1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sile bài giảng tư pháp quốc tế

86 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ dân sự • Điều 676 BLDS năm 2015 quy định quốc tịch của pháp nhân như sau: “Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi phá

Trang 1

Slide bài giảng Tư

pháp quốc tế 2022

1/27/22

1

Trang 2

Bồi thường ngoài hợp đồng

trong Tư pháp quốc tế

1/27/22

2

Trang 3

I Khái quát chung

luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Người nào có hành

vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. 1/27/22

3

Trang 4

1 Khái niệm

• Bồi thường thiệt hại trong Tư pháp quốc tế (hay còn gọi là bồi thường thiệt

hại có yếu tố nước ngoài) Yếu tố nước ngoài đã được BLDS năm 2015,

Điều 633 khoản 2 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan

hệ dân sự khi:

1 Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

2 Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng

việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại

nước ngoài;

3 Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng

đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”.

1/27/22

4

Trang 5

1 Khái niệm

• Quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước

ngoài là quan hệ trách nhiệm có một trong các yếu tố sau đây:

1 Các bên chủ tham gia trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

bao gồm bên gây hại và bên bị hại có quốc tịch khác nhau hoặc nơi cư

trú khác nhau (đối với cá nhân) hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau

(đối với pháp nhân) Ví dụ: Công dân Việt Nam lái ô tô gây thiệt hại cho

công dân Hungari về sức khoẻ và tài sản

2 Hành vi gây ra thiệt hại hoặc hậu quả thực tế của hành vi gây ra thiệt

hại xảy ra ở nước ngoài Ví dụ: hai công dân Việt Nam đi lao động hợp

tác tại Malaixia gây thiệt hai cho nhau về tài sản.

1/27/22

5

Trang 6

2 Đặc điểm

Tư pháp quốc tế Việt Nam đưa ra ba dấu hiệu cơ bản để xác định một

quan hệ dân sự là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:

1 Thứ nhất, quốc tịch của chủ thể trong quan hệ dân sự

2 Thứ hai, nơi xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ

dân sự

3 Thứ ba, đối tượng của quan hệ dân sự

1/27/22

6

Trang 7

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ dân sự

• Yếu tố nước ngoài đầu tiên phải kể đến đó là điểm khác biệt

về chủ thể (chủ thể không cùng quốc tịch, không cùng nơi

cư trú và cũng không có cùng trụ sở trong một quốc gia)

Chủ thể đó có thể là cá nhân, pháp nhân, nhà nước.

• Ví dụ:

• Theo Điều 4 Luật Thái Lan (Luật B.E.2508) quy định:

“Người nước ngoài là người không có quốc tịch Thái Lan”

• Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP của Chính

phủ quy định: “Người nước ngoài là người không có quốc

tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và

7

Trang 8

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ

dân sự

• Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại khác quốc

tịch thì quan hệ bồi thường này sẽ chịu điều chỉnh của Tư

pháp quốc tế.

• BLDS Việt Nam năm 2005 và năm 2015 đều quy định: “Nơi cư

trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh

sống” (Điều 25 BLDS năm 2005 và Điều 40 BLDS năm 2015)

Điều 12 Luật Cư trú năm 2011 quy định: “Nơi cư trú của công

dân là chỗ ở hợp pháp người đó thường xuyên sinh sống Nơi

cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú”

• Trường hợp không xác định được nơi thường trú thì xác định

8

Trang 9

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ

dân sự

• Đối với pháp nhân thì sự khác biệt thể hiện ở quốc tịch hay

nơi có trụ sở của pháp nhân Trên thế giới có nhiều quan điểm

khác nhau về căn cứ xác định quốc tịch của pháp nhân Ví dụ:

• Phần lớn các quốc gia Châu Âu xác định quốc tịch của pháp

nhân theo nơi đặt trung tâm quản lý của pháp nhân như Pháp,

Italia, Thụy Sĩ

• Các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ (hay còn gọi là hệ thống

luật chung - Common Law) và một số nước Châu Mỹ la tinh xác

định quốc tịch của pháp nhân theo nơi đăng ký điều lệ

• Các nước ở khu vực Ả Rập như Ai Cập, Xyri…lại xác định quốc

9

Trang 10

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ

dân sự

• Điều 676 BLDS năm 2015 quy định quốc tịch của pháp

nhân như sau: “Quốc tịch của pháp nhân được xác định

theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập”.  Pháp

nhân thành lập ở đâu thì pháp luật nước đó sẽ là căn cứ

phát sinh để xác định quốc tịch của pháp nhân Bên cạnh

đó, Điều 80 BLDS năm 2015 quy định: “Pháp nhân được

thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam”.

• Ví dụ: Viettel là một doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn

thông, thành lập ở Việt Nam nên Viettel mang quốc tịch

nước nào sẽ do pháp luật Việt Nam quy định Như vậy,

Viettel thành lập ở Việt Nam sẽ là pháp nhân Việt Nam, nói

cách khác Viettel có quốc tịch Việt Nam. 1/27/22

10

Trang 11

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ

dân sự

• Bên cạnh sự khác biệt về quốc tịch, trường hợp các bên đều là pháp

nhân thì pháp nhân phải có trụ sở ở các nước khác nhau.

Khoản 1 Điều 79 BLDS năm 2015 của Việt Nam quy định: “Trụ sở của

pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân”. Điều này

tương đồng với đa phần các nước Châu Âu.

• Kết luận, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

trong Tư pháp quốc tế, nếu các bên chủ thể là cá nhân thì phải có

quốc tịch khác nhau hoặc cư trú ở các quốc gia khác nhau; đối với

pháp nhân thì phải có trụ sở hay quốc tịch khác nhau Trường hợp

các bên chủ thể có cùng quốc tịch, cùng nơi cư trú hay trụ sở, hành

vi trái pháp luật lại được thực hiện trong nước thì không chịu sự điều

chỉnh của Tư pháp quốc tế mà sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật

dân sự của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ.

1/27/22

11

Trang 12

2.1 Quốc tịch của chủ thể trong quan hệ

dân sự

• Trong Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Nhà nước được xác

định một cách chung là “tổ chức quyền lực công cộng của toàn

xã hội , vì thế Nhà nước có vị thế đứng trên xã hội, đứng trên

giai cấp” Do đó, về nguyên tắc, Nhà nước có quyền miễn trừ

Tư pháp, bất khả xâm phạm, điều này khiến cho Nhà nước

không thỏa mãn điều kiện trở thành pháp nhân (điều kiện tự

chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình).

• Tuy nhiên, BLDS 2015 quy định rõ Nhà nước Việt Nam trong các

quan hệ dân sự với Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài

sẽ không còn quyền miễn trừ Tư pháp trong một số trường hợp

Khi không còn quyền miễn trừ Tư pháp, Nhà nước tham gia vào

quan hệ dân sự với tư cách pháp nhân và hoàn toàn bình đẳng

với các cá nhân, pháp nhân khác.

1/27/22

12

Trang 13

2.2 Nơi xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ diễn ra

tại nước ngoài.

• Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một quan hệ dân sự cũng

được coi là có yếu tố nước ngoài nếu việc xác lập, thay đổi, thực

hiện hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài.

• BLDS năm 2005 quy định một trong các đặc điểm của quan hệ

dân sự có yếu tố nước ngoài là “căn cứ để xác lập, thay đổi,

chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài” Cụm từ “căn

cứ” và “theo pháp luật nước ngoài” khiến cho điều khoản này trở

nên khó hiểu đó là rất khó để có thể xác định được đâu là căn cứ

cho việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ theo pháp

luật nước ngoài.

• Bên cạnh đó, việc phải xác định yếu tố nước ngoài “theo pháp

luật nước ngoài” vô hình chung đã làm đảo lộn trật tự giải quyết

tranh chấp dân sự của Tư pháp quốc tế

1/27/22

13

Trang 14

2.2 Nơi xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ diễn ra

tại nước ngoài.

• Để giải quyết vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài,

một Tòa án bất kỳ của Việt Nam cần phải xác định:

• Một là, vụ việc này có phải vụ việc quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng)

có yếu tố nước ngoài hay không.

• Hai là, phải xác định xem mình có thẩm quyền xét xử hay không.

• Khi và chỉ khi giải quyết được hai vấn đề trên thì Tòa án mới xem xét

tới vấn đề pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài được áp dụng

để xác định các vấn đề liên quan đến vụ việc (trong đó có các vấn đề

về căn cứ xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ).

• BLDS năm 2015 lược bỏ “căn cứ” và “theo pháp luật nước ngoài”

điều đó giúp Tòa án chỉ cần xem xét việc xác lập, thực hiện, thay đổi

hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài hay Việt Nam 1/27/22

14

Trang 15

2.3 Đối tượng của quan hệ dân sự

• Về đặc điểm đối tượng, BLDS năm 2005 quy định “tài

sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”, trong khi đó

BLDS năm 2015 lại quy định “các bên tham gia đều là công

dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của

quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”.

• Sự thay đổi này là rất dễ hiểu, bởi lẽ, lý luận và thực tiễn

đều cho thấy đối tượng của quan hệ dân sự không chỉ là tài

sản cụ thể mà còn có thể là những lợi ích khác, chẳng hạn

như việc thực hiện hành vi nhất định (vận chuyển người,

đưa đi du lịch…) Do vậy, quy định trường hợp có yếu tố

nước ngoài chỉ dựa vào đối tượng của quan hệ là tài sản thì

15

Trang 16

3.1 Giải quyết xung đột về bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam

• Thông qua các quy định của pháp luật quốc gia cũng như các Điều ước

quốc tế mà Việt Nam là thành viên, chúng ta đều thấy rằng, nguyên tắc

được áp dụng chủ yếu để giải quyết xung đột pháp luật về bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng là “Các bên được thỏa thuận lựa chọn luật áp

dụng”

• Điều 687 BLDS năm 2015 quy định: 

• “1 Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường quy định tại khoản 2 Điều

này Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát

sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng;

• 2 Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối

với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước

thì pháp luật của nước đó được áp dụng.” 1/27/22

16

Trang 17

3.1 Giải quyết xung đột về bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam

•Theo BLDS 2005, các bên không được phép tự do chọn luật áp dụng Tuy nhiên, BLDS 2015 đã

cho phép các bên thoả thuận lựa chọn pháp luật áp dụng (khoản 1 điều 687).

Thay đổi này khẳng định quan điểm trao sự chủ động cho các đương sự, tôn trọng sự tự định

đoạt của các đương sự ngay cả trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng.

Việc thực thi pháp luật dễ dàng hơn do các bên đương sự nắm được pháp luật mà mình lựa

chọn.

•Tuy nhiên, trong trường hợp các bên đã không thỏa thuận hoặc không thể thỏa thuận được, quy

phạm ở Điều 687 đã dự liệu sẵn một hệ thuộc luật để điều chỉnh quan hệ này đó là hệ thuộc luật

của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại

BLDS 2005, cho phép cơ quan có thẩm quyền lựa chọn cân nhắc áp dụng giữa hai hệ thống

pháp luật là hệ thống pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại và hệ thống pháp luật

nơi xảy ra hậu quả của hành vi gây thiệt hại.

BLDS năm 2015 không còn sự lựa chọn như vậy nữa, cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng một

hệ thuộc luật đó là luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại

1/27/22

17

Trang 18

3.1 Giải quyết xung đột về bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam

 Sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp và tích cực, bởi nếu để

cả hai hệ thuộc luật và cho phép các cơ quan giải quyết tranh

chấp được tùy tình huống mà áp dụng hệ thống pháp luật có thể

được xem là có lợi hơn cho một bên

 Hơn nữa, đây là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, là

quan hệ mà khi phát sinh đã hàm chứa yếu tố bất đồng, mâu

thuẫn Nếu để cho cơ quan giải quyết tranh chấp tự do lựa chọn

luật, ngay cả khi lựa chọn đó là hoàn toàn công tâm và minh bạch

thì cũng dễ gây thắc mắc, khiếu kiện vì nghi ngờ sự vô tư trong

việc chọn luật áp dụng của các cơ quan giải quyết tranh chấp.

1/27/22

18

Trang 19

3.1 Giải quyết xung đột về bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam

 Quy định tại khoản 2 Điều 687 cũng khác so với quy định của khoản 3 Điều 773 BLDS năm

2005, bởi Điều 773 BLDS chỉ đề cập đến tình huống bên gây thiệt hại và bên bên bị thiệt hại là công dân, pháp nhân Việt Nam, thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam Vậy nếu bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại cùng là công dân, pháp nhân nước ngoài thì lại không có quy định tương ứng cùng nguyên tắc áp dụng luật

 Như vậy, quy định của Điều 677 có tính bao quát và thống nhất hơn cho cả trường hợp các bên cùng là Việt Nam hoặc cùng là nước ngoài Thêm nữa, hệ thuộc luật tại khoản 2 Điều

687 cũng được thay đổi so với khoản 3 Điều 773, cụ thể đổi từ hệ thuộc Luật Quốc tịch

thành hệ thuộc luật nơi cư trú Vì thông thường yếu tố cư trú sẽ chi phối và ảnh hưởng

nhiều hơn yếu tố quốc tịch trong các quan hệ bồi thường thiệt hại, đó là lý do pháp luật

các nước thường chọn luật nơi xảy ra hành vi hoặc luật xảy ra hậu quả để điều chỉnh quan

hệ này mà không căn cứ vào quốc tịch

 Hệ thuộc luật nơi cư trú còn tránh được tình trạng khó khăn trong áp dụng pháp luật khi các bên trong quan hệ là các chủ thể khác quốc tịch. 1/27/22

19

Trang 20

3.2 Giải quyết xung đột theo quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt

Nam là thành viên

• Các quy định của các Điều ước quốc tế chủ yếu được kể đến là các

quy định quy phạm xung đột pháp luật được quy định trong các

Hiệp định tương trợ Tư pháp về dân sự mà Việt Nam tham gia ký kết

với các quốc gia khác:

 Trong trường hợp các bên chủ thể (người bị hại và người gây ra thiệt hại) cùng

quốc tịch Các Hiệp định tương trợ Tư pháp ghi nhận việc áp dụng Luật Quốc

tịch của mỗi bên đương sự để giải quyết Ví dụ: tại khoản 1 Điều 37 Hiệp định

tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Liên Bang Nga quy định “Nếu nguyên đơn

và bị đơn đều là công dân của một bên ký kết hoặc đều được thành lập hoặc

có trụ sở ở một bên ký kết thì áp dụng Luật của bên ký kết đó”

 Tại khoản 2 Điều 41 Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Mông Cổ

quy định “Nếu người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân của

một bên ký kết thì áp dụng Luật của bên ký kết đó” 1/27/22

20

Trang 21

3.2 Giải quyết xung đột theo quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt

Nam là thành viên

• Trong trường hợp các bên chủ thể (người bị hại và người gây ra thiệt hại

khác quốc tịch) thì các Hiệp định tương trợ Tư pháp ghi nhận việc áp

dụng hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật để giải quyết

tranh chấp

 Ví dụ: cũng tại khoản 1 Điều 37 Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Liên

Bang Nga quy định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do hành vi vi

phạm pháp luật) được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi xảy ra hoàn cảnh

làm căn cứ để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại”

 Tại khoản 1 Điều 23 Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Cộng hòa Dân

chủ nhân dân Lào cũng quy định “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được

xác định theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của

nước ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại thuộc thẩm quyền của cơ

quan Tư pháp của nước ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại đó”

Ngoài ra, hiện nay Việt Nam đã ký kết Hiệp định tương trợ Tư pháp với khoảng 15

nước Ví dụ: Tiệp Khắc, Hungari, Trung Quốc, Cuba, Pháp

1/27/22

21

Trang 22

3.2 Giải quyết xung đột theo quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt

Nam là thành viên

• Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài việc được quy định trong điều ước quốc tế song phương còn được ghi nhận trong điều ước quốc tế đa phương Một số điều ước quốc tế đáng chú ý đã được xây dựng như:

 Công ước Lahaye ngày 2/10/1973 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản

phẩm gây ra Công ước quy định rõ cơ chế bồi thường thiệt hại nếu sản phẩm,

hàng hóa gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì trách nhiệm thuộc về nhà sản xuất Tuy nhiên, công ước cũng đưa ra nhiều nguyên tắc chọn luật phức tạp, những

nguyên tắc này chỉ được áp dụng với những điều kiện nhất định:

 Luật nơi thường trú của nạn nhân nếu đây cũng là nơi có cơ sở chính của nhà sản xuất hoặc là nơi mua sản phẩm (điều 5).

 Luật nơi xảy ra thiệt hại nếu đây cũng đồng thời là nơi có trụ sở chính của nhà sản xuất hoặc là nơi mua sản phẩm (điều 4).

 Nguyên đơn có quyền lựa chọn luật áp dụng là luật xảy ra thiệt hại hoặc nơi có cơ sở chính của nhà sản xuất (điều 6).

1/27/22

22

Trang 23

3.2 Giải quyết xung đột theo quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành

viên

Việc áp dụng luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại để giải quyết các vấn đề liên quan

đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những ý nghĩa nhất định:

Một là, nguyên tắc lex loci delicti Commissi thể hiện tính khách quan, trong trường hợp

bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại không cùng quốc tịch hoặc nơi cư trú thì áp dụng

nguyên tắc này là phù hợp.

Hai là, việc xác định nơi xảy ra thiệt hại thuận lợi dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho

việc giải quyết của Toà án Toà án có thể dễ dàng hơn trong việc điều tra, thu thập chứng

cứ, xác minh về thiệt hại…đồng thời cũng đảm bảo được lợi ích của bên bị thiệt hại.

Ba là, nhìn chung thì nơi xảy ra thiệt hại là nơi có mối quan hệ gần gũi nhất đối với loại

tranh chấp trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xét về tính chất loại vụ việc thì áp dụng luật nơi xảy ra thiệt hại là quy phạm thể hiện đúng bản chất của quan

23

Trang 24

24

Trang 25

QUAN HỆ SỞ HỮU TRONG

TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1/27/22

25

Trang 26

ĐỊNH NGHĨA QUYỀN SỞ HỮU

a) Điều 158 –BLDS 2015: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt

tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.

b) Điều 179 – BLDS 2015: Quyền chiếm hữu là quyền  được nắm giữ, quản lý cũng như chi phối đối với

một hay nhiều tài sản của một hoặc nhiều chủ thể

c) Điều 189 – BLDS 2015: quyền sử dụng là việc khai thác cũng như việc hưởng lợi ích từ khối tài sản

khai thác được Ví dụ: việc cho người khác thuê nhà của mình để hưởng lợi tức.

d) Điều 192 – BLDS 2015: quyền định đoạt tài sản là việc chủ sở hữu tài sản thực hiện việc chuyển giao

quyền sở hữu tài sản cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó của mình

1/27/22

26

Trang 27

I KHÁI QUÁT CHUNG

1 Khái niệm quan hệ sở hữu

• Quyền sở hữu là chế định trung tâm trong pháp

luật dân sự của bất kỳ quốc gia nào.

• Pháp luật các nước quy định về quyền sở hữu

khác nhau, điều này xuất phát từ nhiều nguyên

nhân: trình độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa,

phong tục tập quán,…Vì vậy, các quan hệ sở hữu

có yếu tố nước ngoài thường phát sinh xung đột

pháp luật.

1/27/22

27

Trang 28

2 Quan hệ sở hữu do Tư pháp quốc

tế điều chỉnh

a) Chủ sở hữu tài sản là người nước ngoài

hoặc đang cư trú ở nước ngoài

b) Tài sản trong quan hệ sở hữu đó đang

hiện diện ở nước ngoài;

c) Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi

hoặc chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra ở

nước ngoài

1/27/22

28

Trang 29

3 Nội dung điều chỉnh của Tư

pháp quốc tế đối với quan hệ sở

hữu

a) Giải quyết xung đột pháp luật về quyền

sở hữu;

b) Giải quyết xung đột về thẩm quyền giải

quyết tranh chấp liên quan đến quyền

sở hữu;

c) Vấn đề quốc hữu hóa tài sản thuộc

quyền sở hữu của người nước ngoài

1/27/22

29

Trang 30

II GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT

TRONG MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

ĐẾN QUAN HỆ SỞ HỮU

1 Tư pháp quốc tế các nước

1.1 Nguyên tắc chung

Pháp luật của đa số các nước trên thế

giới đều thống nhất áp dụng một nguyên

tắc chung nhằm giải quyết xung đột pháp

luật về quyền sở hữu là: áp dụng luật của

nước nơi có tài sản (Lex rei sitae hoặc

Lex situs objectus - Luật nơi có đối tượng

của quyền sở hữu)

1/27/22

30

Trang 31

1.2 Giải quyết xung đột pháp luật về phạm vi,

nội dung, điều kiện phát sinh, chấm dứt và

chuyển dịch quyền sở hữu

a) Nguyên tắc chung được thừa nhận là quyền

sở hữu đối với tài sản phát sinh theo pháp luật

của nước nơi có tài sản đó và khi tài sản đó di

chuyển sang quốc gia khác thì quyền sở hữu

đó vẫn tiếp tục được quốc gia nơi tài sản di

chuyển đến thừa nhận và bảo hộ.

b) Để giải quyết xung đột pháp luật về phạm vi,

nội dung, điều kiện phát sinh, chấm dứt và

chuyển dịch quyền sở hữu đối với tài sản

phần lớn các nước đều áp dụng nguyên tắc

Luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) 1/27/22

31

Trang 32

1.3 Bảo hộ quyền của người thủ đắc

trung thực

• - Để bảo hộ quyền lợi của người thủ đắc

trung thực (người chiếm hữu không có

căn cứ pháp luật nhưng ngay tình) trước

yêu cầu đòi lại tài sản từ phía chủ sở

hữu pháp luật các nước thường áp dụng

nguyên tắc Luật của nước hiện đang có

tài sản hoặc Luật của nước nơi có tài

sản vào thời điểm thủ đắc

1/27/22

32

Trang 33

1.4 Giải quyết xung đột pháp luật về

định danh tài sản

• Để phân biệt tài sản là động sản hay bất

động sản các nước đều áp dụng Luật nơi

có tài sản Tuy nhiên, thực tiễn xét xử

của Pháp đã áp dụng Luật tòa án (Lex

fori) để định danh tài sản

1/27/22

33

Trang 34

1.5 Các trường hợp ngoại lệ không áp dụng

Luật nơi có tài sản

a) Quan hệ về tài sản liên quan đến các tài sản

của quốc gia đang ở nước ngoài;

b) Lĩnh vực hàng không, hàng hải: pháp luật

các nước thường quy định áp dụng pháp

luật của nước mà tàu biển mang cờ quốc

tịch hoặc pháp luật của nước nơi đăng ký

quốc tịch tàu bay;

c) Quan hệ sở hữu đối với đối tượng của sở

hữu trí tuệ: pháp luật các nước thường quy

định áp dụng pháp luật của nước nơi đối

tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ;

1/27/22

34

Trang 35

• - Quan hệ về tài sản của pháp nhân

nước ngoài khi pháp nhân đó bị giải thể:

pháp luật các nước thường quy định áp

dụng pháp luật của nước mà pháp nhân

mang quốc tịch;

• - Quan hệ tài sản liên quan đến các đối

tượng của các đạo luật về quốc hữu

Trang 36

1.6 Giải quyết xung đột pháp luật đối

với tài sản đang trên đường vận

chuyển, tài sản quá cảnh qua nhiều

quốc gia

• Thuật ngữ quá cảnh (transit) được hiểu

là việc vận chuyển tài sản hoặc hành

khách đi qua lãnh thổ của một hay nhiều

nước nào đó để đến nước thứ ba hoặc ít

nhất phải đi qua vùng biển quốc tế Như

vậy, việc vận chuyển hàng hóa từ lãnh

thổ quốc gia này sang lãnh thổ quốc gia

khác có cùng đường biên giới quốc gia

không được coi là quá cảnh 1/27/22

36

Trang 37

• Pháp luật nước nơi gửi tài sản đi (Legi loci

expeditionis);

• Pháp luật nước nơi nhận tài sản (Legi loci

destinationis);

• Pháp luật nước mà phương tiện vận tải mang

quốc tịch (nếu vận chuyển bằng đường biển

hoặc đường không);

• Pháp luật của nước nơi có trụ sở của Tòa án có

thẩm quyền giải quyết tranh chấp (Legi fori);

• Pháp luật của nước nơi hiện đang có tài sản

(Legi rei sitae);

• Pháp luật của nước do các bên lựa chọn (Legi

voluntatis).

1/27/22

37

Trang 38

1.7 Giải quyết xung đột pháp luật về thời

điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro

• Nguyên tắc của Luật La Mã, theo đó, thời điểm

chuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua

được tính từ khi ký kết hợp đồng mà không phụ

thuộc vào thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu

từ người bán sang người mua (periculum est

emptoris).

Nguyên tắc “res perit domino” (rủi ro do chủ sở

hữu gánh chịu) Theo nguyên tắc này, thời điểm

chuyển dịch rủi ro trùng với thời điểm chuyển

dịch quyền sở hữu Tuy nhiên, thời điểm chuyển

dịch quyền sở hữu lại được quy định khác

38

Trang 39

2 Theo Tư pháp quốc tế Việt Nam

2.1 Nguyên tắc chung Theo pháp luật

Việt Nam, việc giải quyết xung đột pháp

luật về phạm vi, nội dung, điều kiện phát

sinh, chấm dứt và chuyển dịch quyền sở

hữu đối với tài sản Việt Nam cũng áp

dụng nguyên tắc Luật nơi có tài sản (Lex

rei sitae)

1/27/22

39

Trang 40

Khoản 1 Điều 678 Bộ Luật dân sự năm

2015 thì: “Việc xác lập, thực hiện, thay

đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội

dung quyền sở hữu đối với tài sản được

xác định theo pháp luật của nước nơi có

tài sản đó …”.

1/27/22

40

Ngày đăng: 27/01/2022, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w