Phân tích những qui định của pháp luật hiện hành về chủ thể quan hệ pháp luật hình sự.. Các yêu tố tác động đến năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật - Năng lực hành vi không
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Đề tài: CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật
Học phần: Lý luận nhà nước và pháp luận
Giảng viên phụ trách học phần: Trần Thị Diệu Hà
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM MỸ LINH
MÃ SINH VIÊN: 20A5010951 LỚP: Luật K44
THỪA THIÊN HUẾ
Số phách
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Đề tài: CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật
Học phần: Lý luận nhà nước và pháp luật
Ý 1
Ý 2
Ý 3
Ý 4
Ý 5
TỔNG
THỪA THIÊN HUẾ
Giảng viên chấm 1
( Ký rõ họ, tên)
Giảng viên chấm 2
( Ký rõ họ, tên)
Số phách
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Việc viết nên một bài tiểu luận là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, với sự hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của thầy cô Trường Đại học Luật – Đại Học Huế, kết hợp với quá trình trong thực tiễn, với sự cố gắng học tập và nỗ lực tìm tòi của bản thân
Lời đầu tiên em xin trình bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến tới Giảng viên Trần Thị Diệu Hà, người trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Luật – Đại học Huế và cố vấn học tập lớp Luật K44, bạn bè và các anh chị cùng khóa
và trong Trường Đại học Luật – Đại học Huế đã giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận này
Mặc dù đã có sự nổ lực cố gắng của bản thân, bài tiểu luận sẽ không tránh những thiếu sót Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành tư quý thầy cô, bạn bè để bài tiểu luận cua em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả tiểu luận
Phạm Mỹ Linh
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT 3
1.1 Phân tích khái niệm về chủ thể quan hệ pháp luật 3
1.2 Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật: 3
1.3 Năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật 3
1.4 Các yêu tố tác động đến năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật 4
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUNG VỀ CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 5
2.1 Phân tích những qui định của pháp luật hiện hành về chủ thể quan hệ pháp luật hình sự 5
2.1.1 Chủ thể phạm tội là cá nhân 5
2.1.1.1 Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân 6
2.1.1.2 Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự 6
2.1.2 Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại 6
2.1.2.1 Năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại 6
2.1.2.2 Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại 7
2.2 Phân tích thực trạng năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật trong một lĩnh vực pháp luật cụ thể 7
2.2.1 Về chế tài xử phạt hành chính 8
2.2.2 Về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội 11
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trên con đường hội nhập và phát triển vào nền kinh tế khu vực vực và quốc tế Việt Nam đã từng bước thảo bỏ rào cảng về mặt thủ tục hành chính, thuế, Các doanh nghiệp trong nước hiện đang phải đối mặt với sự cạnh tranh của nhiều công ty, tập đoàn lớn của nhiều quốc gia đang và đã đầu
tư tại Việt Nam với hàng loạt dự án lớn Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WHO Hiện nay, khu vực kinh tế dân doanh là khu vực phát triển nhất và tạo ra nhiều việc làm nhiều nhất cho nền kinh tế và tạo động lực chủ yếu, bền vững cho sự phát triển dài hạn của nền kinh tế Việt Nam
và bối cảnh toàn cầu Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các chủ thể kinh doanh và các chủ thể quan hệ pháp luật là một điều kiện then chốt, đòi hỏi bắt buộc để phát triển kinh tế
Trong hệ thống các chủ thể quan hệ pháp luật, ngoài chủ thể là con người hoặc chủ thể được coi là thể nhân có các chủ thể khác thực hiện pháp lý có chủ thể là tư cách pháp nhân Pháp nhân là một loại chủ thể có quan hệ pháp luật độc lập với các chủ thể khác và là thành viên của pháp nhân, pháp nhân ra đời
là để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và hoạt động lập pháp Các pháp nhân tham gia tích cực vào các chủ thể chủ yếu trong các hoạt động kinh tế, hoạt động quản lý nhà nước trên cơ sở nhà nước tôn trọng tự do ý chí, tự do hội nhập của công dân Có thể nhận định rằng trong các quy định của pháp luật hiện hành chưa thấy một học thuyết xuyên suốt vè pháp nhân Những người thực thi pháp luật, các nhà thực thi pháp luật chưa thống nhất các đặc trưng cơ bản của tiêu chí để xác định tư cách pháp nhân của tổ chức, cũng như là quyền và nghĩa vụ tham gia tư cách pháp nhân về dân sự, kinh tế và hình sự
Trang 7Với mục đích tiếp cận tư cách pháp nhân dựa trên lý luận và thực tiễn pháp
luật ở Việt Nam đề tài “ Chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự” sẽ nghiên
cứu sâu về vấn đề tư cách pháp nhân của pháp luật hình sự
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1.1 Phân tích khái niệm về chủ thể quan hệ pháp luật
Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể, theo những điều kiện do pháp luật quy định, tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định
Điều kiện đối với chủ thể:
+ Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi; + Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể có các quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định;
+ Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể bằng chính hành vi của mình theo quy định của pháp luật xác định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý
do pháp luật quĩa vụ pháp lý do pháp luật qu định
1.2 Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật:
Gồm cá nhân và tổ chức:
+ Cá nhân: Bao gồm công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch, trong đó công dân là chủ thể phổ biến của hầu hết các quan hệ pháp luật + Cá nhân muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
1.3 Năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
- Năng lực pháp luật của cá nhân có những đặc điểm sau:
+ Năng lực pháp luật của cá nhân gắn liền với mỗi cá nhân, có từ lúc cá nhân đó sinh ra và chỉ chấm dứt khi cá nhân đó chết hoặc bị coi như đã chết Pháp luật không phải là thuộc tính tự nhiên của cá nhân mà là phạm trù xã hội, phụ thộc vào ý chí của nhà nước
Trang 9+ Năng lực pháp luật của cá nhân có thể bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định như hình phạt bổ sung là cấm cư trú trong luật hình sự
- Năng lực hành vi của cá nhân có những đặc điểm sau:
+ Để có năng lực hành vi hoặc có đủ năng lực hành vi cá nhân phải đạt đến độ tuổi nhất định tùy từng lĩnh vực do pháp luật quy định Ví dụ: Trong lĩnh vực luật dân sự, cá nhân có năng lực hành vi khi cá nhân đó đủ 6 tuổi, còn năng lực hành vi đầy đủ khi cá nhân đó đủ 18 tuổi
+ Để có năng lực hành vi, cá nhân phải có phả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Những người bị mất trí hoặc mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức thì coi là người mất năng lực hành vi
+ Yếu tố gắn liền với năng lực hành vi là cá nhân phải có khả năng thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức xuất hiện đồng thời cùng một lúc khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp và mất đi khi tổ chức đó
bị giải thể, phá sản
1.4 Các yêu tố tác động đến năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
- Năng lực hành vi không giống như năng lực pháp luật bởi vì năng lực pháp luật của mọi cá nhân là như nhau, nhưng năng lực hành vi của mọi người khác nhau, có thể căn cứ vào các yếu tố sau để phân biệt:
+ Độ tuổi
+ Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
+ Khả năng thực hiện hành vi và chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUNG VỀ CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 2.1 Phân tích những qui định của pháp luật hiện hành về chủ thể quan hệ pháp luật hình sự
- Theo Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung 2017 ) có quy định
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự
2.1.1 Chủ thể phạm tội là cá nhân
Chủ thể của tội phạm trước hết là con người và con người đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự Cụm từ “năng lực trách nhiệm hình sự” đã bao hàm người đó phải đạt tuổi chịu trách nhiệm hình sự Năng lực trách nhiệm hình sự
là năng lực tự ý thức ý nghĩa xã hội của hành vi nguy hiểm cho xã hội, khả năng điều khiển hành vi đó của mình cũng như khả năng gánh lấy hậu quả là trách nhiệm hình sự từ hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình Con người từ khi mới sinh ra có thể đã có năng lực nhận thức về thế giới Tuy nhiên, phải đạt đến
độ tuổi nhất định thì con người mới có năng lực trách nhiệm hình sự Yêu cầu này phù hợp với nguyên tắc lỗi mà luật hình sự Việt Nam đã xác định khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đồng thời cũng phù hợp với nguyên tắc quyết định hình phạt và chính sách hình sự của nước ta Chỉ có con người cụ thể, phát triển bình thường đến một độ tuổi nhất định thì mới có thể
Trang 11nhận thức được những gì mình làm và việc áp dụng hình phạt đối với họ mới mang lại hiệu quả (cải tạo, giáo dục) được Bên cạnh các dấu hiệu chung của chủ thể của tội phạm như đã nêu, một số tội phạm cụ thể được quy định trong
Bộ luật hình sự còn đòi hỏi các dấu hiệu đặc biệt Trong khoa học Luật hình sự, chủ thể đó gọi là chủ thể đặc biệt
2.1.1.1 Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân
Một người có thể là chủ thể của tội phạm khi người đó phải có khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của mình và khả năng điều khiển hành vi đó theo những yêu cầu chung của xã hội Năng lực nhận thức có
ở mỗi con người từ khi mới sinh ra Nó phát triển và hoàn thiện theo sự phát triển của cấu tạo sinh học cơ thể con người qua quá trình lao động và giáo dục trong xã hội Đến một thời điểm nhất định trong đời sống của con người thì năng lực này mới được xem là tương đối đầy đủ
2.1.1.2 Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Theo điều 12 của BLHS 2015 ( sửa đổi bổ sung 2017 ) quy định độ tuổi người đủ từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này quy định khác
2.1.2 Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại
2.1.2.1 Năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Theo điều 74 của BLHS 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017 ) đối với pháp nhân thương mại phạm tội “Pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.” VD: Một tổ chức được gọi là pháp nhân thương mại khi pháp nhân đó được thành lập hợp pháp và mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
Trang 12=> Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại xuất hiện từ thời điểm pháp nhân này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhân tư cách pháp nhân ( ngày giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực, giấy chứng nhân đăng ký kinh doanh có hiệu lực…)
2.1.2.2 Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Bộ luật hình sự 2015 quy định điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại khi:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2
và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này
- Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân
2.2 Phân tích thực trạng năng lực của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật trong một lĩnh vực pháp luật cụ thể
Thực trạng của pháp nhân thương mại trong luật hình sự
Đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính sách
xử lý đối với một số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội, đảm bảo các quy định của Bộ luật hình sự không chỉ là công cụ pháp lý để các cơ quan chức năng đấu tranh, trấn áp tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý để mọi người dân tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội Sau nhiều năm nghiên cứu và đề xuất, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được Quốc hội chấp thuận bổ sung vấn đề này vào trong Bộ luật hình sự, góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân
Trang 13trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại
do các vi phạm của pháp nhân gây ra Cơ sở của những quy định này xuất phát
từ yêu cầu cần xử lý nghiêm khắc hơn với những hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân cũng như những bất cập của hệ thống pháp luật trong việc xử lý vi phạm pháp nhân ở Việt Nam trong những năm gần đây và những thách thức đặt ra khi chúng ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống khu vực và quốc
tế Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, nền kinh tế của Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ gồm nhiều thành phần, trong
đó nhiều tổ chức kinh tế đã được hình thành từ các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đến các doanh nghiệp tư nhân Điều
đó đã tạo ra những thành tựu to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước
ta Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đã xuất hiện ngày càng nhiều những hành
vi tiêu cực, vi phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vực, gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, thậm chí đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội Thực tế cho thấy những hậu quả đó trong nhiều trường hợp không phải là kết quả của hành vi mang tính cá nhân mà là kết quả của những quyết định mang tính tập thể của doanh nghiệp; lợi ích có được từ những hành vi vi phạm pháp luật không thuộc
về một cá nhân nào mà thuộc về doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế Trong nhiều trường hợp, hậu quả thiệt hại do pháp nhân gây ra nếu chỉ xử lý cá nhân người phạm tội thì quyền lợi của người bị hại không được bảo vệ
2.2.1 Về chế tài xử phạt hành chính
- Luật Xử lý vi phạm hành chính đã qui định nhiều biện pháp xử lý đối với pháp nhân vi phạm pháp luật, nhưng với các mức xử lý và biện pháp xử lý được qui định cho thấy nó vừa thiếu tính răn đe lại vừa không đầy đủ, cùng với thủ tục xử phạt không đảm bảo tính minh bạch Với mức phạt tiền rất hạn chế đối với pháp nhân đã không có tác dụng ngăn chặn vi phạm, nhất là đối với