1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bình luận bộ luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam (NXB lao động 2010) đinh thế hưng, 65 trang

65 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 4,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, qua quy định này Bộ luật Hình sự loại trừ việc áp dụng Luật Hình sự theo nguyên tắc tương tự mà các vãn bản pháp luật hình sự trước đây đã quy định như pháp lệnh trừng trị các

Trang 1

VIỆN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Ths Đinh Thê Hưng -ThS Trần Văn Biên

BlNHLUÂN

BỘLUÂTHÌNHSỰ

ĐÃ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 2009

Trang 2

BÌNH LUẬN

BÔ LUÂT H ÌN H S ư

Trang 3

VIỆN NHÀ NUỒC VÀ PHÁP LUẬT Thạc sỹ: ĐINH TH Ế HƯNG - Thạc sỹ: TRẦN VĂN BIÊN

BÌNH LUẬN

NĂM 1999 SỬA ĐỔI, BỐ SUNG NĂM 2009

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

pộ luật Hình sự năm 1999 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000) đen uiy đã góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạt?; bào vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, báo vệ quyển và lợi ích hợp pháp cùa công dân, cùa các cơ quan, tó chức; xây dựng nếp song và làm việc heo pháp luật, phục vụ hiệu quả công cuộc xây dựng và phát triến đất nước Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, nhất là trước sự thay đôi nharh chóng cùa tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội trong quá trình chù động hội thập quốc tế cùa nước ta, nhiều quy định cùa Bộ luật Hình sự năm 1999

đã bk' lộ những điểm vướng mắc, bất cập, hạn chế nhất định.

Jrước tình hình đó, ngày 19/6/2009, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Sửa đồi, bố sung một so điều cùa Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm thế chế ĩóa chính sách hình sự nhân đạo cùa Đáng và Nhà nước ta, cập nhật đề hình sự hóa một số hành vi mới đang gây nguy hiếm cho xã hội, cũng như phi íìnlì sự hóa một sổ hành vi bị coi là tội phạm trong Bộ luật Hình sự

tu m 1999 Việc ban hành Luật Sửa đôi, bô sung một sổ điểu cùa Bộ luật Hbìt sự năm 1999 là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện

phÚỊ luật hình sự cùa Nhà nước ta, đáp img yêu cầu đau tranh và phòng,

chồ ta tụi phạm trong tình hình mới.

Dế góp phần nâng cao nhận thức chung về pháp luật hình sự, cung cấp tòi lệu cho bạn đọc tìm hiếu về nhữĩig nội dung cơ bản cùa Bộ luật Hình sự hiện hành, cũng như nhừttg điếm mới vừa được sửa đổi, bô sung của Bộ luật nàv, Nhà xuất bàn Lau Động xuất bàn cuốn sách: Bình luận Bộ luật

ỉỉìn i s ự năm 1999 (sửa đổi, bỗ sung năm 2009) Cuốn sách do các nhà nẹ/lên cứu đến từ Viện Nhà nước và Pháp luật biên soạn.

Kin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Tháng 12 năm 2010

NHÀ XUẨT BẢN LAO ĐỘNG

Trang 5

BÌNH LUẬNPHẨN CHUNG

Chương I

_ ĐĩỂU KHOẢN Cơ BẢN _

Chương này gồm 4 điều nhưng đều là những điều rất quan trọng với

ý nghĩa là những điều khoản cơ bản quy định: Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự; cd sở của trách nhiệm hình sự; nguyên tắc xử lý; trách nhiệm đấu t'anh phòng ngừa và chống tội phạm

ĐIỂU 1 NrilỆM VỤ CỦA BỘ LUẬT HÌNH sự

B) luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm (hủ của nhân dân, bảo vệ quyền binh đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bỉo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tô chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đing thời giáo dục mọi người có ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Đĩ thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối vá người phạm tội.

b Nhiệm vụ đấu tranh chông và phòng ngừa tội phạm;

c; Nhiệm vụ giáo dục mọi người nâng cao ý thức tuân theo pháp luật, ohòng ngừa và chống tội phạm

B) luật Hình sự bảo vệ những quan hệ nhất định bàng cách nêu ra nhữnỉ hành vi xâm hại những quan hệ đó, mức độ nguy hiểm cho xã hội như tiế nào là tội phạm và quy định hình phạt cần phải áp dụng đối vái

Trang 6

người phạm tội Từ đó làm căn cứ pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và cho việc ốp dụng pháp luật của các Toà án đối vối người thực hiện tội phạm.

Khi nêu ra tội phạm và quy định hình phạt tương ứng đố thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, Bộ luật Hình sự thực hiện nhiệm vụ đáu tran h chông tội phạm và phòng ngừa không để tội phạm xảy ra, đồng thời qua đó cũng giáo dục động viên mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

ĐIỂU 2 Cơ Sỏ CỦA TRÁCH NHIỆM HÌNH sự

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy đính mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luân:

Cản cứ vào nội dung của điểu luật cho thấy: Cơ sở của trách nhiệm hình sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm Mặt khác, qua quy định này Bộ luật Hình sự loại trừ việc áp dụng Luật Hình sự theo nguyên tắc tương tự mà các vãn bản pháp luật hình sự trước đây đã quy định (như pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng từ ngày 30/10/1967, 2 pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970).Nguyên tắc tương tự về luật là nguyên tắc cho phép đốì với hành vi nguy hiểm cho xã hội xét thấy cần thiết phái xử phạt mà chưa có diều luật quy định là tội phạm thì có thô vận dụng diểu ỉuật về một LỘI phạm cùng tính chất và được biểu hiện bằng những hành vi gần giống hay gọi

là điều luật quy định tội phạm tương tự Việc áp dụng nguyên tắc tương

tự về luật là có tác động tích cực trong điều kiện trước đây Nhà nước ta chưa có Bộ luật Hình sự hoàn chỉnh Trong quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự, có ý kiến cho rằng Nhà nước ta nên duy trì nguyên tắc đó để khỏi bó tay, vì chúng ta chưa thể bảo đảm là đã dự kiến hết mọi hình thức phạm tội có thể xảy ra trong tình hình tội phạm phức tạp hiện nay

và vì việc bổ sung pháp luật khi thấy cần thiết khó có thể thực hiện dược nhanh chóng

Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng không cần thiết phải duy trì nguyên tắc này Vì với kinh nghiệm của quá trình đấu tranh chống tội phạm và tham khảo kinh nghiệm của các nưổc anh em, vê cơ bản chúng

ta có thể dự kiến hết các hình thức tội phạm, nhất là các tội phạm nghiêm trọng Nếu gặp trường hợp cá biệt xảy ra và thấy cần th:êt phải

xử phạt một hình thức tội phạm mới, mà Bộ luật Hình sự chưa dự kiến

Trang 7

được thì phải nhanh chóng bố sung pháp luật, qua đó củng cố và kiện toàn công tác xây dựng pháp luật Mặt khác cũng cần lưu ý là Bộ luật Hình sự của nhiều nước trên thế giói không quy định việc áp dụng nguyên tắc tương tự vê luật và Liên hợp quốc đã có văn kiện quy định:

"Khcng một ai có thể bị kết tội về những hành động hoặc không hành động nếu khi xảy ra theo Luật trong nước hay L uật quốc tế, không cấu

th à m một hành vi phạm tội"

'Irưốc đây, Bộ luật Hình sự đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ Ighĩa Việt Nam thông qua ngày 27/6/1985 có hiệu lực kể từ ngàv 1/1/1986 quy định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Luật Hình sự quy lịnh mối phải chịu trách nhiệm hình sự " là có ý nghĩa dự kiến tình lìn h khi có yêu cầu khẩn trương thì Hội đồng Nhà nước cản cứ vào điểu 100 (điểm 4 hoặc đoạn cuôi cùng) của Hiến pháp ra Pháp lệnh quy định một tội phạm mới và cùng Quôc hội phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất của Quôc hội đê bô sung vào Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, quy định này chông phù hợp vói Điều 8 khoản 1 của Bộ luật Hình sự: "Tội phạm

là hỉnh vi đã được quy định trong Bộ luật Hình sự " Vì vậy, Bộ luật Hìnl sự 1999 quy định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hìnl sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" Điều này có nghĩi là việc xác định tội phạm và quy trách nhiệm hình sự cho một ngưò nào đó cần phải căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự chứ chông phải căn cứ vào Luật hình sự Đây là cái môc đánh dâu sự phát t riển và hoàn thiên của Luật hình sự Việt Nam Qua kinh nghiệm đấu -ranh phòng ngừa và chống tội phạm gần nửa thê kỷ của chính

quyến nhân dân ở nưốc ta, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu

của )háp luật hình sự tiến bộ trên thê giới, cho phép Nhà nước ta dự kiến một cách đầy đủ các tội phạm quy định vào Bộ luật Hình sự và coi

đó lè cơ sở duy n h ất để truy cứu trách nhiệm hình sự đôi với một người

đã tỉực hiện h ành vi nguy hiểm cho xã hội Không áp dụng pháp luật tươnỊ tự là yêu cầu của n g u y ê n tắc pháp chế, bảo đảm cho pháp luật hình sự được áp dụng thông nhâ't Đó củng là một tiêu chuẩn của Luật Hìnl sự tiến bộ và văn minh

Trang 8

Nghiêm trị người chủ mứu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cô chống đối,

lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạ.Tì đê

phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tô chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

Khoan hòng đôi với người tự thú, thành khấn khai báu, tô giác n,gười

đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa /hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.

3 Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, th ì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hinh phạt từ, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đinh giám sát, giáo dục.

4 Đôi với người bị phạt tù thi buộc họ phải chấp hành hình p h ạ t trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thi xét để giảm việc chấp hành hình phạt1:

5 Người đã chấp hành xong hỉnh phạt được tao điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiệm do luật định thì được xoá án tích.

Bình luân:

Điều 3 đề cập đến nguyên tắc xử lý, thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nưóc ta đối với mọi hành vi phạm tội, từ khi xảy ra cho đến khi người có hành vi phạm tội bị kết án và chấp hành xong hành phạt Điểu này phản ánh kết quả thực tiễn chống và phòng ngừa tội phạm ở đất nước ta

Có ý kiến cho là không cần quy định Điều 3 này vì nó chung chưng, không quy định gì cụ thể về mặt pháp lý; cần vận dụng diều này vào ctác điều mối về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vào việc quy định các tội phạm cụ thể ; các khoản 3 và 4 quy dịnh trùng với Luật Tô tụng hành

sự, việc nêu ra những con người cụ thể trong khoản 2 về nguyên tắc: xử

lý và thiếu khách quan về mặt kỹ thuật lập pháp, lẽ ra chỉ nêu các loại hành vi

Sự thật Điều 3 được khẳng định là rất cần thiết, vì nó thể hiiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nưốc ta và là tư tưởng chỉ đạo t(Oàn

bộ Bộ luật Hình sự Cũng có thể vận dụng tinh thần của Điều này vào các điều khoản khác, nhưng chính sách hình sự sẽ không được tập trung, không làm nổi bật được, do đó khó có căn cứ rõ ràng để giáo dlục, quán triệt Các văn bản pháp quy về hình sự ban hành trước kia đềui có nhiều điều khoản nói đến chính sách hình sự, nhưng không đầy đủ, không toàn diện vì mỗi văn bản pháp quy có một yêu cầu nội dung riêmg Nay Bộ luật Hình sự hoàn chỉnh không thể bỏ qua dịp thể hiện chánh

Trang 9

sách lình sự một cách toàn diện Luật Hình sự là luật về nội dung, Luật Tô" tụng hình sự là luật vê hình thức Hai luật đó có khác nhau và không thể trùng lặp nhau được Nhưng hai luật đó lại có mốì quan hệ chặt chẽ

VỎ1 nhau và phải dựa vào nhau dê tồn tại Do đó nếu chính sách hình sự được thê hiện một cách toàn diện trong Luật Hình sự, thì không thể không đề cập phần nào đến lĩnh vực tố tụng hình sự Chính sách hình

sự thiờng thường nhắm vào hành vi, nhưng nếu có để cập đến loại người nào (ví dụ lưu manh, côn đồ) thì cũng là nói đến hành vi phản ánh bản chất của những con người này

Khoản 1 của điểu luật nêu đường lối chung của nguyên tắc xử lý Hành vi phạm tội của bất cứ ai cũng đều phải được phát hiện kịp thời, ai cũng có quyền phát hiện và phát hiện vê bất cứ ai c ầ n hết sức khắc phục tình trạng có hành vi phạm tội còn được giấu giếm hoặc không bị phát liên Hành vi phạm tội đã được phát hiện thì phải được điểu tra kỹ lưỡng để có kết luận rõ: đúng, sai, tính chất và mức độ của hành vi Hành vi phạm tội đã được kết luận rõ ràng thì phải được xử lý nhanh chóng, công minh Tuỳ theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội*mà áp dụng biện pháp xử lý khác nhau, bảo đảm cho mọi hành

vi phim tội phải được xử lý theo đúng pháp luật, đồng thời không để một còng dân nào bị xử lý trái pháp luật, không để lọt người phạm tội, khônp làm oan sai người vô tội

P ìá t hiện kịp thời cùng với điểu tra kỹ lưỡng, kết luận rõ ràng vê tội phạm phải dẫn tối kết quả và xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp Aiật, đó là các yêu cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau và hình thành đườnÉ lối chung của nguyên tắc xử lý mọi hành vi phạm tội

Đ)i với hành vi được kết luận rõ ràng là phạm tội, việc xử lý nhanh chóng công minh phải tuân theo chính sách cơ bản được thế hiện một cách lổng hợp trong nhiều chỉ thị, Nghị quyết của Đảng là: "Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật"; "trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp vối giáo dục, cải tạo" và được thể hiện một cách

cụ thí' thành nguyên tắc trừng trị quy định tại khoản 2

C iính sách này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ những thành quả của chủ nỉhĩa xã hội, đồng thòi chống mọi sự phá hoại của kẻ thù bên ngoài

và bê'1 trong, từ yêu cầu đấu tranh chôYig tội phạm, một tất yếu khách quan, một quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là thể hiện đức tính

t r u y ề n thống nhân ái, độ lượng của dân tộc ta, đồng thời cũng xuất phát

từ thục tế tình hình hàng ngũ những người phạm tội, chông chính quyền nhân lân và người phạm tội khác

Trang 10

Trong sô những người phạm tội chông chính quyền nhân dân có loại đặc biệt nguy hiểm do ý thức căm thù sâu sắc đôi với cách mạng Họ thường là những người chủ mưu, cầm đầu, chi huy, là nhửng người ngoan cô" chống đối đến cùng Nhưng cũng có loại có tính nguy hiếm hạn chế, do trình độ nhận thức chính trị nông cạn do bị mô hoặc, lừa phình, lầm đường mà tham gia tổ chức chống chính quyền nhân dân nửa chừng dễ sinh giao động, không dám dấn sâu vào con đưòng phạm tội; có loại sau khi phạm tội tỏ ra ăn nản, tự thú, thật thà khai báo tô giác đồng bọn lập công chuộc tội.

Trong những người phạm tội khác có loại rất nguv hiểm như bọn lưu manh, côn đồ, những ngưòi biến chất, sa đoạ lợi dụng chức vụ quyển hạn để phạm tội, những người phạm tội có tô chức, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng Mặt khác có loại có tính nguy hiểm hạn chế như: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, tự thú và thật thà khai báo, tô giác đồng bọn, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra

Nghiêm trị hay trừng trị nghiêm khắc trong tình hình hiện nay phải

là quán triệt tình hình, nhiệm vụ và thấu suốt yêu cầu của C1UỘC đấu tranh chông tội phạm trong giai đoạn cách mạng mới; nhằm trúng những đôi tượng cần phải kiên quyết trấn áp, đã thể hiện mộl cách khái quát ở khoản 2 của Điểu luật

Nghiêm trị không có nghĩa là nhâ't thiết phái xử tử hình hoặc tù chung thân, mà phải cân nhắc, đánh giá đúng đắn tính chất nghiêm trọng của tội phạm, tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân thâ n ngườiphạm tội và trong phạm vi đường lối phốp luật đối tượng từng phạm tội

cụ thể, có quyết định trừng trị nghiêm khắc, không do dự, không rụt rồ

Có loại xứng đáng được khoan hồng bằng nhiều cách như: Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc tuyên án nhẹ tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội Những người phạm tội cần được giáo dục cải tạo để họ trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội

Trấn áp và trừng trị cùng với khoan hồng và giáo dục cải tạo là hai mặt có quan hệ và phải kết hợp chặt chẽ với nhau Có kiên quyết nghiêm trị những người phạm tội nguy hiểm thì mái có điểu kiện xử lý khoan hồng rộng rãi đối với những phạm tội ít nguy hiểm Ngược lại, càng khoan hồng rộng rãi những người không chủ mưu thì lại càng có điểu kiện phân hoá cao độ những người chủ mưu, cầm đầu, cô lập những người phạm tội nguy hiểm đặc biệt Mặt khác, dù là nghiêm trị hay khoan hồng đều phải thể hiện được tính giáo dục, cải tạo Điều đó có nghĩa không vùi dập người phạm tội, không dồn họ vào con đường cùng, mà là nâng đỡ, m ở đường

Trang 11

cho 1( trở lại thành người công dân lương thiện Nó có tác dụng phòng

ngừi riêng đối với người phạm tội và cũng có tác dụng phòng ngừa chung

đối VỈ1 những người đang có ý định phạm tội

Cũng nhằm mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, tính giáo dục, cải tạo còn được thế hiện trong những trường hợp khác nhaL như:

• Đối với những người có hành vi nguy hiểm ít nghiêm trọng như: Lần đầu phạm tội, ít nghiêm trọng và đã hổi cải, thì có thể áp dụng nhữrg hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù hoặc áp dụng biện pháp không phạt tù như giao họ cho các cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội giáo dục hoặc cho gia đình giám sát, giáo dục (khoản 3)

• Đối với những người bị phạt tù đang chấp hành hình phạt trong

trại ỊÌam mà lao động cải tạo tốt, có nhiều tiến bộ, có thể xét để giảm

việc :hấp hành hình phạt (khoản 4)

Đối với những người đã chấp hành xong hình phạt thì tạo điều kiện cho 1Ọ làm ăn, sinh sống lương thiện, khi họ có đủ điều kiện do luật định thì xoá án (khoản 5)

ĐIỂl 4 TRÁCH NHIỆM ĐẤU TRANH PHÒNG NGỪA VÀ CHÔNG TỘI PHẠM

Các cơ quan Công an, Kiêm sát, Toà án, Tư pháp, Thanh tra và các (ơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng,

nhiện vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của

Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chông tội phạm, giárr sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.

ỉ Các cơ quan, tô chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quy in quản lý của minh nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuâr theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sông xã hội chủ ngha; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạn trong cơ quan, tố chức của mình.

ì Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đâu tranh phòng ngừi và chông tội phạm.

Trang 12

Trước hết đó là trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn mà chủ yếu là các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án, Tư pháp và Thanh tra phải thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình; phải bàng những biện pháp nghiệp vụ của mình, một mặt dựa vào tính tích cực <‘ách mạng của quần chúng để thẩm tra kỹ lưỡng; kết luận rõ ràng nhữníĩ tội phạm được phát hiện và vận dụng những đường lối xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và kịp thòi Mật khác các cơ quan này phải hướng dẫn, giúp đõ các cơ quan khác của Nhà nước, các tổ chức x ã hội và công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các cơ quan chuyên môn phải là chỗ dựa cho cuộc đâu tranh cách mạng này của quần, chúng.Các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội có trách nhiệm vê mọi hành vi phạm tội của những người thuộc quyền quản lý của mình Tuỳ theo nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh thục hiện tội phạm và tính ehất của tội phạm đó là trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự của cơ quan, tổ chức xã hội hoặc là trách nhiệm hình sự của thủ trưởng hay cán

bộ phụ trách (ví dụ theo Điều 204, 205 Bộ luật Hình sự)

Vì vậy các cơ quan Nhà nước và các tồ chức xã hội có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác,

ý thức bảo vệ

Trang 13

Chương n

HIỆU Lực • • CỦA Bộ LUẬT HÌNH • • s ựt

Gương II của Bộ luật Hình sự có 3 điểu (5, 6, 7) thông qua việc xác

đ ịn h ú ệ u lực của Bộ luật Hình sự nói lên chủ quyền của N hà nước ta về

m ậ t juật h ìn h sự

ỉiệu lực của Bộ luật Hình sự được xem xét dưới hai khía cạnh Hiệu lực c a Bộ lu ậ t H ình sự theo không gian, tức là Bộ lu ậ t H ình sự có hiệu lực ởihững nơi nào và đối với những ai? (Điêu 5 và Điều 6)

íiệu lực của Bộ lu ật Hình sự theo thời gian, tức là Bộ lu ậ t Hình sự

có hiu lực từ lúc nào? (Điều 7)

ĐIỂU5 HIỆU Lực CỦA BỘ LUẬT HỈNH sự Đốl VỚI NHỮNG HÀNH VI HẠM TỘI TRÊN LÃNH THổ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

1 Bộ lu ậ t H ìn h sự được áp dụn g đối với mọi h à n h vi p h ạ m tội thực hiện rèn lã n h th ổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt N am

2 Đối với người nước ngoài p h ạ m tôi trên lãnh th ổ nước Cộng hoà xã

hội c.ủ nghĩa Việt Nam thuộc đôi tượng được hưởng các quyển miễn trừ ngoạ giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt

N am theo các điều ước quốc tế mà nước Chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa Việt

N am ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, th ì vấn đề trách

nhiệr h ìn h s ự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

B ìn H u â n

l ũ kho ản 1 của Điều luật, Bộ luật H ình sự V iệt N am có hiệu lực đôi vi mọi h à n h vi phạm tội của bất cứ ai thực hiện trê n lãn h thổ nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nói cách khác, Bộ lu ậ t H ình sự Việt >ỉam có hiệu lực trê n toàn bộ lãnh th ổ Việt N am đối vói n h ữ n g hànhvi p h ạm tội của những người sau đây: Công d ân Việt N am , người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền miễn tr ừ về xét xử

h ìn h iự của Việt Nam) và người không quổc tịch Đó là theo nguyên tắc lãnh hổ

Trang 14

Khái niệm lãnh thổ Việt Nam đã được Điếu 1 Hiến pháp năm 1992 chỉ rõ bao gồm: Đất liền, vùng trời, vùng biên và các hái đao Theo tuyên bô của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 và theo Luật pháp quốc tế có thê nói rõ lãnh thô Việt Nam bao gồm:

- Đất liền tròng biên giới Việt Nam

- Vùng tròi Việt Nam tức là không gian bên trôn đất liền, bên trên các vùng biển, thềm lục địa và các hái đáo Việt Nam

- Các vùng biển (lãnh hài, vùng tiếp giáp lãnh hải vùng đặc quyền kinh tể) và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thô Việt Nam ở ngoài vũng lãnh

hải cùng với lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyển kinh tế và thềm lục địa

- Lòng đất Việt Nam, tức ìà khoảng bên dưới đất liền, các vùng biển, các hải đảo và quần đảo thuộc lãnh thố Việt Nam

- Những tàu quân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đi lại mang cò Việt Nam và các xuồng của chúng, dù là ở đâu

- Những tàu không phải là tàu quân sự của nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam đi lại trên biển cả mang cờ Việt Nam.

- Những máy bay của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ở hay không bay trên lãnh thô nước ngoài

Hành vi phạm tội được coi là thực hiện trôn lãnh thổ nước Việt Nam khi hành vi ấy hoặc hậu qiia L'ủa hố xẩy ra trễh laiili thố Việt Nam tức

là những trường hợp sau đây:

- Tội phạm bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam Đây là trường hợp thông thường, tội phạm đượe thực hiện và hoàn thành trên lãnh thổ Việt Nam, người thực hành và mọi đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm theo Bộ luật Hình sự Việt Nam

- Tội phạm bắt đầu trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng sẽ kết thúc ngoài lãnh thổ Việt Nam Đó là những trường hợp phạm tội trong đó thiệt hại không thể phát hiện hoàn toàn đầy đủ ngay tức khắc và tại nơi nó đã được thực hiện

- Tội phạm bắt đầu ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng hậu quả đã xảy

ra hoặc phải xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam Ví dụ: Đặt mìn nổ chậm trên máy bay hoặc xe lửa ở ngoài lãnh thổ Việt Nam đe mìn nổ khi máy bay, xe lửa vào Việt Nam đó là trường hợp phạm tội trong đó thiệt hại

gây ra cho khách thể bị xâm hại không phải ở tại nơi mà người có lỗi

trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội

Trang 15

Mật khác, theo khoản 1 của Điều luật thì:

- Người nưốc ngoài và người không quốc tịch (tức là người thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thố Việt Nam và không có quốc tịch của một nước nào) cũng phải chịu trách nhiệm theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, nếu ìọ thực hiện tội phạm trên lãnh thổ Việt Nam, tức là theo luật của nơi tiực hiện tội phạm đó Đó là nguvên tắc chủ quyền

-Tuy nhiên, theo khoản 2 của Điều luật, đốì với những người nước ngoà được hưởng đặc quyền ngoại giao theo Luật quốc tế, đế cho họ có điều kiện thuận tiện hoạt động, cản cứ vào pháp luật hiện hành của nước Việt Nam và các Hội nghị hoặc tục lệ quốc tế, họ không bị Toà án Việt Mam xét xử về mặt hình sự, nếu họ thực hiện tội phạm trên lãnh thô Mệt Nam Vấn để trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bàng con cường có sự thoả thuận của Nhà nước uỷ nhiệm họ Đó là dựa trên

cơ sởquan hệ bình đang qua lại với nước ngoài

'Ihông thường, những người được hưởng đặc quyền ngoại giao là các cại diện nước ngoài, thành viên các phái đoàn Quốc hội và Chính phủ Híớc ngoài, những người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao

(đại ỉứ, công sứ ), thành viên của các cơ quan đó (cố vấn, đại diện

thươig mại, tuỳ viên quân sự, bí thư thứ nhất, hai, ba ); các thành

vi<Mi ụa đình của những người nói trên cùng đi với họ, nếu các thành

viôn ió không phải là công dân Việt Nam Ngoài ra, là cán bộ, nhân viên Igười nước ngoài của cơ quan đại diện thường trú và các tổ chức quốc tế tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hưởng đặc quyềi miễn tư pháp

ĐIẾU 6 HIỆU Lực CỦA BỘ LUẬT HỈNH sự Đốl VỚI NHỮNG HÀNH VI

PHẠM TỘI ở NGOÀI LÃNH THổ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ

hGHĨA VIỆT NAM

1 Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh th ổ nước Cộng hoà xã

hội ciủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hỉnh sự tại Việt

Nam theo Bộ luật này.

C^uy định này củng được áp dụng đôĩ với người không quốc tịch thườig trú ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2 Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh th ổ nước Cộng hoà xã hội chủ ìghĩa Việt N am có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật

H inhsự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước cuốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc

than, gia.

Trang 16

Bình luân:

Khoản 1 của Điểu luật đề cập đến hiệu lực của Bộ luật đôi với hành

vi ở ngoài lãnh thổ nưốc Việt Nam

Công dân Việt Nam có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Việt Nam không những khi họ đang ở trong nước, mà cả khi họ ỏ ngoài nước Vì vậy nếu công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thô nước Việt Nam, trên lãnh thổ nước ngoài, thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, dù họ đã bị hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên lãnh thổ của nước ngoài đó là xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch Tất nhiên là công dân Việt Nam chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình

sự khi hành vi do họ thực hiện được Bộ luật Hình sự Việt Nam nêu ra là một hành vi phạm tội và phải bị trừng phat về mặt hình sự Tuy nhiên, nếu công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đã chịu hình phạt theo pháp luật của nước ngoài rồi, thì Toà án Việt Nam có thể giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt cho họ Người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam nếu phạm tội ở trên hay ngoài lãnh thổ Việt Nam thì phải chịu trách nhiệm hình sự như công dân Việt Nam

Khoản 2 đề cập đến vấn để trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của ngưòi nước ngoài, thực hiện ỏ ngoài lãnh thổ Việt Nam, có phạm vi áp dụng hạn chê và phải có tác dụng thiêt thực Khoản 2 đã chỉ

rõ hạn chế đó: " trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quôc tê mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia"

ĐIỀU 7 HIỆU Lực CỦA BỘ LUẬT HỈNH sự VỀ THỜI GIAN

1 Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được

thực hiện.

2 Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn,

một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các

quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng

đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3 Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng

nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc

mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người

Trang 17

phan tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi tiều luật đó có hiệu lực thi hành.

B ìm luân:

"hông thường một Bộ luật Hình sự có hiệu lực kể từ sau khi Bộ luật

ấy đíợc chính thức công bố (khoản 1) Nhưng thời gian sau khi Bộ luật đươ( công bố có thể là một vài tháng, một vài ngày hoặc ngay tức khắc

Vì vỉy, thòi gian đó phải được quy định trong một văn kiện pháp luật churg hoặc chính ngay trong Bộ luật được công bố

Hiện nay, theo Hiến pháp năm 1992, các luật phải được công bố chận nhất là 15 ngày sau khi đã được Quốc hội thông qua (Điều 88), Chủ tịch nước có nhiệm vụ, quyển hạn công bố Hiến pháp, luật, Pháp lệnh (Điều 103), như vậy, nếu không có quy định gì khác, thì một đạo luật hoặc một Pháp lệnh có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước công bô

Đối 'ỡi Bộ luật Hình sự Việt Nam, Quốc hội thông qua Bộ luật, đồng

thòi Ịuyết định thời gian Bộ luật phát sinh hiệu lực Ví dụ: Bộ luật Hình

sự rúm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu lực ngà) 01/01/1986 và Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngà} 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000

"hông thường, Luật hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với những hùnl vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra sau khi đạo luật đó có hiệu lực và trước khi đạo luật ấy mất hiệu lực Như vậy là nói chung Luật hình sự khôìg có hiệu lực hồi tô Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng thể hiện tinh thần không có hiệu lực hồi tô như vậy ở khoản 2 của Điều 7 Sở dĩ Bộ luật Hình sự quy định như vậy là do tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định thì người dân mới biết mà tránh; nếu hành vi của một người xảy ra trướí khi có Bộ luật Hình sự, thì không thể áp dụng Bộ luật Hình sự mà ngưà ấy chưa biết, để buộc họ phải chịu hình phạt Cũng theo lý lẽ đó, kliôrg thể áp dụng Bộ luật nêu ra một tội phạm tăng nặng hình phạt đối với nột tội phạm đã nêu ra trước đây, để buộc người có hành vi phạm tội chịu một hình phạt nặng hơn

việc Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự ngày 21/12/1999 và quyết định Bộ luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 là nhằm tạo điều kiện cho các

cơ qian trực tiếp có trách nhiệm chuẩn bị cho việc hưống dẫn thi hành

Bộ liậ t được chu đáo

Trang 18

- Khái niệm tội phạm (Điều 8);

- Cấc hình thức phạm tội: Cô ý phạm tội (Điều 9), vô ý phạm tội (Điều 10);

- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12);

- Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; Sự kiện bất ngờ (Điều 11); tình trạ n g không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điêu 13): phòng vệ chính đáng (Điều 15); tình thế cấp thiết (Điêu 16);

- Những giai đoạn phạm tội: Chuẩn bị phạm tội (Điều 17), phạm tội chưa đ ạt (Điều 18), tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điểu 19);

- N hững trường hợp có trách nhiệm hình sự: Phạm tội trong tình trạ n g say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác (Điều 14), đồng phạm (Điều 20), che giấu tội phạm (Điều 21); không tô' giác tội phạm (Điều 22)

ĐIỂU 8 KHÁI NIỆM TỘI PHẠM

1 Tội p h ạ m là h à n h vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ

luật H ình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một

cách cô'ý hoặc vô ý, xâm p h ạ m độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn

lãnh th ổ T ổ quốíc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm , tự

do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm p h ạ m

những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy đ ịn h trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội p h ạ m ít nghiêm trọng, tội p h ạ m nghiêm trọng, tội p h ạ m rất nghiêm trọng và tội

phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3 Tội p h ạ m ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho

xã hội m à m ức cao nhất của khung hình p h ạ t đôi với tội ấy là đến ba

Trang 19

năn tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xả hội

ma nức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội jhạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội

ma nức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là đến mười lăm năn tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là tiên mười lăm năm tù, tù chung thản hoặc tử hình.

ị Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất ngu' hiểm cho xã hội không đáng kề, thì không phải là tội phạm và được

xử 1’ bằng các biện pháp khác.

B ìm luân;

lọi phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cácl cô ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnl thổ tổ quốc, xâm phạm chê độ chính trị, kinh tế, nền văn hoá, quốc phòig, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chứ:, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh đự, nhân phẩm, tự do, tài sản các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Jăn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đượ: quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạn đặc biệt nghiêm trọng

rỏi phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lốn cho xã hội n à mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; ội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hai lốn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là đến bảy năm tù; Tội phạn rất nghiêm trọng là tội phạm gầy nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là trêr mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Những hành vi tuy có các dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất ngu/ hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được

xử 1/ bằng các biện pháp khác

• Khoản 1 của Điều luật xác định khái niệm tội phạm một cách khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước về tội phạm Nó khỏig những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại

Trang 20

tội phạm cụ thể trong việc phân các tội phạm của Bộ luật Hình sự mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những diêu luật quy định về từng tội phạm cụ thể.

Nếu như Điều 1 của Bộ luật Hình sự nêu lên những quan hệ xã hội chung quan trọng nhất được Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm thì Điều 8, khoản 1 đã cụ thể hóa những quan hệ xã hội đó thành những khách thể của tội phạm Đó là: Độc lập, chủ quyền, thông nhất, toàn vẹn lãnh thổ

Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trậ t tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật

xã hội chủ nghĩa

Khái niệm "tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự " Điều 8 khẳng định sự loại trừ việc áp dụng Luật hình sự theo nguyên tắc tương tự (xem Điểu 2)

Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm cúa luật Hình sự Trong lịch sử có những quan niệm khác nhau vê khái niệm tội phạm Việc đưa ra khái niệm này cho phép phân biệt hành vi nào là tội phạm hành vi nào không phải là tội phạm Các luật gia tư sản nhấn mạnh tính hình thức của tội phạm Cụ thể họ cho ràng: Tội phạm là hành vi bị luật Hình sự cấm hoặc là "Vi phạm pháp luật bị Bộ luật Hình sự trừng trị": (BLHS Pháp 1810) hoặc là "Hành vi do luật Hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt" (BLHS Thụy Sĩ nẫiri 1937) Nhu vậy, yếli UÍ luật Hình

sự quy định, luật Hình sự cấm, luật Hình sự trừng trị là đặc điểm (luy nhất của tội phạm Điều này hết sức nguy hiểm ở chỗ nhiều khi nó cho phép nhà làm luật đữa ý chí chủ quan của mình vào việc quy định hành

vi nào là tội phạm Tuy nhiên, yếu tô" luật định của tội phạm mà luật Hình sự tư sản đưa ra đã cho thấy được tiến bộ vượt bậc So với luật Hình sự phong kiến tránh được sự tùy tiện khi coi một hành vi nào đó là tội phạm Được quy định tội phạm luật Hình sự hay Bộ luật Hình sự chỉ

là dấu hiệu hình thức của tội phạm Tội phạm còn được xác định thông qua dấu hiệu về mặt nội dung Đó là: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội" Tuy nhiên đánh giá th ế nào là nguy hiểm cho xã hội là vấn

đề cần được làm sáng tỏ nếu không dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ tội phạm gồm:

- Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại

- Hiệu quả do hành vi phạm tội gây ra

Trang 21

-Tính chất và mức độ lỗi: các hình thức lỗi, các dạng lỗi, động cơ mục lích phạm tội

-Các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội như thòi gian, địa điểm, hoàrcảnh, công cụ phạm tội

7rong Bộ luật Hình sự Việt Nam còn có một yếu tố mà nhà làm luật xem ihư 1 trong những yếu tô" làm tảng mức độ nguy hiểm cho xã hội của lành vi đó là yếu tô’ nhân thân người phạm tội Ví dụ yếu tô" "Đã bị

xử 1} hành chính" Đây là vấn đề đang tranh luận trong khoa học luật Hìnl sự Bởi lẽ việc quy định yếu tố nhân thân của người thực hiện hànl vi nguy hiểm cho xã hội "không phù hợp với nguyên tắc chung của luật lìn h sự Đó là nguyên tắc: Một người không thể bị xử phạt hình sự

về nlân thân xâu của họ" (xem Nguyễn Ngọc Hòa, câu thành tội phạm,

lý lum và thực tiễn, NXB CAND, 2004, tr 102)

7ội phạm còn được thể hiện thông qua dấu hiệu: Năng lực trách nhiện hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Đây

là đíC tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái niệm tội phạn Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức và điều được hành vi của mìnl Điều đó cho thấy cho dù gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó nhưrg nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức được hànỉ vi, không điểu khiển được hành vi thì hành vi đó không là hành vi tội piạm

7ính có lỗi: Tội phạm luôn là hành vi có lỗi Đã có lúc, có nơi luật Hìnl sự coi những hành vi không ró lỗi là tội phạm Đây được gọi là npuyỉn tắc "quy tội khách quan" - chỉ căn cứ vào hành vi để buộc tội tronf khi tội phạm là tổng hợp các yếu tố chủ quan và khách quan Yếu

tô klách quan là các hành vi, yếu tố chủ quan là lỗi Lỗi là thái độ tâm

lý eủi người phạm tội đổì với hành vi của mình và hậu quả đối với hành

vi đó Lỗi có một quá trình hình thành từ khi phát sinh những nhu cầu, xốc cịnh động cơ, mục đích, nhận thức các yếu tố chủ quan, khách quan của lành vi và cuối cùng là lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi.Như vậy, căn cứ vào Điều 8 BLHS có thể đưa ra khái niệm tội phạm một :ách khái quát: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do ngưòi

có rúng lực TNHS thực hiện, có lỗi được quy định trong BLHS

Hiện nay, trong khoa học luật Hình sự còn có ý kiến cho rằng tội phạn còn một dấu hiệu nữa là tính phải chịu hình phạt

-Khoản 2 Điểu luật quy định việc phân loại tội phạm:

Bộ luật Hình sự năm 1985 căn cứ vào tầm quan trọng của quan hệ

xã hri bị xâm phạm, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội hoặc do tính

Trang 22

chất và quy mô lớn của hậu quả đã gây ra mà phân loại tội phạm thành hai nhóm: tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đôi với tội ấy là trên năm năm tù,

tù chung thân hoặc tử hình Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng

Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm, tham khảo Bộ luật Hình sự của một sô nước trên thê giới, Bộ luật Hình sự 1999 của Nhà nước ta đã phân loại tội phạm thành

4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

- Khoản 3 của Điểu luật quy định một cách cụ thể từng loại tội phạm: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho

xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lốn cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối VỚI tội ấy là đến bảy năm tù: Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lón cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của hình phạt đốì vói tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Sự phân loại tội phạm thành 4 loại như trên, vừa là biểu hiện cơ bản của sự phân hoá trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng, dứt khoát, vừa

là sự thông nhât cho sự phần hoá trách nhiệm hình sự trong phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự Đây cũng là thể hiện sự phân hoá trong đường lối đấu tranh phòng ngừa và chông các loại tội phạm khác nhau và đó cũng là những căn cứ pháp lý thông nhát, giúp các nhà hoạt động thực tiễn có thể thực hiện được nguyên tắc cá thể hoá hình phạt khi áp dụng Luật hình sự, tránh áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện.Việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa về nhiều mặt như: Tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện chính sách cải tạo giáo dục, cho việc xác định chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm v.v thể hiện trong Bộ luật Hình sự

- Khoản 4 của Điều luật quy định: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác Ví dụ: Trộm cắp vặt, gây thương tích nhẹ, vô ý gây thiệt hại nhỏ nhặt v.v

Trang 23

(ó dấu hiệu tội phạm tức là có dầv đủ 4 dấu hiệu của tội phạm là hàní vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, có năn§ lực trách nhiệm hình sự, có lỗi.

"uy nhiên, yếu tố quan trọng nhất khiến nó không bị coi là tội phạm

là tírh chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể

ĐIỂL9 CỐ Ý PHẠM TỘI

( ố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

J Người phạm tội nhận thức rỏ hành vi của mình là nguy hiếm cho

xã hặ, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muấn hậu quả xẩy ra;

L Người phạm tội nhận thức rỏ hành vi của mình là nguy hiểm cho

xã hà, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thê xảy ra, tuy không mong

muôi nhưng vẫn có ý thức đê'mặc cho hậu quả xảy ra.

Bin} luân:

7heo điều luật thì cô ý phạm tội được biểu hiện với hai hình thức lỗi:

( ố ý trục tiếp: Là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiếm

cho jã hội nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho

xã hci, thấy trưốc hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và mong muối hậu quả xảy ra

J.ét vê' lý trí, người phạm tội với lồi cô” ý trực tiếp, nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nghĩa là khi thực hiện hànỉ vi chủ thể biết được hành vi của mình có hại cho xã hội, đi ngược lại lri ích, các yêu cầu và chuẩn mực xã hội Sự nhận thức này phụ thuộ: vào những phẩm chất của chủ thể như kinh nghiệm sống, học vấn, trí tuệ, hiểu biết pháp luật khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của lành vi là phẩm chất đặc trưng của mọi người phát triển bình thưòng, điều cần đặc biệt nhấn mạnh là sự nhận thức được tính chất ngU} hiểm cho xã hội của hành vi không có nghĩa phải nhận được tính trái )háp luật của hành vi Một người biết hay không biết tính trái pháp luật :ủa hành vi, không phải là điều kiện bất buộc để xác định họ có lỗi hay chông có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội

"hẩy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi là hình dung

ra niửng nét chung nhất, những đặc điểm nổi bật nhất của hậu quả do nàrứ vi sẽ gây ra Sự thấy trưóc hậu quả của hành vi, có thể ở mức độ hình dung ra hậu quả tất nhiên sẽ xảy ra hoặc có thể xảy ra và sự thấy trướ: này xuất hiện trước hoặc trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho ;ă hội

Trang 24

v ể ý chí, ngưòi phạm tội mong muôYi hậu quà nguy hiểm cho xã hội xảy ra, mong muốn hậu quả mà họ đã "thấy trước", đã hình dung ra khi thực hiện hành vi sẽ xuất hiện trên thực tế Xác định tồn tại trong ý thức của chủ thể sự mong muôn xuất hiện hậu quà nào đó là vấn dồ rất phức tạp, thông thường người ta phải đánh giá, phân tích toàn bộ các tình tiết khách quan điển hình của hành động ý chí và cả những xứ sự sau đó của chủ thể để xác định vấn để này.

CỐ ý gián tiếp: Là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm

cho xã hội, nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trưốc hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó, không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra Đê mặc cho hậu quả xảy ra có nghĩa là hậu quả xảy ra hay không xảy ra đối với người phạm tội đều có ý nghĩa như nhau, hậu quả nguy hiểm cho xã hội xuất hiện trên thực tế hay không xuất hiện, người phạm tội cũng đều chấp nhận Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội theo đuổi mục đích khác vì thế họ nhìn thấy trưóc hậu quả nguy hiểm cho xã hội và hậu quả này dù không phù hợp với mục đích của mình nhưng người phạm tội vẫn chấp nhận để cho hậu quả xảy ra

v ể khía cạnh lý trí, cũng như cô" ý trực tiếp, trong trường hợp cô" ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra

Có một vấn đề về quan hệ tâm lý của người phạm tội với hậu quả nguy hiểm cho xã hội hiện nay chưa đạt được sự thống nhất trong giới nghiên cứu Luật Hình sự là: Khi người phạm tội thực hiệìì hành vi nguyhiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả tất nhiên sẽ xảy ra nhưng chủ thể không mong muốn hậu quả đó thì hình thức lỗi của người phạm tội là cô

ý trực tiếp hay cô”ý gián tiếp

Có ý kiến xác định rằng: "không thể có trường hợp người phạm tội

đã thấy trước hậu quả tấ t nhiên phải xảy ra roà lại có thái độ bỏ mặc, không mong muốn hậu quả đó khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Cũng có quan điểm khảng định, về lý thuyết cũng như thực tế hoàn cảnh có thể xảy ra trường hợp người phạm tội thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội tất nhiên sẽ xảy ra, tức là hành vi mà chủ thể sẽ thực hiện không tránh khỏi gây ra thiệt hại cho xã hội nhưng thái độ tâm lý của người phạm tội không mong muôn hậu quả đó Quan hệ tâm lý của chủ thể đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong trách nhiệm không mong muốn nhưng thấy trước hậu quả tất nhiên sẽ xảy ra khi thực hiện hành vi gần gũi với sự mong muốn hậu quả xảy ra hơn là có ý thức đế mặc cho hậu quả xảy ra Đó chính là cơ sở cho phép thừa nhận trách

Trang 25

nhiện này là cố ý trực tiếp Giải thích theo quan điểm thứ hai là hợp lý

và thuyết phục

N'oài ra hình thức cụ thể của lỗi cô ý là cô" ý trực tiếp và cô ý gián tiếp đi trình bày trên đây, khoa học Luật Hình sự và thực tiễn còn phân chia cúc hình thức cụ thể của lỗi cốý theo thòi điểm hình phạt nó so với

sự thic hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là cố ý dự mưu và cố ý không

có dự T1ƯU hay cô ý đột xuất Người phạm tội cân nhắc, tính toán vê việc thực hện tội phạm trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là

cô ý ó dự mưu, nếu người phạm tội vừa nảy sinh ý định phạm tội đã thực liên ngay ý định đó mà không có sự tính toán, cân nhắc cụ thể trưóc ló vê việc thực hiện tội phạm là cốý đột xuất

Tieo mức độ cụ thê của hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể hình iung ra trước khi thực hiện tội phạm, ngưòi ta phân chia lỗi cố ý thàrứ cô" ý xác định và cô” ý không xác định Nếu người phạm tội hình dung iược cụ thể, xác định được rõ ràng hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy rí khi thực hiện hành vi là cố ý xác định, trường hợp người phạm tội nhin '.hẩy trước hậu quả xảy ra nhưng không rõ ràng, không cụ thể, chủ thể clấp nhận bất kỳ một hậu quả nào đó trong sô các hậu quả đã hình dung *a hoặc bất kỳ một mức độ nào của hậu quả là cô" ý không xác định

ĐIỂU 10 VÔ Ý PHẠM TỘI

Vi' ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu

quả nguy hại cho xả hội, nhứng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc (ó th ể ngăn ngừa được;

2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của m ình có thê gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước 'lậu quả đó.

Bình luân:

Đ nh nghĩa lỗi vô ý trên đây đã phân biệt hai hình thức lỗi vô ý là vô

ý phạn tội vì cẩu thả và vô ý phạm tội vì quá tự tin

- "heo khoản 1 của Điều luật thì: Vô ý phạm tội vì quá tự tin là lỗi của rrột người trong trường hợp thấy trước hành vi của mình có thể gây

ra hậj quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy rí hoặc có thể ngăn ngừa được, vì vậy đã thực hiện hành vi và gây

ra hậi quả nguy hiểm cho xã hội

Vì lý trí, người phạm tội do vô ý vì quá tự tin, thấy trước hành vi của rrình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nhìn thấy trước

Trang 26

không xảy ra nên đã thực hiện hành VI.

Về ý chí, người phạm tội do vô ý vì quá tự tin không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quá nguy hiểm cho xã hội Sự khác nhau

cơ bản giữa cô ý gián tiếp và vô ý phạm tội vì quá tự tin thê hiện ở nội

dung ý chí của lỗi Người phạm tội vô ý vì quá tự tin không mong muốn gây ra hậu quả và cũng không có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, họ

hy vọng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngãn ngừa được, nhưng sự

hy vọng này là dựa trên những căn cứ không chắc chắn như kinh nghiệm nghê nghiệp, sự khéo léo của bản thân, sự hiếu biết hoặc những tình tiết khách quan khác Chẳng hạn công nhân một lám trường khi làm rừng đã nấu ăn, nhìn thấy mây đen kéo đên vùng tròi khu rừng cho ràng sẽ có mưa nên trước khi về nhà không dùng nước dập tắt lứa, gio thổi, lửa cháy bén khu rừng cây ì ấy nhựa sự đánh giá không chính xác các điều kiện, tình tiết khách quan do tin quá mức hy vọng ngăn ngừa được hậu quả dựa trên các cãn cứ không chắc chắn nên hậu quá nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra

- Theo khoản 2 của điều luật thì: Vô ý phạm tội vì cẩu thả là lỗi của một ngưòi trong trường hợp gây hậu quả nguv hiểm cho xã hội vì cẩu thả đã không nhìn thấy trưóc hậu quả đó mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả đó

Có thể tóm tắt nội dung của lỗi vô ý phạm tội vì cẩu thả như savi:

- Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện

- Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quíi đó.Khác với các hình thức cô ý trực tiếp, cô" ý gián tiếp và vô ý vì quá tự tin, người phạm tội vô ý vì cẩu thả đã không nhìn thấy trước hậu quá nguy hiểm hại cho xã hội của hành vi Khi thực hiện một xử sự nhất định do không cân nhắc thận trọng, một người đã không nhận thức được

Trang 27

khii lang gây thiệt hại cho xã hội, tức là không nhận thức được tính chót rguy hiếm cho xã hội của hành vi rũa mình Ví dụ: Một người hút thuốc lá đi vào kho xăng rồi vứt đoạn thuốc đang cháy dở xuống sân kho

dã gã' cháy kho, hay ngưòi y tá đã phát nhầm thuốc cho bệnh nhân do cẩu tlả không chú ý và kiểm tra cẩn thận dẫn đến chết người Hành vi phát ìhầm thuốc chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho xã hội nhưng chủ Lìê không nhận thấy mình phát nhầm thuốc và do đó cũng không nhận hây khá năng gây ra hậu quá nguy hại cho xã hội Tương tự như vậv íút thuốc trong kho xăng dầu (nơi cám lửa) và vứt mẩu thuốc đang cháy :uống sàn kho là hành vi chứa đựng khả năng gây ra hậu quá nguy lại nhưng chủ thê do không thận trọng, không có sự chú ý cần thiêt lên dã thực hiện hành vi ấy

Nịườì phạm tội trong trường hợp vô ý cẩu thả, tuy không nhận thức được chả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi mà họ thực ỉiện nhưng phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành

vi và :ó thế thấy trưốc được hậu quả đó Để có thể thấy trưốc hậu quá phái 'ồn tại đầy đú các điểu kiện khách quan và chủ quan trong từng trườn' hợp cụ thể Điêu kiện chủ quan thế hiện chủ thế có năng lực nhận thức và đánh giá được các yêu cầu của xã hội phản ánh qua các quv tic an toàn chung mà họ phải tuân theo Năng lực này phụ thuộc các piẩm chất của cá nhân như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm sống, tri thức văn hoá năng lực "có thế thấy trước" là phẩm chất phổ biên cối với mọi ngưòi ở vào những địa vị và hoàn cảnh cụ thể

ĐIỂU 11 Sự KIỆN BẤT NGỜ

Aì ỉ ười thực hiện hành vi gảy hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất nịờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải Lhấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiên hình sự.

C) quan điểm cho rằng sự kiện bất ngờ là trường hợp loại trừ tính chất rguy hiểm cho xã hội của hành vi Quan điểm khác cho rằng đây là trườnỊ hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi.

Qian điểm thứ hai hợp lý hơn bởi lẽ hành vỉ được thực hiện trong trườn* hợp sự kiện bất ngờ củng nguy hiểm cho xã hội nhưng nó không phải à tội phạm.

Bình luân:

a Sự kiện bất ngờ là trường hợp người thực hiện hành vi gây hậu quá rguy hại cho xã hội mà không có tội, không phải chịu trách nhiệm

Trang 28

hình sự do họ không thể thấy trước, không thế ciự kiến được hậu quả của hành vi đó và cũng không buộc phải thấy trước, phải dự kiên hậu quả đó.

Ví dụ: Một ngưồi lái xe đang đi đúng phần đường quy định, đúng tốc

độ, thì có hai người đột nhiên từ trong nhà đuổi nhau ra đường và hị xe đụng bị thương

Sự kiện bất ngờ xảy ra có thể là do hoàn cảnh cụ thể (Ví dụ: A và I)

là hai thanh niên đang đi chdi VỚI nhau trên vỉa hè họ cười đùa với

nhau; c nghịch, xô nhẹ D xuống đường, không ngờ I) khi bị xô lại dẫm phải dầu nhớt nên ngã, thái dương của D đập vào một viên đá ở lònfĩ đường, D bị trọng thương) hoặc do đặc điểm chủ quan của ngưòi thực hiện hành vi (Ví dụ: Một công nhân mới vào học việc ở nhà máy, được giao đứng coi máy cho ngưòi phụ trách máy đi ra ngoài có việc cần; anh thấy có tia lửa ở một bộ phận của máy đó nên hoảng hô't vội vàng hãm máy, do không theo đúng trình tự hãm máy, bộ phận đáng lẽ hãm sau lại hãm trước, bộ phận đáng hãm trưốc lại hãm sau, anh công nhân đó

đã làm hỏng máy)

ĐIỀU 12 TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH sự• • •

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu

trách nhiệm hình sự về tội phạm rât nghiêm trọng do cô ý hoặc tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng.

Bình luân:

Điều luật này được xác định tuổi mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự, phải tính theo tuổi tròn (tức là đủ tuổi); dù thiếu một ngày cũng coi như chưa đủ tuổi tròn (trong trường hợp xác định được chính xác ngày sinh)

Cơ quan Tiến hành Tô' tụng phải có biện pháp để xác định đúng tuổi (ngày, tháng, năm sinh) của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự đến ngày thực hiện tội phạm

Theo khoản 1 của Điều luật, người từ đủ 16 tuổi trở lên nhưng ohưa

đủ mười tám tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do họ gây ra Tuy nhiên đối với những trường hợp khác như chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, tội tảo hôn, tội giao cấu với trẻ em, chủ thể lại phải là người đã đủ mưòi tám tuổi, chứ không thế là người chưa thành niên

Trang 29

Theo khoản 2 của Điều luật, người từ đủ mười bốn tuổi trở lên nhíng chưa đủ mười táu tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự vê' những tội phạm rất nghiêm trọng do cô ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

th<0 Điểu 8 khoản 3, tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy

hạ rất lớn cho xã hội mà mức cao nhât của khung hình phạt đổì với tội

ấy là đến mười lăm năm tù Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gâ' nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phit đôi với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

ĐIÍU 13 TỈNH TRẠNG KHÔNG CÓ NĂNG Lực TRÁCH NHIỆM HỈNH sự

1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc

bệih tăm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khi năng điều khiển hành vi của minh, thi không phải chịu trách nhiệm hiih sự; đôi với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng

đỏ lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án,

th củng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi

bệih, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bhh luân:

Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trường hợp ngíời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mấc bệnh tân thần hoặc một bệnh khác, làm mất khả năng nhận thức hoặc khả nầig điều khiển hành vi của mình và do đó họ không phải chịu trách nhệm hình sự, nhưng bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Ví dụ: Giết người khi đang lên cơn điên

Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được điểu luật

xá định tại khoản 1, dựa vào hai điều kiện: v ể y học và vê pháp lý

- Về y học: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tân thần ở các dạng kinh niên, tạm thời hoặc bệnh tậ t khác làm mất khì năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Nlững người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do những thay đổi tring hoạt động tinh thần mà không do bệnh tậ t gây ra, vẫn phải chịu tr:ch nhiệm hình sự, nhưng có thể được giảm nhẹ hình phạt (Điều 46: Niững trường hợp xử nhẹ, khoản 1, điểm n người có bệnh bị hạn chê khi năng nhận thức hoặc khả năng điểu khiển hành vi của mình)

- Vê pháp lý: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không cókhả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành động của mình dctình trạng mắc bệnh nói trên

Trang 30

Điểu kiện về y học và điểu kiện về pháp lý kết hợp VỚI nhau tạo thành cơ sở của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình su Hành vi giết người của người mắc bệnh hoang tưởng bề ngoài tó ra có y thức rõ ràng, nhưng thực chất là do họ tưởng tượng hoàn toàn sai lầm là người bị hại đang theo dõi định ám hại họ và họ phải hành động đổ tự

vệ Họ không có năng lực hiểu biết và điểu khiên hành vi của họ

Ví dụ: Hà Đức Kh, giết vợ trong khi đang ngồi ăn cơm với vợ, dã bị Toà án nhân dân tỉnh xử tử hình, được Toà án nhân dân tối cao cho đi giám định pháp y, được kết luận là bị bệnh hoang tưởng và áp dung biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Toà án trưóc khi quyết định cuối cùng về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự của một người, phải sử dụng kết luận của giám định pháp y về bệnh tâm thần để xác định tính chất và mức độ nghiêm trọng của chứng bệnh

Khoản 2 của điều luật đề cập đến tình trạng tạm thời không có năng lực trách nhiệm hình sự Đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi

có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng trưóc khi bị kết án, đã lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, không có năng lực hiểu biết và sử dụng những quyền mà pháp luật quy định cho bị cáo, không có khả năng lĩnh hội đúrug đắn ý nghĩa của việc xét xử, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối vói họ

và việc xét xử họ là không có ý nghĩa, do đó phải coi họ là tạm thòi không có năng lực trách nhiệm hình sự

Nếu xác định dược rằng, người mắc bệnh tấm thần kinh niên mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì Toà án ra quyết định miễn hình phạt cho họ và quyết định áp dụng biện pháp b ắt buộc chữa bệnh đối với họ Nếu xác định được ràng, ngưòi mắc bệnh chỉ bị rối loạn tạm thời về hoạt động tâm thần thì Toà án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo và hoãn xử cho đến khi bị cáo khỏi bệnh mới xem xét về trách nhiệm hình sự của họ

ĐIỀU 14 PHẠM TỘI TRONG TÌNH TRẠNG SAY DO DÙNG RƯỢU HOẶC CHẤT KÍCH THÍCH MẠNH KHÁC

Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích

thích mạnh khác, thi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luân:

Theo Điều luật, tình trạng say rượu do dùng rượu hoặc ch ấ t kích thích mạnh khác không thể được coi là tình trạng không có n ăng lực

Trang 31

trácl nhiệm hình sự, mặc dù tình trạng dó do việc dùng liều lượng khác nhau, với nồng độ khác nhau đã quyết định đến việc cư xử của con r^ười.

\iệc miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ngưòi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng họ hoàn toàn không nhận thức lược hay không nhận thức được đầy đủ tính chất của hành vi hoặc khôn' điểu khiển được hành vi của mình do dùng các chất kích thích mạnl (tình trạng này do chính họ gây ra) là vừa không phù hợp với yêu cầu (ủa cuộc đâu tranh chông tệ nạn say rượu, tệ nạn hút, tiêm chích

ma tiý, vừa bất hợp lý ở chỗ người có khuyết điểm say rượu hay đã sa đoạ cùng ma tuý lại được chiếu cô khi phạm tội Bên cạnh đó không loại trừ tn h trạng có ngưòi lợi dụng cô" ý đặt mình vào tình trạng say rượu, chất tích thích để thực hiện hành vi phạm tội

Mặt khác, trong nhiều trường hợp có thể khẳng định phạm tội trong tình -rạng say rượu hay say sát chất kích thích mạnh khác lại là một tình iết tăng nặng như: Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gâv tai nạn trong khi say rượu hoặc say do dùng các châ't kích thích khác (Điều 202, khoản 2 điểm b)

ĐIỂU 15 PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của

N hà 1 ước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của m ình hoặc

của rgười khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành

vi xâ n phạm các lợi ích nói trên.

ĩhbng vệ chính đáng không phải là tội phạm

2 Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chông trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hièmcho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trach nhiệm hình sự.

B ìn i luân:

Theo Điểu 15 Bộ luật Hình sự quy định: "Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nưóc, của tổ chức, bảo vệ quyềi, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chông trả lại rrột cáeh cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trôn Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm" (khoản 1) xử lý ngu ờ có hành vi phạm tội luôn là công việc của Nhà nước và phải tuân theo thủ tục tô tụng hình sự Đây không phải là việc của cá nhân Tuy

Trang 32

nhiên trong một số trường hợp, luật cho phép một cá nhân được phép chống lại hành vi tội phạm Đó là trường hợp phòng vệ ('hình đáng.

Phòng vệ chính đáng thực chất là sự chông trá một cách hợp pháp đối với người thực hiện hành vi xâm hại những lợi ích được pháp luật bảo vệ bằng cách gây ra thiệt hại cho chính người đó

Ví dụ: Gây thương tích cho người đang dùng dao chém mình

Pháp luật quy định phòng vệ chính đáng là quyển của mồi công dân được hành động để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội hoặc lơi ích hợp pháp của cá nhân Chế định phòng vệ chính đáng trong Bộ luật Hình sự có ý nghĩa cổ vũ, khuyến khích đông đảo nhân dân tham gia vào ngăn chặn những hành vi gây thiệt hại cho xã hội, đấu tranh chống tội phạm

Hành vi phòng vệ chính đáng có thể gây ra một thiệt hại nào đó cho kẻ tấn công để ngăn chặn sự xâm hại những lợi ích hợp pháp, bảo

vệ các lợi ích đó, xét về hình thức có những biểu hiện bê ngoài giống vỏi một tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng được pháp luật thừa nhận là hành vi hợp pháp, là lợi ích cho xã hội chứ không phải là tội phạm

Phòng vệ chính đáng là quyền của mọi công dân nhưng quyền này chỉ được sử dụng khi có những điểu kiện nhất định:

Các điểu kiện của phòng vệ chính đáng:

- Điểu kiện thứ nhất về sự xuât hiện phòng vộ chính đáng

Theo khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Hình sự thị điểu kiện bắt buộc đầu tiên làm xuất hiện quyền phòng vệ chính đáng là có sự thực hiện hành vi xâm hại (hành vi tấn công) những lợi ích được pháp luật bảo vệ.Bất kỳ một công dân nào nhìn thấy sự xâm hại đang diễn ra trưỏc mắt, không phụ thuộc hành vi ấy chống lại lợi ích của mình hay của một người ruột thịt, quen biết, lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lợi ích của ngưòi khác đều có quyền phòng vệ chính đáng Đặt vân đê như vậy vì trong chủ nghĩa xã hội mỗi công dân đều có quyển đồng thòi có nghĩa vụ đạo đức hành động tích cực để bảo vệ các lợi ích hợp pháp khỏi sự xâm hại có tính nguy hiểm cho xã hội

Bộ luật Hình sự không quy định cụ thể sự xâm hại nào thì được thực hiện hành vi chống trả bằng cách gây thiệt hại cho chính người thực hiện hành vi xâm hại (hành vi tấn công) đó

Thông thường, phòng vệ chính đáng xuất hiện khi có sự thực hiện các tội phạm mang tính chất bạo lực, những hành vi tấn công, phá hoại tức là khi mà sự xâm hại có thể gầy thiệt hại tức khác cho khách thê

Ngày đăng: 15/09/2017, 10:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w