Để thực hiện được mục tiêu trên đòi hỏi giáo viên phải có sự linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học tích cực, hiện đại phù hợp với trình độ, phầm chất, năng l
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG NGHE TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS”
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Đã từ rất lâu Tiếng Anh có vai trò quan trọng trong đời sống con người ở mọi quốc gia trên thế giới Nó chính là cầu nối của con người với con người, quốc gia với quốc gia dù khác màu da, khác nền văn hóa, tiếng nói, quốc tịch…Tiếng Anh giúp con người xích lại gần nhau hơn Nhờ Tiếng Anh các quốc gia có điều kiện giao lưu phát triển Đặc biệt trong thời đại ngày nay – thế kỷ 21 với sự phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ, giao lưu và hội nhập thì vai trò của Tiếng Anh càng trở nên quan trọng Tiếng Anh là ngôn ngữ của toàn cầu, là ngôn ngữ chính thức của 53 quốc gia, lãnh thổ Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ kinh doanh, thương mại và kỹ thuật và là ngôn ngữ chung của truyền thông Tiếng Anh có thể giúp con người có thể cập nhật nguồn kiến thức về mọi lĩnh vực của cuộc sống Trên thế giới, hiện nay có khoảng 1 tỷ trang web bằng Tiếng Anh, các phần mềm ứng dụng, nhiều cổng thông tin, nhiều tạp chí và tờ báo nổi tiếng được viết bằng Tiếng Anh…Vì thế việc hiểu biết Tiếng Anh là điều cần thiết trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin hiện nay
Đối với Việt Nam, nước ta đang trên con đường hội nhập với thế giới thì Tiếng Anh cũng trở thành yếu tố vô cùng và cần thiết Đảng và nhà nước có nhiều chỉ thị, nghị quyết về việc dạy và học Tiếng Anh Đất nước đang chuyển mình trong nền kinh tế thị trường Tiếng Anh là cầu nối Việt Nam với các quốc gia phát triển, giúp chúng ta tiếp cận với những thành tựu mới nhất của con người về khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội, hiểu biết nhau, giúp đỡ nhau và hỗ trợ lẫn nhau Để làm được điều đó đòi hỏi Việt Nam phải có nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ trực tiếp trong công việc, tạo mối quan hệ tốt đẹp và làm thay đổi chất lượng cuộc sống con người Nguồn nhân lực đó ngoài việc được đào tạo về chuyên môn có chất lượng cao còn phải đáp ứng yêu cầu giao tiếp quốc tế
Chính vì thế, hiện nay Tiếng Anh trở thành một môn học bắt buộc đối với học sinh trong nhà trường, trong đó có việc nghe - nói Tiếng Anh của người học Tiếng Anh nói chung và học sinh trong các nhà trường nói riêng Tuy nhiên thực trạng học Tiếng Anh của học sinh Việt Nam vẫn còn là vấn đề đau đầu của các thầy cô giáo và cha mẹ học sinh Đặc biệt là khả năng học Tiếng Anh của học sinh nông thôn không có điều kiện và thời gian như học sinh thành thị Đối với học
sinh nông thôn, Tiếng Anh được coi là một “môn học mới” về một ngôn ngữ của
một đất nước với nền văn hoá, phong tục, tập quán hoàn toàn xa lạ Vì vậy, để các
em tiếp cận và học tốt môn Tiếng Anh đòi hỏi người thầy phải tích cực đổi mới
Trang 2phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường Vậy làm thế nào để học sinh học tập tốt môn Tiếng Anh Làm thế nào để học sinh
có cơ hội giao tiếp Tiếng Anh một cách tự tin, mạnh dạn Đó là câu hỏi nhất định cần phải có giải đáp cụ thể
Hơn nữa, hiện nay chúng ta đang triển khai chương trình GDPT 2018, chương trình Tiếng Anh phổ thông đã thể hiện được mong muốn của những nhà làm giáo dục đối với học sinh với nhiều đổi mới đáp ứng được với nhu cầu của xã hội, của toàn cầu Chương trình môn họcTiếng Anh đã được nghiên cứu biên soạn
và ban hành theo thông tư số 32/2008 TT – BGD ĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Theo đó, chương trình Tiếng Anh được biên soạn theo định hướng giao tiếp giúp học sinh sử dụng ngữ liệu ( ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) để phát triển năng lực giao tiếp bằng Tiếng Anh thông qua 4 kỹ năng (nghe
- nói- đọc - viết), ưu tiên phát triển kỹ năng nghe- nói; lấy hoạt động học là trung tâm, học sinh là chủ thể của quá trình dạy học Trong đó, tâm lý lứa tuổi học sinh THCS, các đặc điểm văn hóa của Việt Nam và các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nói Tiếng Anh được coi trọng
Để thực hiện được mục tiêu trên đòi hỏi giáo viên phải có sự linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học tích cực, hiện đại phù hợp với trình độ, phầm chất, năng lực học sinh và các em phải thực sự chủ động lĩnh hội để phát triển các năng lực, phẩm chất của mình; đặc biệt là năng lực giao tiếp Tiếng Anh
Để phát huy được năng lực giao tiếp trong Tiếng Anh, với 4 kỹ năng cơ bản nghe- nói- đọc- viết thì kỹ năng nghe là cực kỳ quan trọng nhưng lại vô cùng khó đối với học sinh Giáo viên dạy ngôn ngữ nào cũng phải thừa nhận rằng giao tiếp không thành công nếu thiếu kỹ năng nghe Tiếng Anh bởi vì nó giúp học sinh làm quen từ giọng nói đến cách đọc, cách viết (đi từ âm thanh đến âm hình) Đây cũng
là kỹ năng mà học sinh yếu nhất Vì vậy kết quả học tập của học sinh cũng còn hạn chế Tuy nhiên, để cải thiện kỹ năng nghe Tiếng Anh của học sinh đòi hỏi có
sự phối kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng từ nhiều phía: giáo viên, học sinh, phụ huynh
và nhiều yếu tố khách quan khác Việc rèn cho học sinh kỹ năng nghe giáo viên gặp không ít những khó khăn Học sinh phải nghe, phải hiểu được người khác đang nói gì và dùng từ ngữ nào để giao tiếp cho phù hợp, đạt hiệu quả Học sinh thường nói rằng có nhiều từ Tiếng Anh đã học nhưng khi nghe thì không phát hiện ra được Học sinh không tự tin khi thực hành nghe Tiếng Anh…Mặt khác điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ cho giảng dạy như máy chiếu, đài, máy tính và các thiết bị dạy học hiện đại khác vẫn chưa được trang bị đầy đủ
ở từng lớp Bên cạnh đó, đôi lúc việc dạy kỹ năng nghe Tiếng Anh còn bị xem nhẹ
Trang 3Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh 24 năm tại trường THCS Thịnh Long, tôi nhận thấy kỹ năng nghe Tiếng Anh của học sinh THCS Thịnh Long nói chung, học sinh lớp 6 của nhà trường nói riêng còn yếu Tôi đã đi sâu nghiên cứu thực trạng nghe Tiếng Anh của các em, tìm hiểu nguyên nhân và mạnh dạn đưa ra các giải pháp khắc phục thực trạng này
Đây là lý do để tôi chọn đề tài viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp nâng cao kỹ năng nghe Tiếng Anh cho học sinh lớp 6 ở trường THCS.”
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Thực trạng chung
Như chúng ta đã biết, Nghe là một phản xạ tự nhiên và còn được hiểu là
một động từ thể hiện hành động cảm nhận, nhận biết bằng thính giác (cảm nhận bằng tai) nhưng cũng là một kỹ năng Nghe chính là một kỹ năng để giải quyết vấn đề mà mình tiếp nhận được (nghe được), hiểu được Người nghe phải kết hợp
giữa việc tiếp nhận, phân biệt các âm, nắm được quy tắc phát âm, trọng âm, hiểu được từ vựng, cấu trúc ngữ pháp…Đồng thời người nghe phải có sự phân tích, xác định được ý định của người nói trong ngữ cảnh cụ thể phù hợp với đặc điểm văn hoá, xã hội
Nghe là chìa khóa dẫn đến thành công của việc học một ngôn ngữ Như
chúng ta biết một đứa trẻ trước khi học nói, biết nói thì trẻ đó phải biết nghe những người xung quanh nói, hiểu ý nghĩa của các từ ngữ và cuối cùng mới có thể bắt chước rồi tự mình nói Khi học Tiếng Anh, chúng ta cũng cần học cách nghe người khác nói trước khi biết nói Tiếng Anh
Người có kỹ năng nghe tốt sẽ nắm bắt được nội dung vấn đề, thu thập được nhiều thông tin, đánh giá được thông tin và tương tác trong quá trình diễn đạt Bên
cạnh đó, “Nghe” sẽ tạo sự liên kết giữa con người với con người, tạo mối quan hệ
tốt đẹp, giải quyết được vấn đề và đem lại chất lượng cho công việc và cuộc sống của con người
Như đã nói ở trên, kỹ năng nghe Tiếng Anh là một trong những kỹ năng khó đối với người học nói chung, học sinh THCS nói riêng Trong việc học nghe, các em gặp nhiều khó khăn Kết luận này là có cơ sở khi tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến học sinh Dưới đây là kết quả khảo sát học sinh khối 6 trong năm học 2019-2020 Qua kết qủa khảo sát tôi tổng hợp được thì 6 khó khăn phổ biến nhất trong học nghe Tiếng Anh đối với học sinh lớp 6 là:
1 Vốn từ vựng Tiếng Anh của học sinh còn hạn chế
2 Học sinh không nhận ra âm tiếng Anh
3 Học sinh khó có thể nắm bắt được ý chính của bài nghe, không dự đoán được điều sắp nghe
Trang 44 Học sinh thường cố gắng dịch sang Tiếng Việt trong khi nghe Tiếng Anh
5 Học sinh không theo kịp tốc độ của người nói khi nghe Tiếng Anh
6 Học sinh thiếu tập trung khi nghe và không kiểm soát được điều sẽ nghe Bên cạnh đó, cũng còn có một số yếu tố khách quan khác như: trong giờ nghe lớp học đòi hỏi im lặng nên học sinh cảm thấy căng thẳng nhưng một số học sinh không nghe được làm việc riêng, mất trật tự làm ảnh hưởng đến những học sinh khác và không gian bên ngoài lớp học ồn ào…
Dưới đây là kết quả khảo sát mà tôi đã thực hiện:
PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 1
PHIẾU ĐIỀU TRA KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH LỚP 6 TRONG QUÁ TRÌNH HỌC NGHE TIẾNG ANH
Năm học: 2019- 2020
Họ và tên học sinh:………
Lớp: …
Trường THCS Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Việc học nghe Tiếng Anh của em còn gặp nhiều khó khăn Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến:
Các khó khăn Đồng ý Không
đồng ý
1 Vốn từ vựng Tiếng Anh còn hạn chế
2 Học sinh không nhận ra âm tiếng Anh
3 Học sinh khó có thể nắm bắt được ý chính của bài
ngnghe, không dự đoán được điều sắp nghe
4 Học sinh cố gắng dịch sang Tiếng Việt trong khi
nghe Tiếng Anh
5 Học sinh không theo kịp tốc độ của người nói khi
nghe Tiếng Anh
6 Thiếu tập trung khi nghe và không kiểm soát được
điều sẽ nghe
Trang 5Thống kê sau cuộc khảo sát là:
Các khó khăn Đồng ý Không
đồng ý
1 Vốn từ vựng Tiếng Anh còn hạn chế, 81% 19%
2 Học sinh không nhận ra âm tiếng Anh 86% 14%
3 Học sinh khó có thể nắm bắt được ý chính của bài
nghe, không dự đoán được điều sắp nghe
4 Học sinh cố gắng dịch sang Tiếng Việt trong khi
nghe Tiếng Anh
5 Học sinh không theo kịp tốc độ của người nói khi
nghe Tiếng Anh
6 Thiếu tập trung khi nghe và không kiểm soát được
điều sẽ nghe
Từ kết quả khảo sát trên tôi nhận thấy:
+ Tiếng Anh là ngôn ngữ nước ngoài học sinh khó hiểu, khó học, các em hay tư duy bằng Tiếng Việt Học sinh không thể nghe Tiếng Anh được là do các
em thiếu kiến thức về từ vựng Học sinh thường cố dịch sang Tiếng Việt trong khi nghe Tiếng Anh
+ Tiếng Việt có hệ thống thanh điệu khác so với các ngôn ngữ khác Người Việt phải sử dụng cơ miệng theo một cách khác để nói Tiếng Việt Vì thế khi học phát âm Tiếng Anh, nhiều học sinh bị ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ Cho nên các
em không nhận ra âm Tiếng Anh, phát âm không chuẩn dẫn đến việc nghe- nói Tiếng Anh gặp nhiều bất lợi Chính điều này tạo nên áp lực cho học sinh làm các
em không hứng thú, tâm lý chán nản khi học nghe Tiếng Anh
+ Hơn nữa do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 6 (11 tuổi) hiếu động nên nhiều khi học sinh không tập trung nghe và vì thế các em cũng không theo kịp được tốc độ của người nói
+ Nhiều học sinh không nhận ra rằng mỗi ngôn ngữ có quy tắc và luật riêng nên không thể áp dụng việc học từ ngôn ngữ này sang việc học ngôn ngữ kia được
+ Đây là năm thứ 3 học sinh được tiếp cận với SGK Tiếng Anh 6 của Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam Một bộ sách được biên soạn theo hướng giao tiếp giúp học sinh sử dụng ngữ liệu (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) theo định hướng phát triển các năng lực đặc biệt là năng lực giao tiếp Đồng thời lấy việc học làm trung tâm nhằm phát huy toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) Năng lực giao tiếp Tiếng Anh của học sinh được phát triển thông qua hoạt động học tập
Trang 6tích cực, chủ động và sáng tạo Trong SGK Tiếng Anh 6, tất cả các bài nghe kể
cả phát âm, trọng âm của từ Tiếng Anh đều được ghi lại vào đĩa bằng giọng của người bản địa với những chủ đề gần gũi trong thực tế cuộc sống Trong khi trước đây, với chương trình cũ, giáo viên thường ưu tiên dạy đọc, dạy viết, dạy ngữ pháp và còn mang tính hàn lâm Trong phần nghe giáo viên thường hay đọc cho học sinh nghe hoặc học sinh nghe băng cũng chỉ là hình thức, chiếu lệ bởi lẽ trong các bài kiểm tra định kỳ không có phần bài tập nghe Tuy nhiên để thay đổi cách dạy và cách học từ chương trình cũ sang chương trình mới là hoàn toàn không dễ
và nhanh chóng được Vì vậy đòi hỏi cả người dạy và người học cùng cố gắng tìm
ra các nguyên nhân của những thực trạng trên để tìm ra các giải pháp thiết thực đối với những vấn đề trên
1.2 Nguyên nhân của những hạn chế
Từ thực tế dạy - học của giáo viên và học sinh, khi dạy phần nghe Tiếng Anh trong SGK Tiếng Anh lớp 6, tôi rút ra một số nguyên nhân của những hạn chế nói trên như sau:
*Về phía người dạy
+ Một số giáo viên chưa dành thời gian nghiên cứu, chuẩn bị bài trước khi lên lớp dẫn đến việc giải quyết các tình huống có vấn đề trong tiết học bị thụ động Giáo viên còn ngại tổ chức các hoạt động nhóm để học sinh cùng tham gia Giáo viên chưa tạo được một sân chơi bổ ích mà học sinh là những người chơi, giao tiếp, trò chuyện với nhau bằng Tiếng Anh để học sinh cảm thấy học
mà chơi, chơi mà học
+ Năng lực giáo viên còn hạn chế Một bộ phận nhỏ giáo viên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi cách dạy cũ Đó là thiên về dạy ngữ pháp, từ vựng và viết Trong tiết học, người hoạt động chủ yếu là giáo viên còn học sinh chỉ thụ động lắng nghe, chưa chủ động tiếp thu kiến thức
+ Phương pháp dạy còn chưa phù hợp, chưa linh hoạt với từng đối tượng học sinh Giáo viên ngại áp dụng phương pháp dạy học mới, ngại xây dựng thêm những bài tập củng cố khắc sâu nội dung nghe cần đạt của mục tiêu tiết dạy
+ Hình thức tổ chức dạy học chưa phát huy được năng lực của học sinh,
chưa tổ chức được các hoạt động như Warm up với các trò chơi hoặc các hoạt
động gợi mở, kích thích tính tò mò, ham học hỏi của học sinh đối với phần nghe,
và học sinh chưa biết nghe chủ động
+ Thời gian tiết học 45 phút không nhiều, giáo viên sợ thiếu thời gian nên
có khuynh hướng tập trung cung cấp ngữ liệu mới mà ít quan tâm đến rèn kỹ năng nghe cho học sinh Ngoài ra nhiều giáo viên không kiên trì hướng dẫn các thủ thuật nghe phù hợp với từng đối tượng học sinh và đôi lúc còn áp đặt
Trang 7+ Giáo viên còn chưa tin tưởng vào khả năng của học sinh Giáo viên chưa quan tâm đồng đều đến mọi đối tượng học sinh mà mới chỉ tập trung vào những học sinh khá- giỏi có khả năng nghe nổi trội Giáo viên chưa biết kết nối các học sinh lại với nhau, chưa tạo cơ hội cho các em tự học hỏi nhau khi không hiểu bài, không biết cách làm
+ Giáo viên thực sự chưa gần gũi, thân thiện với học sinh, chưa hiểu hết được những băn khoăn của học sinh Học sinh ngại không dám hỏi hay chia sẻ những điều băn khoăn, thắc mắc của các em với giáo viên Chính vì thế đã tạo nên khoảng cách giữa thầy và trò
+ Việc sử dụng phương tiện dạy học và đồ dùng trực quan của giáo viên trên từng giờ lên lớp chưa linh hoạt, chưa đạt hiệu quả cao dẫn đến việc tiếp thu bài của học sinh còn hạn chế
*Về phía học sinh
Học sinh lớp 6 là lớp học đầu cấp của bậc THCS Đó là giai đoạn chuyển giao từ trẻ em thành vị thành niên Các em ở độ tuổi dậy thì, tâm sinh lý, thể chất thay đổi Các em luôn muốn tự khẳng định mình, muốn thể hiện cái tôi của mình Lên lớp 6 ở bậc THCS, các em được tiếp xúc với nhiều điều mới mẻ như môi trường mới, bạn bè mới, nội dung học tập mới và chương trình học mới Các em tiếp xúc với nhiều môn học mới được đảm nhiệm bởi các thầy cô giáo khác nhau cùng với phương pháp dạy đặc trưng của mỗi môn khác nhau Đặc biệt đa phần các em rất ngỡ ngàng, lo lắng, tự ti khi học môn Tiếng Anh Bởi lẽ Tiếng Anh ở Tiểu học chỉ dừng ở những câu cơ bản, đơn giản nhưng ở bậc THCS thì các em
sẽ phải học từ vựng với phát âm chuẩn cùng với cấu trúc câu đi kèm Đặc biệt các em phải biết sử dụng các từ vựng, cấu trúc câu… vào việc thực hành nghe, nói, đọc, viết Chính những điều trên đã ảnh hưởng đến tâm lý của các em, khiến nhiều khi các em căng thẳng, lúng túng và thiếu tự tin Đặc biệt khi học nghe và nói Tiếng Anh, các em không thể tập trung khi nghe, không nhận ra các âm Tiếng Anh và không thể nắm bắt được ý chính của bài nghe
Từ kết quả khảo sát đã có, tôi tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình khi nghe (5 phiếu khảo sát) cụ thể như sau:
1, Nguyên nhân khiến vốn từ vựng Tiếng Anh của học sinh còn hạn
chế
Khảo sát về nguyên nhân vốn từ vựng Tiếng Anh của học sinh còn hạn chế, tôi có tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, của học sinh và thu thập được một số nguyên nhân cụ thể và tiến hành phát phiếu khảo sát toàn bộ số học sinh khối 6
đang học tại trường THCS Thịnh Long
Trang 8PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 2 PHIẾU ĐIỀU TRA NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC VỐN TỪ VỰNG
TIẾNG ANH CỦA HỌC SINH CÒN HẠN CHẾ
Năm học: 2019 – 2020
Họ và tên học sinh:
Lớp: …
Trường THCS Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Các em hay gặp những khó khăn trong việc làm phong phú vốn từ vựng Tiếng Anh Nguyên nhân gây ra khó khăn này là gì?
Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến
ý
Không đồng ý
1 Lười học từ vựng
2 Không xác định được động cơ, mục đích học tập đúng đắn
3 Cho Tiếng Anh là khó, không hiểu, không muốn học
4 Chưa có kĩ năng, phương pháp học tập Tiếng Anh phù hợp
Trang 9Trên thực tế theo kết quả khảo sát học sinh khối 6, nguyên nhân của việc vốn từ vựng Tiếng Anh của học sinh còn hạn chế là do:
Học sinh lười học từ vựng, chưa có động cơ học tập đúng đắn Đa phần các
em cho rằng học Tiếng Anh khó, không hiểu và ngại học Đặc biệt khi không nghe được, không nói được, không hiểu bài được nên các em sẽ chán nản, từ bỏ và không kiên trì học tiếp Các em cũng chưa có phương pháp, kỹ năng học tập Nhiều em còn bị ảnh hưởng bởi phương pháp truyền thống là thiên về học ngữ pháp và học từ vựng dưới hình thức chép đi, chép lại từ ra giấy, chưa biết gắn học
từ vựng với chủ đề, ngữ cảnh cụ thể Nhiều học sinh còn học từ mới một cách thụ động và học quá nhiều từ mới một lúc Vì thế sau một thời gian ngắn các em không nhớ được những từ vựng đó nữa
2, Nguyên nhân học sinh không nhận ra âm Tiếng Anh khi nghe
Trong quá trình giảng dạy, một vấn đề làm người dạy nói chung, bản thân tôi nói riêng rất trăn trở, đó là việc dạy phát âm cho học sinh; đặc biệt là tình trạng học sinh không nhận ra âm Tiếng Anh khi nghe Tiếng Anh Cho nên việc tôi làm đầu tiên khi bước vào năm học mới là khảo sát những nguyên nhân của việc học sinh không nhận ra âm Tiếng Anh khi thực hiện hoạt động nghe Tiếng Anh Tôi
đã tiến hành điều tra với một số gợi ý cụ thể:
PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 3 PHIẾU ĐIỀU TRA NGUYÊN NHÂN CỦAVIỆCHỌC SINH KHÔNG NHẬN RA ÂM TIẾNG ANH KHI NGHE
Năm học: 2019 – 2020
Họ và tên học sinh:
Lớp: …
Trường THCS Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Các em hay gặp khó khăn trong việc nhận ra âm Tiếng Anh khi thực hiện hoạt động nghe Tiếng Anh Nguyên nhân gây ra khó khăn này là gì ?
Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến
Các nguyên nhân Đồng ý Không
đồng ý
1.Vốn từ vựng Tiếng Anh còn hạn chế
2 Ảnh hưởng về phát âm chuỗi trong lời nói Tiếng
Anh (hiện tượng nuốt âm, hiện tượng nối âm, hiện
tượng đồng hóa âm vị, hiện tượng rút gọn của từ )
Trang 103 Không phân biệt được các từ đồng âm và các từ có
cách phát âm gần giống nhau
4 Nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và phủ định
5 Các nguyên nhân khác
Thống kê được sau cuộc khảo sát là:
Các nguyên nhân Đồng ý Không
đồng ý
1 Vốn từ vựng Tiếng Anh còn hạn chế 83 % 17%
2 Ảnh hưởng về phát âm chuỗi trong lời nói Tiếng
Anh (hiện tượng nuốt âm, hiện tượng nối âm, hiện
tượng đồng hóa âm vị, hiện tượng rút gọn của từ…)
3 Không phân biệt được các từ đồng âm và các từ có
cách phát âm gần giống nhau
+ 78 % học sinh gặp khó khăn không phân biệt được các từ đồng âm và các từ
có cách phát âm gần giống nhau
Trang 11PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 4 PHIẾU ĐIỀU TRA NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC HỌC SINH KHÓ NẮM BẮT ĐƯỢC Ý CHÍNH
CỦA BÀI NGHE VÀ KHÔNG DỰ ĐOÁN ĐƯỢC ĐIỀU SẮP NGHE
Năm học : 2019 - 2020
Họ và tên học sinh:
Lớp: …
Trường THCS Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Các em gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt được ý chính của bài nghe Tiếng Anh và dự đoán được điều sắp nghe Những nguyên nhân gây ra những khó khăn là gì ? Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến
đồng ý
1 Không phân biệt được thông tin chính cần nghe
với các thông tin còn lại
2 Không suy luận được ý chính của bài nghe từ
những từ quan trọng
3 Cả hai nguyên nhân trên
đồng ý
1 Không phân biệt được thông tin chính cần nghe
với các thông tin còn lại
2 Không suy luận được ý chính của bài nghe từ
những từ quan trọng
Những số liệu trên cho thấy nguyên nhân của việc khó nắm bắt nội dung chính của bài nghe là:
+ 58 % học sinh không phân biệt được thông tin chính cần nghe với các thông tin còn lại Thông tin các em nắm được khi nghe còn mơ hồ, không cụ thể, không chính xác,
+ 66 % học sinh không suy luận được ý chính của bài nghe từ những từ quan trọng Bao giờ cũng vậy ý chính của bài nghe thường được diễn đạt qua một
Trang 12số từ ngữ quan trọng hay còn gọi là từ khóa (key words), nhưng các em không
nắm được những từ khóa này
+ 76 % học sinh cho rằng nguyên nhân của việc khó nắm bắt nội dung bài nghe là do cả hai nguyên nhân: các em không phân biệt được thông tin chính cần nghe và không suy luận được ý chính của bài nghe từ những từ quan trọng + Bên cạnh đó hoạt động nghe của học sinh còn rập khuôn, máy móc, chưa biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào các tình huống thực tế trong cuộc sống
4, Nguyên nhân học sinh cố gắng dịch sang Tiếng Việt trong khi nghe Tiếng Anh
Trong thực tế, có nhiều học sinh khi nghe Tiếng Anh thường hay cố gắng dịch sang Tiếng Việt Những nguyên nhân gây ra vấn đề này là gì ?
Chúng ta biết: khi tiếp nhận thông tin người ta phải hiểu người nói, người viết muốn nói điều gì, nói về ai, muốn gửi gắm thông điệp nào…Vì vậy khi nghe Tiếng Anh học sinh cũng mang theo thói quen đó Tuy nhiên khi học Tiếng Anh, đặc biệt là việc nghe Tiếng Anh cũng cần có cách nghe phù hợp với đặc trưng môn học Đi sâu tìm hiểu và qua thực tiễn giảng dạy tại trường THCS Thịnh Long tôi thu thập được một số nguyên nhân chủ yếu Đồng thời để kết luận của mình
có căn cứ xác thực tôi tiếp tục sử dụng phiếu khảo sát đối với học sinh trong nhà trường
PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 5 PHIẾU ĐIỀU TRA NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC HỌC SINH CỐ GẮNG DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
KHI NGHE TIẾNG ANH Năm học: 2019 - 2020
Họ và tên học sinh:
Lớp: …
Trường THCS Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Các em thường hay cố gắng dịch sang Tiếng Việt khi nghe Tiếng Anh Những nguyên nhân gây ra việc này là gì Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến
Trang 133 Muốn nhanh chóng nắm bắt mọi vấn đề trong bài
nghe
4 Chưa hiểu rõ yêu cầu của bài nghe
Thống kê được sau cuộc khảo sát là:
đồng ý
1 Phương pháp học tập Tiếng Anh chưa phù hợp với
đặc trưng môn học
69 % 31 %
2 Áp dụng thói quen tư duy Tiếng Việt 61 % 39%
3 Muốn nhanh chóng nắm bắt mọi vấn đề trong bài
nghe
58 % 42 %
4 Chưa hiểu rõ yêu cầu của bài nghe 34 % 66 %
Dựa vào thống kê sau cuộc khảo sát trên cho thấy, học sinh thường hay cố dịch sang Tiếng Việt khi nghe Tiếng Anh là do:
Học sinh chưa có phương pháp học Tiếng Anh phù hợp cho bản thân và chưa hiểu rõ yêu cầu của bài nghe Học sinh còn có thói quen tư duy bằng Tiếng Việt và muốn nắm bắt mọi vấn đề trong bài nghe
Chính những thói quen đó đã gây trở ngại cho các em trong việc nghe Tiếng Anh
5, Nguyên nhân của việc học sinh thiếu tập trung khi nghe, không kiểm soát được điều sẽ nghe
Các em gặp nhiều khó khăn trong việc tập trung khi nghe, kiểm soát được điều sẽ nghe Những nguyên nhân gây ra những khó khăn là gì?
Qua khảo sát có thể nhận thấy nguyên nhân dẫn đến việc học sinh thiếu tập trung khi nghe, tôi tiếp tục khảo sát ý kiến của học sinh, có cả nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh và nguyên nhân khách quan tác động
PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 6 PHIẾU ĐIỀU TRA NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC HỌC SINH THIẾU TẬP TRUNG KHI NGHE
KHÔNG KIỂM SOÁT ĐƯỢC ĐIỀU SẼ NGHE
Trang 14Các em gặp nhiều khó khăn trong việc tập trung khi nghe Tiếng Anh và kiểm soát được điều sẽ nghe Những nguyên nhân gây ra những khó khăn này là
gì Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến
đồng ý
1.Thiếu kinh nghiệm khi nghe
2 Không có thói quen nghe thường xuyên
3 Nghe không hiểu nên sợ nghe
4 Sức khỏe không tốt
5 Không có hứng thú nghe
6 Tốc độ của bài nghe quá nhanh
7 Không gian nghe không yên tĩnh
Thống kê sau cuộc khảo sát:
đồng ý
2 Không có thói quen nghe thường xuyên 61% 39%
- Nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh là:
+ 72 % học sinh thiếu tập trung khi nghe, không kiểm soát được điều sẽ nghe là do các em thiếu kinh nghiệm khi nghe
+ 61 % học sinh không có thói quen nghe thường xuyên nên dẫn đến các
em thiếu tập trung khi nghe, không kiểm soát được điều sẽ nghe
+ 53 % học sinh nghe không hiểu nên sợ nghe
+ Chỉ có 22 % học sinh ý kiến sức khỏe không tốt
+ 36 % học sinh không có hứng thú nghe
- Nguyên nhân khách quan:
Trang 15+ 47 % học sinh thiếu tập trung khi nghe, không kiểm soát được điều sẽ nghe là do các em thấy tốc độ của bài nghe quá nhanh
+ 49 % học sinh cho rằng không gian nghe không yên tĩnh đã ảnh hưởng đến việc tập trung nghe của các em
Từ kết quả khảo sát trên cho thấy:
Do việc thiếu kinh nghiệm khi nghe, không biết cần nghe thông tin chính
là gì và học sinh cố gắng nghe hết mọi thông tin trong bài nghe nên học sinh mất tập trung khi nghe Bên cạnh đó, tốc độ của bài nghe quá nhanh đã dẫn đến học sinh mất tập trung khi nghe, nghe được phần này thì bài nghe đã sang phần khác Như vậy học sinh sẽ không nghe được phần khác nữa Từ đó học sinh sẽ bối rối, mất tập trung, đến khi tâm trí quay trở lại với bài nghe thì nội dung đã đi quá xa
và học sinh không hiểu đang nghe cái gì, không biết đang nghe đến đâu và không kiểm soát được điều sẽ nghe Ngoài ra, học sinh không có thói quen nghe, không
có hứng thú nghe cùng với sức khỏe không tốt và không gian nghe không yên tĩnh
cũng làm các em thiếu tập trung khi nghe, không kiểm soát được điều sẽ nghe
6, Nguyên nhân học sinh không theo kịp tốc độ của người nói
Qua thực tế tìm hiểu tôi thấy được hạn chế trong kỹ năng nghe Tiếng Anh
là do học sinh không theo kịp tốc độ của người nói Để tìm hiểu rõ nguyên nhân
này tôi đã khảo sát ý kiến của học sinh
PHIẾU ĐIỀU TRA SỐ 7 PHIẾU ĐIỀU TRA NGUYÊN NHÂNCỦA VIỆC HỌC SINH KHÔNG THEO KỊP TỐC ĐỘ CỦA NGƯỜI NÓI Năm học : 2019 - 2020
Họ và tên học sinh:
Lớp: …
Trường THCS Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Các em gặp nhiều khó khăn trong việc theo kịp tốc độ của người nói Những nguyên nhân gây ra những khó khăn là gì Em hãy vui lòng cho biết ý kiến của mình bằng cách đánh dấu (X) vào ô ý kiến
ý
Không đồng ý
1.Thiếu vốn từ vựng Tiếng Anh cần thiết
2 Thiếu kĩ năng, phương pháp học tập môn học
3 Không nắm chắc quy tắc âm, nghĩa của từ Tiếng
Anh
Trang 164 Thiếu tập trung khi nghe
5 Quen với cách phát âm, dùng từ mang sắc thái địa
phương( nói chậm, nói ngọng…)
Thống kê sau cuộc khảo sát là:
ý
Không đồng ý
1.Thiếu vốn từ vựng Tiếng Anh cần thiết 73% 27%
2 Thiếu kĩ năng, phương pháp học tập môn học 57% 43%
3 Không nắm chắc quy tắc âm, nghĩa của từ Tiếng Anh 56% 44%
5 Quen với cách phát âm, dùng từ mang sắc thái địaphương(
nói chậm, nói ngọng…)
33% 67%
Nhìn vào kết quả khảo sát ta thấy:
+ 73% học sinh đồng ý với ý kiến thiếu vốn từ vựng Tiếng Anh là nguyên nhân dẫn đến việc học sinh gặp khó khăn khi nghe và không theo kịp tốc độ của người nói
+ 57% học sinh cho rằng việc thiếu kỹ năng và phương pháp học tập bộ môn + 56% học sinh đồng ý với ý kiến việc chưa nắm chắc quy tắc về âm, nghĩa của
từ Tiếng Anh làm các em không theo kịp tốc độ của người nói
+ 54% thiếu tập trung khi nghe của học sinh cũng là nguyên nhân không nhỏ làm các em không theo kịp tốc độ của người nói
+ Một phần nhỏ học sinh quen với cách phát âm, dùng từ mang sắc thái địa phương( nói chậm, nói ngọng…)
Chính những khó khăn trên đã làm cho học sinh không theo kịp được tốc độ của người nói và dẫn đến kỹ năng nghe hiểu của học sinh chưa đạt hiệu quả cao
1.2.3 Nguyên nhân khác
+ Thị trấn Thịnh Long là khu du lịch với nhiều dịch vụ vui chơi và giải trí thu
hút sự tò mò, mải chơi của học sinh và có thể dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội
+ Các em chưa có điều kiện được tiếp xúc với người nói Tiếng Anh bản địa nên các hoạt động của các em còn mang tính gượng ép, chưa tự nhiên đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nghe Tiếng Anh của các em Khi không nghe được thì các em cũng sẽ không đáp ứng được mục đích giao tiếp Từ đó sẽ càng ngại nghe, ngại nói Tiếng Anh
Trang 17+ Phát âm của học sinh còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tiếng Việt đặc biệt là tiếng địa phương Sự ảnh hưởng của môi trường sống, của văn hóa vùng miền tác động không nhỏ tới học sinh.Việc phát âm của người Hải Hậu nói chung, Thịnh Long nói riêng mang đặc điểm vùng miền khá rõ Học sinh Thịnh Long bị ảnh hưởng bởi điều này Học sinh nói ngọng, nói nặng, âm hay kéo dài cuối câu, phát
âm chưa chuẩn Đặc biệt học sinh hay nhầm lẫn các âm: /n/ và /l/; /r/ và /d/…
+ Các thiết bị dạy học tuy đã được trang bị nhưng chưa đầy đủ và chưa bố trí cho các khối, lớp trong tiết học Tiếng Anh
+ Nhận thức của một số ít phụ huynh về môn học Tiếng Anh còn hạn chế
Họ chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, chưa tạo điều kiện cho con em mình học tập Tiếng Anh Họ chưa quản lý được giờ giấc học tập của con em ở nhà Họ quan niệm học Tiếng Việt chưa sõi thì sao học được Tiếng Anh
và dẫn đến việc xem nhẹ môn học
Vì những lý do trên đã làm học sinh còn nhiều hạn chế trong việc nghe Cho nên việc giúp học sinh phát triển kỹ năng nghe là việc cần thiết và cấp bách đối với người dạy, phù hợp với xu thế chung, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới và mục tiêu đào tạo của nền giáo dục là tăng cường kỹ năng ứng dụng thực hành, hoàn thiện kỹ năng nghe- nói - đọc - viết cho học sinh
Vậy để đạt được mục tiêu và yêu cầu của kỹ năng nghe hiểu Tiếng Anh cho học sinh lớp 6 cần có sự kết hợp nhịp nhàng từ người dạy, người học và nhiều yếu
tố khách quan khác
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Qua ba năm học triển khai giảng dạy chương trình Tiếng Anh hệ 10 năm cho lớp 6 tại trường THCS Thịnh Long, tôi thấy để khắc phục những tình trạng trên và triển khai tốt việc dạy kỹ năng nghe thì giáo viên cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
2.1.Giải pháp thứ nhất: Củng cố và làm giàu thêm vốn từ vựng Tiếng Anh của học sinh
Từ vựng được coi là sự bắt đầu của tất cả việc học ngôn ngữ Từ vựng quyết định sự thành công của học sinh trong quá trình học tập Không có từ vựng
thì không có thông tin nào có thể được truyền đạt (Without vocabulary, nothing can be conveyed) Từ vựng là nền tảng cho các kỹ năng phát triển ngôn ngữ trong
giao tiếp trong đó có kỹ năng nghe Nếu có vốn từ vựng đa dạng, phong phú sẽ giúp học sinh hiểu được nội dung người nói, người viết truyền đạt Khi hiểu được nội dung truyền đạt học sinh sẽ biết mình phải làm gì, phải thực hiện những nhiệm
vụ nào để đem lại hiệu quả học tập và từ đó học sinh sẽ phát triển và hoàn thiện các kỹ năng cơ bản nghe- nói- đọc- viết Đặc biệt quá trình nghe- nói cuả học sinh ngày càng thành thạo, trôi chảy Vì vậy việc củng cố và làm giàu thêm vốn từ
Trang 18vựng Tiếng Anh của học sinh là rất quan trọng Giáo viên cần định hướng và khuyến khích học sinh kiên trì, chăm chỉ học từ mới, tìm ra phương pháp học từ một cách hiệu quả phù hợp với khả năng của từng học sinh Bác Hồ kính yêu của chúng ta chính là một tấm gương sáng cho mỗi học sinh với các phương pháp học nâng cao vốn từ vựng Tiếng Anh rất hiệu quả của Bác Phương pháp học từ vựng của Bác đã được cả thế giới biết đến và truyền tụng
2.1.1.Cần kiên trì học từ mới hằng ngày
Để có vốn từ vựng học sinh phải thường xuyên kiên trì, có tinh thần tự học
và phân bố thời gian hợp lý Các em không nhất thiết phải học suốt ngày, học suốt đêm hay lúc nào cũng phải ngồi vào bàn học; mà chỉ cần học mỗi ngày Có thể là: sau khi thức dậy, trước khi đi ngủ, trước hoặc sau bữa ăn, trên đường đi học hay tan học về thậm chí khi làm việc nhà hoặc bất cứ nơi nào Học sinh học từ vựng Tiếng Anh ở lớp, ở trường, ở nhà, ở ngoài đường, ngoài công viên, học với bạn
bè, với thầy cô, anh chị em… Các em cần duy trì việc học từ mới thành một thói quen Thói quen học từ mới phải thực hiện như cơm ăn, nước uống hằng ngày
Học sinh cần kết hợp giữa việc học từ mới với ôn lại những từ đã học Có như thế học sinh sẽ nhớ được từ Tiếng Anh lâu hơn, hiệu quả hơn
Số lượng từ vựng mà học sinh học được mỗi ngày tùy thuộc vào khả năng trình độ và phương pháp học của mỗi em Học sinh cần đặt ra mục tiêu về số lượng từ mới cần học mỗi ngày cho riêng mình và quyết tâm thực hiện
Với việc chăm chỉ, kiên trì, học tập chắc chắn kiến thức từ vựng của học sinh sẽ ngày càng được củng cố và phong phú hơn
2.1.2 Có phương pháp học từ vựng hiệu quả
- Học từ vựng của một ngôn ngữ nói chung hay của Tiếng Anh nói riêng trước hết là bắt chước làm quen với âm thanh, biết nghĩa của từ và cách sử dụng của từ đó
- Học thuộc lòng từ vựng thông qua phát âm Hãy phát âm thật to các từ vựng để có thể tự sửa lỗi phát âm và nhớ từ vựng lâu hơn Từ vựng và phát âm có mối quan hệ khăng khít Phát âm chuẩn mỗi từ vựng sẽ giúp học sinh nhớ từ và luyện phát âm như người bản ngữ Từ đó học sinh sẽ giao tiếp tốt
- Giáo viên có thể tìm hiểu sở thích của học sinh để dẫn dắt các em vào những lĩnh vực thực tế trong cuộc sống liên quan đến sở thích của các em Giáo viên khuyến khích học sinh học từ vựng về lĩnh vực mà học sinh yêu thích hoặc qua những Chants hay những bài hát Tiếng Anh hoặc những trang webTiếng Anh trên mạng Internet mà các em ưa thích Phương pháp học từ vựng của học sinh là
“mưa dầm, thấm lâu” Mỗi ngày học sinh gặp thường xuyên các từ vựng thì chúng
sẽ dần đi vào trí nhớ của học sinh một cách dễ dàng Khi học sinh thích nghe bài hát Tiếng Anh thì các em sẽ thích nghe đi nghe lại nhiều lần Và như vậy học sinh
Trang 19không chỉ để thấm được âm thanh, giai điệu của bài hát mà còn học được, luyện tập từ Tiếng Anh cần học qua bài hát Học sinh hiểu được nội dung của bài hát và hát bằng được bài hát yêu thích Tôi nghĩ đây là một phương pháp hữu hiệu thúc đẩy học sinh nghiên cứu, tìm tòi, học tập để nâng cao vốn từ vựng Tiếng Anh nói riêng và kiến thức về Tiếng Anh nói chung
Ví dụ: Học sinh rất thích nghe bài hát “Head, shoulders, knees & toe một
bài hát Tiếng Anh cho trẻ về chủ đề các bộ phận trên cơ thể Giáo viên có thể gợi
ý học sinh mở “Youtube” nghe bài hát, xem hình ảnh sinh động về các bộ phận
trên cơ thể kết hợp với cách phát âm, trọng âm, xem hình ảnh đoán nghĩa của từng
từ vựng chỉ bộ phận trên cơ thể trong nền nhạc vui nhộn Học sinh nghe đi nghe lại nhiều lần sẽ nhớ được các từ vựng một cách dễ dàng
- Học sinh nào có năng khiếu và sở thích hội họa, giáo viên có thể khuyến
khích các em thể hiện năng khiếu hội họa của mình để tái hiện hình ảnh qua việc nghe Tiếng Anh Bởi lẽ những học sinh đam mê hội họa thường có tư duy lôgic,
tư duy hình ảnh rất tốt, có khả năng sử dụng ngôn ngữ để lập luận so sánh và trình bày khá thuyết phục so với những học sinh ít tiếp xúc với hội họa Khi dạy từ vựng liên quan trong bài nghe, giáo viên có thể cho học sinh phác họa hình ảnh
mà học sinh tư duy được qua việc nghe
Ví dụ: Khi dạy các từ vựng liên quan đến chủ đề ngôi nhà, giáo viên có thể
yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm Giáo viên phân công nhiệm vụ cho từng nhóm Mỗi nhóm cử một bạn có năng khiếu hội họa phác thảo ngôi nhà Các bạn trong nhóm thay nhau giới thiệu ngôi nhà, các phòng, đồ đạc, vận dụng trong nhà Những từ nào học sinh chưa học giáo viên có thể dùng luôn bức phác họa của học sinh để giới thiệu Bằng cách này học sinh sẽ hứng thú tiếp nhận từ vựng và nhớ lâu
Hoặc khi học sinh nghe đoạn văn miêu tả hình dáng của một người Giáo
viên có thể yêu cầu học sinh vừa nghe, vừa phác họa lại hình dáng( tall/short, thin/fat ),khuôn mặt (round/long/oval ),hair (long/short, straight/curly/black/ brown/ ), của người được miêu tả trong đoạn văn Những em học sinh có đam
mê hội họa sẽ cố gắng tập trung lắng nghe băng, nắm bắt thông tin chính cần nghe
để phác họa nhanh bức chân dung cần vẽ Để thể hiện được sự đam mê này và năng lực của bản thân, đòi hỏi học sinh phải nhớ được các từ vựng bằng Tiếng Anh có liên quan Từ đó việc nghe của các em đạt hiệu quả cao Giáo viên kiểm tra, động viên, khen ngợi kịp thời những học sinh vẽ nhanh và đẹp
+ Giáo viên định hướng cho học sinh có thể chơi một số trò chơi game trẻ
em trên Internet như: Scramble, Hidden themes, 4 pictures 1 word, 7
littlewords Các em chơi các trò chơi game này vừa giải trí, vừa có thể nhớ các
từ vựng Tiếng Anh một cách hiệu quả
Trang 20Một trong những trò chơi học sinh thích nhất đó là: 4 pictures 1 word Đây
là trò chơi đơn giản mang tính giáo dục cao thích hợp với mọi lứa tuổi, ứng dụng tốt nhất cho việc học từ vựng Học sinh nhìn vào 4 hình ảnh gợi ý chọn từng chữ cái ghép lại với nhau sao cho khớp với ô chữ tương úng để tìm ra từ có nghĩa thích hợp Qua trò chơi có thể kiểm tra trình độ của học sinh về kiến thức, trí thông minh và tư duy trừu tượng Đồng thời giúp học sinh củng cố từ đã học, hoặc từ vừa học, tiếp tục tìm hiểu các từ sắp học
Ví dụ : Ở Unit 5: Natural wonders of the world
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chơi trò chơi 4 pictures one word để
giới thiệu từ mới hoặc kiểm tra việc nhớ và hiểu từ vựng đã học liên quan đến chủ điểm của bài học
What are these pictures about ?
This noun in plural has 7 letters.
(Giáo viên yêu cầu học sinh xem 4 hình ảnh, tưởng tượng những hình ảnh
này liên quan đến một danh từ số nhiều gồm 7 chữ cái Đó là từ “ wonders”
Nhìn vào tranh giáo viên có thể giới thiệu thêm tên của các kỳ quan nổi tiếngcủa Việt Nam bằng Tiếng Anh như: Phong NhaCave/ Hoi An ancient town/ Ha Long Bay Giáo viên có thể đề nghị học sinh hỏi các bạn trong lớp về các kỳ quan nổi tiếng khác của Việt Nam Học sinh giới thiệu các kỳ quan đó bằng Tiếng Anh )
Trang 21Các phương pháp học từ vựng trên sẽ giúp học sinh tiếp cận với từ vựng một cách
dễ dàng, nhớ lâu, nâng cao vốn từ và vận dụng linh hoạt các từ vựng đã học vào
trong các tình huống cụ thể
2.1.3 Sử dụng hình ảnh thực tế sinh động liên quan đến từ vựng hoặc gắn từ vựng trong ngữ cảnh cụ thể
Giáo viên có thể dùng tranh ảnh, hình ảnh thực tế để đưa ra cách đọc, cách
sử dụng của các từ vựng Bởi lẽ học từ vựng qua hình ảnh cụ thể sẽ khiến não bộ nhanh ghi nhớ từ vựng tốt hơn Sau đó đưa từ vựng vào ngữ cảnh cụ thể Nhiều
từ vựng Tiếng Anh sẽ có nghĩa khác nếu như được gắn trong cụm từ, thành ngữ hay ngữ cảnh nào đó Vì thế khi gắn việc học từ vựng theo ngữ cảnh sẽ giúp học sinh biết nghĩa của từ một cách chính xác và nhớ lâu
Giáo viên có thể sử dụng hình ảnh trong Sách giáo khoa, sưu tầm hình ảnh trên Internet hoặc trong thực tế để giới thiệu từ vựng
Ví dụ:Khi giáo viên giới thiệu từ mới là tên những đồ dùng học tập của học
sinh, giáo viên có thể sử dụng những đồ dùng học tập mà học sinh có sẵn Giáo viên có thể chỉ vào chiếc compa của học sinh để giới thiệu cách phát âm, nghĩa
của từ “compass” Giáo viên chỉ vào máy tính để giới thiệu từ “ calculator” Với
cách giới thiệu từ mới bằng hình ảnh giúp học sinh sẽ nhớ từ mới dễ dàng và nhớ lâu hơn
Ví dụ : Khi dạy từ mới “ peach blossom” ( hoa đào), giáo viên gắn với ngữ
cảnh ngày Tết ở Việt Nam với chợ hoa, với người đi chợ hoa cùng người thân cầm cành đào trên tay hoặc một cây đào trước nhà mỗi người Việt vào dịp Tết đến, xuân về Những dấu hiệu này đã có sẵn trong bộ nhớ của mỗi học sinh nên mỗi khi nghĩ đến Tết, đến đi chợ hoa ngày Tết, đến cây trồng trước nhà ngày Tết
học sinh đều nhắc được từ “ peach blossom”
2.1.4.Hình thành thói quen đọc thật nhiều cho học sinh
- Nên hình thành ở học sinh có thói quen đọc nhiều để nhớ những từ vựng
đã học Đồng thời các em còn học được các từ mới và cách sử dụng của chúng theo mạch đoạn văn hoặc theo ngữ cảnh trong từng bài đọc Nếu học sinh bắt gặp những từ mới, các em có thể đoán nghĩa của từ mới đó hoặc tra từ ( nếu các em thấy cần thiết) sau đó ghi vào sổ tay từ vựng
- Học sinh nên thường xuyên đọc sách, báo, truyện hoặc các tài liệu tham khảo bằng Tiếng Anh Mỗi câu chuyện hay bài báo đều viết theo một chủ đề hay một nội dung cụ thể Chính vì thế khi học sinh đọc chúng sẽ nhớ lại được các từ mới đã học và có thể đoán được những từ mới chưa biết dựa vào sự logic hoặc ngữ cảnh của bài đọc
Ví dụ: Học sinh nên khuyến khích học sinh đọc những truyện thiếu nhi song ngữ có hình ảnh với nội dung đơn giản mà các em ưa thích như : Cinderella,
Trang 22The Ugly duckling, The Rabbit and The Tortoise….Bằng việc đọc những câu
chuyện này, học sinh sẽ cảm thấy hứng thú vì hiểu được câu chuyện mang nội dung gì Không chỉ thế, mỗi câu chuyện thiếu nhi này đều mang tới một thông điệp tuyệt vời về cuộc sống, về đạo đức giúp học sinh có cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống và biết tự hoàn thiện bản thân cho tốt hơn Đó là động lực thúc đẩy các
em cố gắng đọc để hiểu câu chuyện và như thế các em sẽ học được nhiều từ mới
và nhớ lại được nhiều từ đã học
2.1.5 Khuyến khích học sinh tư duy từ vựng bằng Tiếng Anh
+ Giáo viên khuyến khích học sinh tạo cho mình một môi trường họcTiếng
Anh , được “ tắm mình ” trong môi trường Tiếng Anh sôi động, tích cực, được nói
chuyện giao tiếp với nhau bằng Tiếng Anh sẽ tạo cho học sinh việc học từ vựng một cách hiệu quả nhất Học sinh có thể miêu tả mọi thứ, con người, cảnh vật…xung quanh bằng Tiếng Anh cũng là cách học cách tư duy từ vựng bằng Tiếng Anh
Ví dụ: Ở trong lớp, học sinh Anh có thể liệt kê đồ vật bằng Tiếng Anh Khi
ở nhà, học sinh nhìn ngắm các đồ đạc, sự vật trong ngôi nhà thân yêu của mình
và gọi tên chúng bằng Tiếng Anh Nếu tên đồ đạc nào không nhớ cách gọi bằng Tiếng Anh thì các em có thể ghi ra giấy rồi dán lên đồ đạc đó để ghi nhớ
Cứ như vậy học sinh sẽ nhớ được từ mới một cách hiệu quả Thậm chí giáo viên có thể hướng dẫn học sinh có kỹ năng đoán được nghĩa của từ mà các em quên hoặc chưa biết thông qua việc dẫn dắt đến các từ vựng đã học
Ví dụ: Các em muốn gửi một lá thư nhưng không biết đường đến bưu điện
nên các em phải hỏi người đi đường chỉ đường cho mình đến đó
“I would like to send a letter Could you tell me the way to the post office?” Nếu các em quên từ “bưu điện” là “ post office ” thì phải diễn giải bằng cụm từ
khác để người nghe hiểu được ý của người nói
“I would like to send a letter Could you tell me where to send it?”
Bằng việc học sinh tư duy từ vựng bằng Tiếng Anh giúp các em nhớ được từ vựng một cách nhanh hơn, nhớ lâu hơn Đồng thời điều này sẽ giúp học sinh hình thành được thói quen, phản xạ nghe- nói Tiếng Anh tốt
+Hướng dẫn học sinh học từ vựng theo từng theo chủ đề
Học từ vựng theo chủ đề mang lại rất nhiều lợi ích như:
- Nhớ ngữ nghĩa của từ rất nhanh
- Sắp xếp lựa chọn được các từ vựng theo chủ đề trong các tình huống thực
tế
- Học sinh mở rộng thêm được vốn từ có liên quan đến mỗi chủ điểm
Trang 23- Mục đích giao tiếp nghe – nói được tập trung không bị sa đà, sai lệch Trên truyền hình có rất nhiều chương trình giúp người học nói chung, trẻ
em nói riêng nâng cao vốn từ vựng Tiếng Anh gần gũi với cuộc sống hàng ngày của con người
Trên kênh VTV7 có chương trình “ 5 từ mới Tiếng Anh mỗi ngày” với
những hình ảnh sống động, cách giới thiệu từ vựng dễ hiểu và dễ nhớ Mỗi ngày giới thiệu 5 từ mới liên quan đến cùng một chủ đề thiết thực trong cuộc sống Học sinh được thực hành nghe, nói, đọc, viết thành thạo và nhớ được 5 từ mới Tiếng Anh mỗi ngày Cứ như vậy học sinh sẽ nâng cao được vốn từ vựng theo từng ngày, từng tháng, từng năm
2.1.6.Hướng dẫn học sinh ghi chép, tra từ, lập sổ tay ghi chép từ vựng
Giáo viên hướng dẫn mỗi học sinh lập một sổ tay ghi chép từ vựng bằng cách kẻ bảng gồm 5 cột:
-Cột 1: Là ghi từ Tiếng Anh cần ghi nhớ và cách phát âm
- Cột 2: Là nghĩa Tiếng Việt của từ vựng
- Cột 3: Ghi từ đồng nghĩa, trái nghĩa của từ gốc
- Cột 4: Ghi các từ vựng liên quan đến từ vựng đó
-Cột 5: Viết ví dụ câu Tiếng Anh chứa từ vựng đó
Học sinh nên hệ thống từ vựng theo chủ để Mỗi chủ đề liệt kê 15- 20 từ liên quan cùng với các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, giới từ Học sinh có thể dùng từ điển tra các từ loại liên quan đến từ vựng để hoàn thành bảng trong sổ tay từ vựng Đồng thời mỗi từ vựng được đặt trong ngữ cảnh cụ thể sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu từ vựng Ngoài ra giáo viên có thể khuyến khích học sinh có thể sử dụng khả năng hội họa của các em để phác họa các từ mới bằng những nét vẽ đơn giản
Đặc biệt giáo viên nên hướng dẫn học sinh học từ vựng bằng sơ đồ tư duy “
Mind maps” kết hợp giữa ngôn ngữ cùng với hình ảnh sẽ tạo ấn tượng giúp học
sinh nhớ từ vựng khắc sâu vào não bộ bằng hình ảnh Từ đó học sinh hình thành được tư duy logic Học sinh tăng khả năng ghi nhớ, linh hoạt trong việc thêm ý tưởng mới sáng tạo và có góc nhìn đa chiều chi tiết về một chủ đề được đề cập Học sinh sẽ tạo được phản xạ từ vựng, phản xạ giao tiếp bằng Tiếng Anh
Ở phần Unit 2: My house: Skills 2, giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy “ Mind maps ” để củng cố từ vựng liên quan đến chủ điểm của bài Bằng cách sử dụng sơ
đồ tư duy này giúp học sinh nắm chắc nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống mang lại hiệu quả cao và phát triển tư duy logic và khả năng phân tích tồng hợp của học sinh rất tốt Từ đó học sinh nhớ bài, hiểu bài, nhớ lâu thay vì học
Trang 24thuộc lòng, học vẹt Học sinh hứng thú tiếp cận các từ mới liên quan đến chủ để của bài
2.1.7.Giúp học sinh nắm chắc dạng khẳng định và phủ định của từ vựng Tiếng Anh để tránh nhầm lẫn giữa hai dạng này khi thực hiện hoạt động nghe
Dạng phủ định trong tiếng Anh thường dùng các trợ động từ trong câu
do/does/did ( don’t/ doesn’t/ didn’t…)Ngoài ra dạng phủ định còn được tạo nên bởi các tiền tố hoặc hậu tố như: unhappy/un friendly/ impolite/ impatient/ careless/ hopeless Nếu học sinh không nghe rõ các tiền tố hay hậu tố hay các trợ động từ
phủ định thì các em sẽ hiểu sai nội dung của bài nghe
Để tránh sự nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định trong bài nghe học sinh cần chú ý đến các phụ tố, các trợ động từ cũng như các yếu tố giọng điệu của người nói và ngữ cảnh cụ thể của câu
Ví dụ: Trong băng nghe :
“She wasn’t very disappointed although she failed the exam.”
Nếu học sinh nghe nhầm dạng phủ định “ wasn’t ”thành dạng khẳng định “ was” hoặc nghe nhầm “ disappointed” thành “ appointed”thì học sinh sẽ hiểu sai
nội dung của phần nghe
2.2 Giải pháp thứ hai: Giúp học sinh hiểu và nhận biết được âm, trọng
âm, nghĩa của từ Tiếng Anh và trọng âm, ngữ điệu, nhịp điệu của câu Tiếng Anh
Trang 252.2.1 Hướng dẫn học sinh phân biệt và hiểu được từ đồng âm trong Tiếng Anh
Học sinh cần phân biệt được sự khác nhau giữa từ đồng âm trong Tiếng Việt và từ đồng âm trong Tiếng Anh
- Trong Tiếng Việt, từ đồng âm được hiểu là những từ có cách phát âm giống nhau nhưng nghĩa thì khác nhau Bởi vì Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên trong Tiếng Việt từ đồng âm là các từ trùng nhau về hình thức ngữ âm ( thường là viết và đọc giống nhau ) nhưng lại khác nhau về nghĩa của từ( là những
từ phát âm giống nhau hoặc cấu tạo âm thanh giống nhau nhưng nghĩa của từ loại hoàn toàn khác nhau)
Ví dụ : Từ: “ Thu” mùa thu ≠ thu tiền
(Từ “ thu” trong từ “ mùa thu” là danh từ chỉ một mùa trong năm
Từ” thu” trong từ “ thu tiền” là động từ chỉ hoạt động( thu, gom)
Từ: “Cày” cái cày ≠ cày ruộng
( Từ “ cày” trong từ “ cái cày” là danh từ chỉ đồ vật để cày ruộng
Từ “ cày “ trong từ “ cày ruộng” là động từ chỉ hoạt động xới, đào đất.)
Nghĩa của từ Tiếng Việt còn phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp vì trong Tiếng Việt có hiện tượng chuyển loại của từ
Còn trong Tiếng Anh có nhiều từ đồng âm được phát âm giống hệt nhau, lại có những từ đồng âm và đồng cách viết mang ý nghĩa khác nhau dễ gây nhầm lẫn cho người nghe nếu học sinh không phân biệt được từ đồng âm trong Tiếng Anh
Do vậy học sinh cần phải dựa vào chức năng của từ đó trong câu, cấu trúc câu được tạo nên bởi từ đó, ngữ cảnh của câu để suy luận và chọn ra từ đúng
Trong Tiếng Anh có 2 loại từ đồng âm:
+ Từ đồng âm là những từ giống nhau về mặt ngữ âm, có cách viết giống nhau nhưng ý nghĩa khác nhau
Ví dụ : -I can can a can
( Tôi có thể đóng một cái hộp)
(Viết là “ can” nhưng có thể là từ loại khác nhau, nghĩa khác nhau
can( là động từ khuyết thiếu ) có nghĩa Tiếng Việt là: có thể
can ( là động từ thường ) có nghĩa Tiếng Việt là: đóng hộp
can ( là một danh từ) có nghĩa Tiếng Việt là: cái hộp
- I want to go to Turkey and eat turkey
( Tôi muốn đến Thổ Nhĩ Kỳ và ăn gà tây)
Trang 26-This patient is very patient
( Bệnh nhân này rất kiên nhẫn)
+ Từ đồng âm là những từ giống nhau về mặt ngữ âm, cách đọc giống nhau nhưng cách viết và ý nghĩa khác nhau
Ví dụ:
- Hai từ see ( nhìn, xem ) và sea ( biển ) đọc giống nhau nhưng nghĩa khác
nhau nên trong quá trình nghe học sinh phải dựa vào chức năng của từ trong câu
để suy ra nghĩa của từ
Câu: “ I can see the sea from the window ”
Học sinh phải phân biệt được sau can là động từ nguyên thể, còn sau the thường
là danh từ Từ đó học sinh đoán được sau can là động từ see (có nghĩa là “ nhìn, xem” ) còn sau the là danh từ sea (có nghĩa là “biển”)
Hai từ sun (mặt trời) và son (con trai) đều được phát âm là /sʌn/ và đều là danh
từ
Câu: “Her son is playing under the sun”
Học sinh phải dựa vào nghĩa của cả câu để suy luận ra nghĩa của từ (chỉ có thế
là:“Con trai của cô ấy đang chơi dưới ánh nắng mặt trời”chứ không thể là : “ Mặt trời của cô ấy đang chơi dưới con trai”)
Việc học sinh hiểu và phân biệt được từ đồng âm Tiếng Anh và các từ có cách phát âm gần giống nhau là rất quan trọng trong quá trình nghe hiểu của học sinh
2.2.2 Hướng dẫn học sinh phát âm Tiếng Anh chuẩn
Trong Sách Giáo Khoa Tiếng Anh 6 tất cả các bài nghe kể cả phát âm, trọng
âm của từ đều được ghi lại vào đĩa bằng giọng của người bản địa Điều này rất tốt cho học sinh Vì vậy ngay khi bắt đầu làm quen với Tiếng Anh, học sinh nên được
làm quen ngay với âm Tiếng Anh chuẩn
2.2.2.1 Hướng dẫn học sinh cách phát âm chuẩn trong bảng phiên âm
Để nghe Tiếng Anh tốt, trước tiên học sinh phải cố gắng phát âm thật chuẩn các từ học được Muốn như vậy khi học phát âm học sinh cần tra phiên âm chuẩn
và lặp đi lặp lại nhiều lần cho nhớ Phát âm chuẩn rất quan trọng bởi lẽ dù học sinh có biết từ đó nhưng phát âm sai thì các em sẽ không nghe và nói được từ đó Khi phát âm đúng, học sinh sẽ nghe được, nói được, đọc được từng câu, từng đoạn rồi hiểu được người nói, người viết muốn truyền đạt điều gì
Giáo viên dành thời gian để học sinh luyện cách phát âm Có những học sinh khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ thì giáo viên phải hiểu rõ điều này để phân nhóm và hướng dẫn học sinh phát âm chuẩn, giao nhiệm vụ cho học sinh khác trong nhóm hỗ trợ, giúp đỡ để bạn cùng tiến bộ Giáo viên kiểm tra, sửa chữa kịp thời những lỗi phát âm sai của học sinh
Học sinh thuộc bảng phát âm từ âm đơn đến âm đôi
Trang 27( Nguồn Internet )
+Trong Tiếng Anh có khoảng 44 âm trong đó có 20 nguyên âm và 24 phụ
âm Phát âm chuẩn từng phần sau đó ghép chúng lại để thành một tổ hợp âm hoàn chỉnh Học sinh cần phân biệt được sự phát âm khác nhau giữa nguyên âm và phụ
âm
Nguyên âm là những âm khi phát ra luồng khí từ thanh quản lên môi không
bị cản trở Đây là những âm được tạo ra bởi dao động của thanh quản chủ yếu là
a,o,i,u,e Dựa theo âm từ thanh quản nên khi phát âm học sinh cần cử động lưỡi
môi lấy hơi để phát âm chuẩn Nguyên âm có thể đứng một mình hoặc kết hợp với phụ âm để tạo thành tiếng Nguyên âm bao gồm nguyên âm đơn và nguyên
âm đôi Nguyên âm đôi được ghép bởi 2 nguyên âm đơn khác nhau
Phụ âm là âm phát mà luồng khí từ thanh quản lên môi bị cản trở như răng môi va chạm, lưỡi cong chạm môi Đó là phát âm từ thanh quản qua miệng Phụ
âm không được sử dụng riêng lẻ mà phải đi cùng nguyên âm tạo thành từ mới phát được thành tiếng trong lời nói
Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Anh lớp 6, tôi thấy mục Pronuciation
trong phần A closer look 2 của mỗi bài ở SGK Tiếng Anh lớp 6 đề cập đến việc
rèn cho học sinh phát âm các cặp nguyên âm đơn: /i/ và /i:/; /ə/ và /ɜ:/ ; /ʊ/ và /u/; /ɒ/ và /ɔ:/; /ɑ:/và /æ/; các nhóm nguyên âm đôi như: /iə/, /eə/ và /ʊə/ ; /ei/, /ɔɪ/ và /aɪ/, /əʊ/ và /aʊ/ và các cặp phụ âm : /θ/ và /ð/, /p/ và /b/, /s/ và /ʃ/ Việc rèn tốt
cho học sinh phát âm các cặp âm này là bước đệm cho việc nghe- nói của các em
ở các phần tiếp theo của mỗi đơn vị bài học Vì vậy giáo viên luyện phát âm cho học sinh để các em phân biệt được sự khác nhau trong cách phát âm của các cặp
âm này khi nghe, nói, đọc các từ Tiếng Anh có liên quan đến chúng
Trang 28- Các cặp nguyên âm đơn
/i/( âm i ngắn) phát âm giống âm “i”
của Tiếng Việt nhưng ngắn hơn, bật
nhanh, môi hơi mở sang hai bên,
lưỡi hạ thấp
Ví dụ : sit /sit/
/i:/( âm i dài) kéo dài âm “i”, âm phát từ
trong khoang miệng không thổi hơi ra, môi mở rộng hai bên như đang mỉm cười, lưỡi nâng cao lên
Ví dụ: sea /si:/
/ə/( âm ơ ngắn) phát âm như “ơ”
Tiếng Việt nhưng ngắn và nhẹ hơn
Môi mở rộng, lưỡi thả lỏng
Ví dụ: banana /bəˈna.nə/
/ɜ:/(âm ơ dài) phát âm dài hơn /ə/,
nhưng cong lưỡi lên, phát âm từ trong khoang miệng, môi hơi mở rộng, lưỡi cong lên, chạm vào vòm miệng khi kết thúc âm
Ví dụ: birthday/ ’bɜ:θ¸dei/
/ʊ/: phát âm gần giống “ư” của
Tiếng Việt, không dùng môi mà đẩy
hơi rất ngắn từ cổ họng
Ví dụ: good /gʊd/
/u:/ (âm u dài) âm phát ra từ khoang
miệng nhưng không thổi hơi ra, kéo dài
âm /u/ ngắn, môi tròn lưỡi nâng cao
Ví dụ: school /sku:l/
/ɒ/( âm o ngắn) tương tự như âm “o”
Tiếng Việt nhưng phát âm ngắn hơn
Ví dụ: hot /hɒt/
/ɔ:/ phát âm như “o” Ttiếng Việt nhưng
cong lưỡi lên, phát âm từ khoang miệng, tròn môi, lưỡi cong lên chạm vào vòm miệng khi kết thúc âm
Ví dụ: ball /bɔ:l/
/ɑ:/ giống âm “ a” đọc kéo dài, âm
phát ra từ khoang miệng, môi mở
rộng, lưỡi hạ thấp
Ví dụ : father/ fɑ: ðɚ/
/æ/:hơi giống âm “ a” và “e”, âm có cảm
giác bị nén xuống, miệng mở rộng, môi dưới hạ thấp xuống, lưỡi được hạ thấp xuống
Ví dụ: bad /bæd/
- Nhóm nguyên âm đôi :
/ɪə/:đọc âm /i/ rồi chuyển
sang âm /ə/, môi từ dẹt
thành hình tròn dần, lưỡi
thụt dần về phía sau
Ví dụ: here/ hiə/
/eə/: đọc âm /e/ rồi
chuyển dần sang âm /ə/, hơi thu hẹp môi, lưỡi thụt dần về phía sau
Ví dụ : where /weə/
/ʊə/:đọc âm /ʊ/ rồi
chuyển sang âm /ə/, môi
mở rộng dần, nhưng không mở rộng, lưỡi đẩy dần ra phía trước
Ví dụ: tourist/ ’tʊə.rist/
Trang 29/aɪ/: đọc âm /ɑ:/ chuyển
dần sang âm /i/, môi dẹt
dần sang 2 bên, lưỡi
nâng lên và hơi đẩy về
Ví dụ: boy /bɔɪ/
/ei/: đọc âm /e/ rồi
chuyển dần sang âm /i/, môi dẹt dần sang hai bên, lưỡi hướng dần lên trên
Ví dụ: name /neim/
/əʊ/ đọc âm /ə/ rồi chuyển dần sang
âm /ʊ/, môi từ hơi mở đến hơi tròn,
lưỡi lùi dần về phía sau
Ví dụ: cold /kəʊld/
/aʊ/: đọc âm /ɑ:/ rồi chuyển dần sang
âm /ʊ/, môi tròn dần, lưỡi thụt dần về
phía sau
Ví dụ: house /haʊ:s/
- Các cặp phụ âm:
/θ/ : đọc như “ th ” ở Tiếng Việt
Đặt đầu lưỡi giữa 2 hàm răng, hàm
trên đặt nhẹ trên đầu lưỡi, thổi hơi
giữa răng và lưỡi, cổ họng không
/b/: khẩu hình miệng giống phát âm “b”
trong Tiếng Việt, nhưng mím môi, phát
âm rung ở cổ họng, đưa tay về phía trước có luồng hơi thổi vào tay như âm
“b” trong Tiếng Việt
Ví dụ: baby /ˈbeɪbi/
/s/ : đọc là “s ” (nhanh, nhẹ, phát
âm gió) Hai hàm răng tạo khe hở
hẹp, lưỡi đặt nhẹ lên hàm trên,
luồng hơi thoát ra
Ví dụ : speak/ spi:k/
/ ʃ / : đọc là “s ” ( uốn lưỡi, hơi gió),
hơi chu miệng ra, tròn môi, lưỡi chạm hàm trên nâng phần trước của lưỡi lên
và hơi thoát ra
Ví dụ : shoes/ ʃu:/
Khi học phát âm các âm trong bảng phiên âm, học sinh cần tự kiểm tra lại việc phát âm các âm của mình bằng việc nghe các video phát âm từng âm của người bản xứ để có thể phân biệt sự khác nhau trong việc phát âm của từng cặp âm( sự khác nhau về âm, chuyển động của lưỡi, môi …) Học sinh cần đọc phát
âm chuẩn các âm trong bảng phiên âm thì mới có thể nói từ đúng được Khi phát
âm đúng từ thì học sinh mới có thể nghe được câu và hiểu được người nói nói Tiếng Anh
Ví dụ : sheep /ʃiːp/ ( nghĩa là: con cừu) và ship /ʃɪp /(nghĩa là: con tàu)
Trang 30feet /fiːt/ và fit /fɪt/
thirteen /θɜːˈtiːn/ và thirty /ˈθɜːti/
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra lại việc phát âm hai âm /i/ và /i:/
của mình bằng việc nghe video mà người bản xứ phát âm chuẩn hai âm đó
English Pronunciation – Short Vowel - _ɪ_ - ‘kit’, ‘bid’ & ‘him’.mp4
Khi học sinh phân biệt được sự khác nhau về phát âm của 2 âm: /i/ và /i:/,
các em sẽ nghe- nói đúng từ và hiểu đúng nghĩa của từ Nếu học sinh phát âm nhầm lẫn giữa hai âm thì sẽ nghe – nói sai từ và hiểu sai nghĩa của từ
Tương tự như trường hợp trên, học sinh có thể áp dụng thực hành nhớ cách phát âm của các âm kết hợp với kiểm tra lại cách phát âm và thực hành theo các video phát âm các âm mà người bản xứ ghi lại Để từ đó phân biệt được sự khác nhau giữa các âm và không nhầm lẫn khi nghe, nói và đọc âm, từ và câu Tiếng Anh
Học sinh đọc chậm, đọc rõ từng âm trong từ Học sinh cần lưu ý một số
âm gió không có trong Tiếng Việt như âm th/θ/ (cần đè lưỡi giữa hai hàm răng
và thổi ra) Âm sh/ʃ/, p/p/, t/t/ khi phát âm có thể đặt tay trước miệng và cảm nhận
hơi thổi ra từ miệng Đồng thời khi học từ học sinh cần học cả âm của từ đó Học phát âm đúng không những nghe tốt mà còn nói tốt Trong quá trình dạy trên lớp giáo viên có thể xen kẽ kiểm tra phát âm những âm học sinh hay nhầm lẫn khi bắt gặp những từ có kèm âm này và hướng dẫn học sinh tự luyện âm ở nhà
2.2.2.2 Hướng dẫn học sinh phát âm “- s /-es ” sau động từ thường chia
ở ngôi thứ ba số ít trong thời hiện tại đơn giản hoặc danh từ số nhiều
Học sinh cần phân biệt được sự khác nhau trong cách đọc “ s/ es ”sau động
từ thường chia ở ngôi thứ ba số ít trong thời hiện tại đơn giản hoặc trong danh từ
số nhiều Nếu học sinh không phân biệt được cách đọc của “ s/ es ” thì học sinh
khi nghe sẽ nhầm lẫn giữa danh từ đếm được số ít và danh từ số nhiều, động từ chia ở số ít và chia ở số nhiều trong thời hiện tại đơn giản Vì vậy học sinh cần
nắm chắc cách đọc của đuôi “ s/ es ” :
+ Nếu “ s ” đứng sau danh từ đếm được số ít hoặc động từ chia với ngôi thứ
ba số ít trong thời hiện tại đơn giản kết thúc bằng những âm vô thanh /p/, /k/, /t/,
/f/ thì “ s ” phát âm là /s/
Ví dụ: cooks/ kʊks/
hats /hæts /
+Nếu “ es” đứng sau danh từ đếm được số ít hoặc động từ chia với ngôi thứ
ba số ít trong thời hiện tại đơn giản kết thúc những âm /s/, / z/, ,/ ʃ / , /tʃ /, /ʒ/, /
dʒ/, thì “ es” phát âm là /iz/
Ví dụ: waches /wɒtʃiz/
Trang 31boxes/ bɒksiz/
+ Nếu “ s ” đứng sau danh từ đếm được số ít hoặc động từ chia với ngôi thứ
ba số ít trong thời hiện tại đơn giản kết thúc bằng các âm vô thanh (o, e, i, e, u )
và những âm hữu thanh ( tất cả những âm còn lại trừ những âm đã được đề cập ở
hai mục trên) thì “s” phát âm là /z/
(Từ “ laugh ” kết thúc bằng phụ âm “ gh ” nhưng phiên âm là / f / thì ta tính từ
laugh kết thúc bằng /f / nên khi ta thêm “s” ta đọc là /s/ chứ không phải là /z/) Giáo viên cần rèn cho học sinh cách phát âm đuôi “ s/es ” một cách thành thạo
Chính điều này không những góp phần giúp học sinh không nhầm lẫn khi nghe –
mà cả khi nói- đọc- viết Tiếng Anh
2.2.2.3 Hướng dẫn học sinh nắm chắc quy tắc phát âm trong Tiếng Anh
Cần rèn cho học sinh có kỹ năng nhận diện những âm khó phát âm chuẩn hay âm dễ lẫn trong lúc nói của người bản địa Giáo viên cần kết hợp việc dạy cách phát âm các âm chuẩn và có kiểm tra thường xuyên việc phát âm của học sinh trong từng giờ lên lớp Việc rèn luyện cách phát âm chuẩn cho học sinh cũng
là cơ hội tốt để cho giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên buộc giáo viên phải phát âm chuẩn dù có bị ảnh hưởng bởi âm của địa phương
-Trên thực tế nhiều học sinh tiếp nhận một giọng nói Tiếng Anh thường không chuẩn hoặc chứa nhiều âm không thật giống với các phát âm của người bản địa Đây là một trở ngại lớn đối với các em khi nghe người bản địa nói Do vậy cần rèn cho học sinh có kỹ năng nhận diện ra các âm khó phát âm chuẩn hay các
âm dễ lẫn như cách nối âm trong lúc nói của người bản địa.…
Dựa vào cách phát âm được áp dụng hiệu quả cho các từ có cách phát âm gần giống nhau hoặc chúng có trọng âm rơi vào âm tiết khác nhau
- Giáo viên động viên học sinh tương tác với các giọng nói đa dạng của nhiều người từ nhiều quốc gia nói Tiếng Anh khác nhau như Tiếng Anh do
người Anh nói, tiếng Anh do người Mỹ nói nhằm cải thiện khả năng nghe các từ Tiếng Anh để có thể phát âm theo nhiều cách
Học sinh cần lưu ý đến giọng địa phương của các nước, các khu vực nói Tiếng Anh khác nhau Bên cạnh đó, cũng giống như Tiếng Việt phát âm của mỗi người còn tuỳ thuộc vào cảm xúc, tâm trạng của người nói Có như thế học sinh mới có thể trở thành một người nghe Tiếng Anh thành thạo
Trang 32Điển hình là giáo viên cần lưu ý cho học sinh điểm khác biệt cơ bản giữa hai chất giọng Anh - Anh và Anh - Mỹ Giáo viên có thể cung cấp sự khác biệt trong cách phát âm hoặc cách viết của một số từ Tiếng Anh (Anh- Anh, Anh-Mỹ) đơn giản mà trong chương trình học các em hay bắt gặp khi nghe
Ví dụ:
Từ “Garage” tiếng Anh- Anh đọc là : /’gæriʤ /
tiếng Anh-Mỹ đọc là : /gə’ra:ʒ/
Từ “Schedule” tiếng Anh- Anh đọc là : /’ʃeʤu:l/
tiếng Anh-Mỹ đọc là : /’skeʤu:l/
Phát âm nhẹ hơn có xu
hướng thay thế /t/ bằng/d/ bottle /’ba:dl/
Trang 33- Giáo viên khuyến khích học sinh mạnh dạn lắng nghe cuộc nói chuyện bằng Tiếng Anh mà học sinh bắt gặp để làm giàu thêm khả năng nghe hiểu Tiếng Anh
- Giáo viên giảng giải cho học sinh hiểu rằng dù có giỏi Tiếng Anh cũng không thể biết hết mọi thứ Học sinh cũng không nên cầu toàn mong hiểu được mọi thứ và như người bản ngữ thì thật là khó.Cho nên học một ngôn ngữ nói chung hay tiếng Anh nói riêng là không ngừng học hỏi Là điều bình thường nếu các em yêu cầu người nói nói chậm lại hoặc nhắc lại những gì các em không hiểu
2.2.2.4 Hướng dẫn học sinh nghe, nói, đọc đúng trọng âm của từ và của câu
âm tiết
Ví dụ: hot /hɒt/ ( từ có 1 âm tiết với 1 nguyên âm o)
rabbit /’ræbit/ ( từ có 2 âm tiết vì kết hợp với 2 nguyên âm a và i )
*Để xác định được số lượng các âm tiết trong từ chúng ta cần tìm số lượng các nguyên âm trong từ Học sinh có thể dựa theo một số quy tắc sau:
Quy tắc 1: Đếm số nguyên âm để biết số âm tiết Một từ có bao nhiểu
nguyên âm thì có bấy nhiêu âm tiết
Ví dụ: ticket /’tiki:t/ ( từ có 2 âm tiết vì có 2 nguyên âm i và e)
Trang 34- Nếu từ có chứa âm y đứng giữa hoặc cuối từ sẽ được coi là một nguyên âm
và được tính là một âm tiết của từ
Ví dụ : happy / hæpi / ( từ có 2 âm tiết)
reclycle / re:’sai kəl/ ( từ có 3 âm tiết )
- Nếu y đứng đầu câu thì y sẽ được phiên âm thành /j/ và không coi là nguyên
âm
Ví dụ: year / jiər /
Quy tắc 4: Hai nguyên âm đứng cạnh nhau thì chỉ tính 2 nguyên âm đó là
1 âm tiết
Ví dụ : speak/ spi:k/ ( từ có 1 âm tiết)
Việc học sinh biết xác định đúng số lượng âm tiết trong từ là rất quan trọng
vì có xác định được số lượng âm tiết trong từ thì học sinh mới có thể xác định được trọng âm của từ rơi vào âm tiết nào, âm tiết thứ mấy trong từ Cho nên giáo viên yêu cầu học sinh nắm chắc cách xác định số âm tiết của từ một cách thuần thục
+ Trọng âm đóng trò quan trọng trong việc phân biệt được từ này với từ khác khi chúng ta nghe, nói Tiếng Anh Người bản ngữ phát âm hầu hết từ nào cũng có trọng âm Nếu học sinh đặt sai trọng âm hoặc không sử dụng trọng âm sẽ khiến người nghe khó hiểu được người nói nói gì, đặc biệt học sinh sẽ gặp khó khăn trong việc nghe hiểu
Ví dụ : desert : có hai cách nhấn trọng âm
Học sinh cần nắm được một số quy tắc cơ bản nhấn trọng âm của từ
*Trọng âm của từ có hai âm tiết
+ Với động từ, giới từ có 2 âm tiết thì trọng âm thường rơi vào âm thứ 2
Ví dụ: re’lax be’come a’mong be’hind
+ Danh từ, tính từ có 2 âm tiết thì trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất
Ví dụ: ’bottle ’children ’yellow ’lucky
+ Danh từ, tính từ chứa nguyên âm dài ở âm tiết thứ 2 thì trọng âm sẽ rơi chính
âm tiết đó
Ví dụ: Ja’pan po’lice
Trang 35*Trọng âm của từ có 3 âm tiết trở lên
+Danh từ có 3 hoặc nhiều hơn 3 âm tiết và âm thứ 2 có chứa âm /ə/ hoặc /i/ thì trọng âm rơi vào âm thứ nhất
- Nếu các tính từ có âm tiết đầu tiên chứa âm /ə/ hoặc /i/ thì trọng âm rơi
vào âm tiết thứ 2
Ví dụ : fa’miliar
- Nếu danh từ có âm tiết thứ nhất chứa các âm ngắn /ə/ hoặc /i/ hoặc âm tiết
thứ hai chứa nguyên âm dài hoặc nguyên âm đôi thì trọng âm rơi vào âm thứ 2
Ví dụ: com’puter po’tato dis’saster
*Trọng âm của từ có tiền tố hoặc hậu tố
+ Hầu hết các tiền tố không nhấn trọng âm
-ience,-Ví dụ: eco’nomic re’vision ’foolish
+ Trọng âm của từ không thay đổi khi thêm hậu tố ; able, en, er, or, ful, hood, -ing,- ous…
-Ví dụ: ag’ree - ag’reement ’happy - ’happiness
+ Các từ có hậu tố : -al, -ate, -cy, -graphy, -gy, -ity, -phy thì trọng âm rơi vào
âm thứ 3 từ dưới lên
Ví dụ: eco’nomical pho’tography
*Động từ ghép trọng âm rơi vào âm thứ hai
Ví dụ : under’stand over’flow
*Danh từ ghép, tính từ ghép trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất
Ví dụ: ’greenhouse ’doorman ’homesick
Trang 36Những quy tắc trên đều mang tính tương đối, vẫn có các trường hợp ngoại lệ Cho nên trong quá trình giảng dạy giáo viên nhắc nhở học sinh ghi nhớ
Để học sinh nhớ trọng âm của từ một cách dễ dàng, giáo viên có thể tổ
chức xen kẽ một số trò chơi đơn giản như :
+“Clap the board”giúp học sinh nhận diện được những từ có cùng vị trí
trọng âm với nhau
Giáo viên ghi lên bảng một loạt các từ có trọng âm rồi yêu cầu học sinh lên bảng
vỗ tay vào bảng những từ có trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất, các từ có trọng âm rơi vào âm tiết thứ 2, hoặc các từ có trọng âm rơi vào âm tiết thứ 3
+“Syllable volleyball” giúp học sinh nhận diện số âm tiết trong mỗi từ Hình thức tổ chức: Chia lớp thành 2 đội: Đội bóng đèn và đội bóng tuýp
Cách tiến hành: HS thứ nhất của đội bóng đèn là người giao bóng chỉ bất kỳ trên
sơ đồ và yêu cầu một bạn trong đội bóng tuýp nêu lên số âm tiết có trong từ đó Nếu bạn trong đội bóng tuýp trả lời đúng sẽ có 1 điểm và tiếp tục là người giao bóng, nếu bạn ở đội bóng tuýp trả lời sai sẽ phải ra ngoài và đội bóng đèn vẫn
được giao bóng Mỗi khi người chơi ghi được điểm thứ 9 cho đội mình thì sẽ ghi được 1 bàn thắng Trò chơi gồm 3 ván Đội nào thắng 2 ván sẽ là đội chiến thắng
+ Giáo viên có thể sử dụng phương pháp CHANTS để hướng dẫn học sinh
học và nhớ cách nhấn trọng âm trong từ
Giáo viên có thể tạo ra nhiều CHANTS khác nhau thể hiện các âm tiết mạnh giúp học sinh giữ được nhịp và nhấn mạnh vào trọng âm của từ một cách tự nhiên Đồng thời giáo viên hướng dẫn học sinh tự tạo ra các CHANTS kết hợp âm thanh, nhịp điệu, hình ảnh, múa và body language Những âm tiết có trọng âm học sinh
sẽ nhấn mạnh tạo ra âm điệu du dương, trầm bổng, vui nhộn làm cho tiết học trở nên lý thú, sôi động, lôi cuốn học sinh, giúp các em tự tin và năng động tham gia hoạt động của lớp Nội dung và hình thức của từng CHANTS được xây dựng tùy thuộc vào trình độ của học sinh và đặc điểm của các từ tạo nên trò chơi
Ví dụ : Chant : “ Which ’animals can fly ? ”
“ A fly can fly , a fly can fly, a ’ butterfly can fly, a ’butterfly can fly and
a bird can fly, too
A ’buffalo can’t fly, a ’monkey can’t fly and a ’tiger can’t fly, too
Một số học sinh đọc to, rõ, đồng thời vỗ tay hoặc đánh phách theo nhịp nhấn mạnh vào những âm tiết có trọng âm Số học sinh còn lại trong lớp làm điệu
bộ giống ruồi, con bướm, con chim, con bò, con khỉ, con hổ nhảy múa theo nhịp
điệu bản nhạc jazz Học sinh chú ý đến phát âm cùng trọng âm của các từ animals , butterfly, buffalo, monkey, tiger và trọng âm của câu Học sinh hứng thú tham
gia trò chơi trong nhạc điệu sôi động và giúp các em nhớ được các từ cùng trọng
Trang 37âm, phát âm, nghĩa của từ một cách dễ dàng Bằng cách tổ chức, tham gia các hoạt
động Chants như trên, học sinh tương tác với nhau, giáo viên- học sinh tương tác
với nhau Từ đó các em sẽ phát âm tốt, nâng cao kỹ năng nghe và cải thiện được
kỹ năng nói của mình
*Trọng âm câu
Trọng âm câu đóng vai trò quan trọng trong câu Ngoài việc trọng âm câu tạo ra giai điệu, tiếng nhạc ngôn ngữ để tạo nên sự thay đổi trong tốc độ người nói, trọng âm câu còn giúp truyền tải ý nghĩa của câu Đặt sai trọng âm của câu
có thể làm thay đổi hoàn toàn nghĩa hàm ý của câu đó
Trong một câu các từ thường được chia làm 2 loại:
+ Từ thuộc mặt nội dung( content words)như : động từ chính, danh từ,
Vì vậy để việc nghe đạt hiệu quả, học sinh cần nắm chắc trọng âm của từ
và trọng âm của câu Khi nghe từ có một hay nhiều âm tiết học sinh chỉ cần chú
ý đến trọng âm cuả từ đó và nghe những trọng âm của câu rồi phối hợp với các trọng âm đó mà đoán nghĩa của câu
Chẳng hạn khi nghe câu:
Lan went to the market to buy some chicken for me
Học sinh chỉ nghe được những từ trọng âm in đậm rồi đoán nghĩa của câu
đó
Để học sinh nắm được trọng âm của từng từ đúng thì trong từng giờ lên lớp khi gặp những từ mới có trọng âm giáo viên nên đọc to từ này lên, đề nghị học sinh lắng nghe rồi đọc theo giáo viên cho đúng và yêu cầu học sinh cho biết có mấy âm tiết và âm tiết nào được nhấn mạnh
Khi học sinh nghe cấu trúc ngữ pháp mới như:
- How far is it from your house to the market?
- Itis about 6 kilometers
Trang 38(Học sinh chỉ cần nghe những từ: Howfar/ your house/ market/ 6 kilometers có
thể hiểu đuợc nội dung cấu trúc vừa nghe.)
Giáo viên có thể lập một đoạn hội thoại với một học sinh khá-giỏi và yêu cầu học sinh chú ý phát hiện các trọng âm trong câu
Giáo viên kết hợp dạy và kiểm tra củng cố cách đọc đúng trọng âm của từ hoặc trọng âm câu xen kẽ trên từng giờ lên lớp; đặc biệt trong các tiết dạy ngữ
liệu mới như “Getting started”, “Acloser look 1”, “A closer look 2” giúp học
sinh nghe, nói, đọc từ hay câu đều đúng trọng âm Quan điểm của giáo viên là
“Học đến đâu, thực hành đến đó” sẽ giúp trình độ nghe của học sinh được nâng cao
2.2.2.5 Rèn luyện cho học sinh cách phát âm chuỗi lời nói trong Tiếng Anh
Trong khi nói Tiếng Anh, người nói thường phát âm một số từ chức năng
ở dạng yếu (weak forms), hiện tượng rút gọn từ, hiện tượng nuốt âm, hiện tượng
nối âm, hiện tượng đồng hóa âm giúp người nói phát âm nhanh hơn, trôi chảy hơn và tự nhiên hơn Những hiện tượng này gây ra nhiều khó khăn khi nghe; đặc biệt cho học sinh THCS.Vì thế giáo viên cần cung cấp cho học sinh những hiện tượng này để khi nghe học sinh không ngỡ ngàng
+ Cách phát âm từ ở dạng yếu (weak forms)
Từ ở dạng weak forms là những từ không được nhấn mạnh, chúng thường bị làm
yếu khi nói Đây là lý do trong thực tế nếu học sinh chưa nghe nhiều rất dễ không
nghe được người bản xứ nói gì Những từ mà được phát âm đầy đủ (strong forms)
khi người nói muốn nhấn mạnh từ đó hay tùy thuộc vào mục đích của người nói
Cần lưu ý: một từ đứng một mình có thể là ở dạng weak form hoặc strong form Nhiều từ khi ở dạng weak form phát âm khác khi ở dạng strong form
Ví dụ:
-I like the/ði/ apples
-That /ðæt/girl is Lan’s sister
-She does/dʌz/ win the first prize
-What is she looking at/æt/
-I am but /bʌt/a stupid girl
-I like the/ðə/ cat
-I think that/ðət/ we should stay
home
-Does/dəz/ Lan live in Hanoi?
-I will meet you at/ət/the cinema
-It is rainy but /bət/I go to school on
time
Trang 39+ Hiện tượng rút gọn
Ví dụ: -“gonna”là hình thức rút gọn của “going to”
-“wanna” là hình thức rút gọn của “want to”
( I wanna go there = I want to go there)
- Những trợ động từ would like, will, cũng thường được rút gọn trong câu nói.( would like viết tắt là ’d like; will viết tắt là: ’ll ,
+ Hiện tượng nối âm
-Nối âm cuối của từ đứng trước với âm đầu của từ đi liền sau từ đó
Ví dụ: Make up / mei:kʌp/
-Nối phụ âm với phụ âm: Khi có 2 hay nhiều hơn phụ âm đứng gần nhau, ta sẽ đọc một phụ âm nhưng kéo dài nó
Ví dụ: want to /’wɔnə/ ( thay cho /’wɔnt tə/ )
+ Hiện tượng nuốt âm: là hiện tượng xảy ra khi người nói lược bỏ đi một
số hoặc nhiều âm tiết trong từ hoặc cụm từ để giúp phát âm dễ dàng hơn
- Nuốt nguyên âm không có trọng âm hoặc nuốt nguyên âm đứng sau nguyên âm
có trọng âm
Ví dụ: camera /’kæmrə / ( thay cho /’kæmərə/ )
- Nuốt phụ âm: Khi các phụ âm liền nhau thì phụ âm được lược bớt đi để dễ đọc hơn
Phụ âm /t/, /d/ được lược bỏ khi liền trước hoặc liền sau nó là các phụ âm
Ví dụ: last month / læs:’mʌnθ/ (thay cho / læs:t ’mʌnθ/)
Nhiều phụ âm liền nhau để việc phát âm được dễ dàng hơn bằng cách nuốt đi một phụ âm trong số đó
Ví dụ : asked / a:st / ( thay cho /a:skt/)
+ Hiện tượng đồng hóa âm
Hiện tượng đồng hóa âm là quá trình xảy ra khi một âm bị biến thể thành âm tương tự như âm đứng sau nó và hiện tượng xảy ra giữa ranh giới của các từ, các
âm vị Giáo viên lưu ý học sinh 4 quy tắc sau:
• Quy tắc 1:
- Âm /t/ được phát âm thành /p/ nếu đứng trước âm môi /p/, /b/, /m/, /w/
Ví dụ: right place / raippleis/
might win/ maipwin/
-Âm /t/ được phát âm thành /k/ nếu đứng trước âm /k/, /g/
Ví dụ: might come/ maik kʌm/
Trang 40might give / maik giv/
• Quy tắc 2
-Âm /d/ đọc thành /b/ nếu đứng trước âm môi /p/, /b/, /m/, /w/
Ví dụ: hard work / ha:b wɝːk/
-Nếu cả hai âm /t/ và /d/ đứng trước âm /z/ thì sẽ đồng hóa âm thành /z/
Ví dụ: that zoo /ðæz zuː/
• Quy tắc 3: Âm /n/ đọc thành /m/ nếu trước âm môi /p/, /b/, /m/, /w/
Ví dụ: ten men / tem men/
• Quy tắc 4: Âm /s/ đọc thành /ʃ/ nếu đứng trước âm /ʃ/ và /j/
Ví dụ : this shop /ðɪʃʃɒp/
Với trình độ yêu cầu đối với học sinh lớp 6, giáo viên hướng dẫn làm quen với những hiện tượng trên bằng cách học những ví dụ cụ thể và những đặc trưng cho từng hiện tượng, tập phát âm những cụm từ đó hoặc viết ra nhật ký học tập
để ghi nhớ Phần dạy phát âm trên thường gặp ở phần Getting started hoặc A closerlook 1 và học sinh bắt gặp chúng trong các bài nghe hiểu và thực hành nói
trong từng đơn vị bài học Để từ đó học sinh không ngỡ ngàng, lúng túng khi bắt gặp những hiện tượng này khi nghe
2.2.2.6 Khắc phục thói quen nói ngọng, nói theo âm sắc địa phương, vùng miền
- Phát âm Tiếng Anh khó hay dễ phụ thuộc vào nhiều yếu tố Bởi lẽ chất giọng của từng người khác nhau Nếu học sinh nói ngọng, nói giọng địa phương hoặc nói quá chậm hoặc nói quá nhanh sẽ làm học sinh không thể phát âm Tiếng Anh chuẩn, không thể nhận nhanh được âm khi nghe và không theo kịp tốc độ của bài nghe Vì vậy giáo viên cần giúp học sinh khắc phục việc học sinh phát âm Tiếng Anh bị ảnh hưởng bởi tiếng địa phương như nói ngọng, nói nặng, nói quá chậm hoặc nói quá nhanh