạm mà coi nó luôn cần được bổ sung, pháttriển trên nền tảng phát triển của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hànhđộng, nó đặt ra những yêu cầu có tính nguyên tắc phương pháp luận mà từ những nguyêntắc ấy con người phải vận dụng sáng tạo sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Câu 9 Nội dung cơ bản và một số nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật Sự vận dụng nó trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay.

1 - Tôn trọng nguyên tắc khách quan

Tôn trọng nguyên tắc khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất.Nguyên tắc này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tếkhách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động của mình

Một số biểu hiện của việc tôn trọng nguyên tắc khách quan là:

- Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốnchủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu củđời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể

Chỉ có những mục đích, đường lối, chủ trương xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhucầu và tính tất yếu của hiện thực mới đúng và mới có khả năng trở thành hiện thực

Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những thànhtựu đã đạt được, chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thực, vi phạm nhiều quy luật khách quantrong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, nên đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu, xácđịnh các bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế

Tổng kết qtrình lãnh đạo CM, Đảng ta đã rút ra kết luận mang tính định hướng là: “Mọiđường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”

Hiện nay, thực trạng trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp; cơ sở vật chất –

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ, chưa vững chắc; đời sống của nhân dân chưacao trong khi chúng ta có nhiều tiềm năng cả về tài nguyên thiên nhiên, con người cũngnhư các quan hệ trong và ngoài nước mà chúng ta chưa khai thác được một cách tốt nhấtthì việc Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chủtrương thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa là nhằm phát huy tối ưu tài lực, trí lực, nhân lực còn tiềm tàng ấy, nhằmtạo ra sự chuyển hoá về chất trong toàn bộ đời sống xã hội để đáp ứng nhu cầu mà thựctiễn cách mạng Việt Nam đang đặt ra

Ngày đăng: 18/07/2017, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w