Chương trình, sách giáo khoa hiện hành còn nhiều bất cập cần đổi mới Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất
Trang 1Báo Anh mời độc giả giải bài toán lớp 3 của Việt Nam
Thứ sáu, 2015-05-22 - Nguồn: VnExpress.net
Trong bảng xếp hạng của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA), Việt Nam có thứ hạng tốt Việt Namđứng thứ 17 về môn toán, thứ 8 về môn khoa học, vượt cả nhiều nước châu Âu như Anh (lần lượt xếp thứ 26 và20) và Mỹ (36 và 28) PISA nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả, chất lượng của hệ thống giáo dụccủa mỗi nước tham gia và được thực hiện theo chu kỳ ba năm một lần (bắt đầu từ năm 2000) Đối tượng đánh giá
là học sinh trong độ tuổi 15
Clip Chuyện đương thời "Giáo dục tư duy độc lập" phát sóng ngày 18/7/2014
Khách mời - Bộ trưởng Phạm Vũ Luận: "Giáo dục truyền thụ kiến thức bắt học sinh phải học nhiều, nhớ nhiều"
Khách mời - GS.Nhà giáo Nhân dân Nguyễn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách chuẩn cho một ngành học Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách
Việc xuất bản sách giáo thường dành cho các nhà xuất bản chuyên ngành Biên soạn một sách giáo khoa có giá trị là cả một kỳ công Ngày nay, bên cạnh dạng sách in, nhiều sách giáo khoa có thể được tham khảo trực tuyến
Trang 2Sách giáo khoa phổ thông [ sửa | sửa mã nguồn ]
Ở cấp phổ thông, sách giáo khoa là sự thể hiện những nội dung cụ thể của chương trình phổ thông Trên thế giới, có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau được biên soạn cho cùng một môn học Tại Việt Nam, hiện tại chỉ tồn tại một bộ sách giáo khoa duy nhất cho một môn học
Kiến thức trong sách giáo khoa là một hệ thống kiến thức khoa học, chính xác, theo một trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập Ngoàiphần kiến thức, sách giáo khoa còn có một phần về rèn luyện các kỹ năng và các phương pháp giảng dạy môn học
Ngoài ra kiến thức ở sách phổ thông sẽ khác nhau khi học ở dạng phân ban nâng cao A B C D và phânban cơ bản
Thuộc chuyên đề: Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, có gì mới?
(VTC News) – Các chuyên gia giáo dục , đại diện Bộ GD-ĐT đã đưa ra nhiều lý giải để thấy được
sự cần thiết phải đổi mới chương trình, sách giáo khoa.
» Chương trình, sách giáo khoa mới có lịch sử, văn hóa địa phương
» Bị phản ứng dữ dội, TP.HCM ngưng thí điểm SGK điện tử
» 'Từ 34 nghìn tỷ mà giờ còn hơn 400 tỷ thì tôi cũng sợ'
Trang 3Chương trình, sách giáo khoa hiện hành còn nhiều bất cập cần đổi mới
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước; trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và khoa họcgiáo dục; trước những đòi hỏi hội nhập quốc tế, chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã bộc lộ
“Bất cập nhất là chưa đáp ứng yêu cầu mới về phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; chưachú trọng yêu cầu về vận dụng kiến thức, rèn luyện tư duy độc lập, khả năng phản biện, thói quen tựhọc, các kỹ năng thực hành, kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm, năng lực ngoại ngữ và tin học của học
Bên cạnh đó, chương trình và sách giáo khoa hiện hành mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa
Trang 4chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Chương trình hiện hành còn nặng về lý thuyếtnhẹ về thực hành, nặng về dạy chữ nhẹ về dạy người, hướng nghiệp
“Trong thiết kế chương trình, chưa xây dựng thành hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giaiđoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp; nội dung giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu về tính thiếtthực, tinh giản, hiện đại; việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục còn phiến diện, lạc hậu, chưahướng tới mục tiêu phát triển hài hoà phẩm chất, năng lực của học sinh”, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận
Kinh nghiệm chung của các nước là biên soạn nhiều sách giáo khoa và đa dạng hoá tài liệu dạy họctrên cơ sở một chương trình giáo dục phổ thông; Bộ GD-ĐT tổ chức thẩm định và phê duyệt sách giáokhoa
Ở phần lớn các nước tiên tiến, sách giáo khoa chủ yếu do các nhà xuất bản biên soạn và phát hành
Đồng tình với quan điểm cần đổi mới chương trình, sách giáo khoa, PGS-TS Trần Thị Tâm Đan,nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên, Nhi đồng của Quốc hội chorằng chương trình giáo dục phổ thông mới cần phải tiếp cận được trình độ giáo dục của khu vực vàquốc tế
PGS-TS Trần Thị Tâm Đan
“Chương trình và sách giáo khoa mới phải đảm bảo tính hiện đại, hội nhập và tạo được sự chuyển biếncăn bản về chất lượng giáo dục”, PGS Tâm Đan nhấn mạnh
PGS Tâm Đan lưu ý việc đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục cũng cần được đưa ra
Bên cạnh đó, PGS-TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT cho rằng việc đổi mới lần nàycần phải tính tới yếu tố ổn định, hoàn thiện để có thể sử dụng được lâu dài Bên cạnh đó, các nhà
Trang 5trường cần tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên.
“Trước đây giáo viên giảng bài theo phương pháp thuyết trình, hiện nay cần thay đổi theo cách họcsinh tự chủ, tự khám phá kiến thức Thầy giáo chỉ là người tổng hợp, điều chỉnh kiến thức theo đúng
Ngoài ra, trong quá trình chờ thay đổi và áp dụng sách giáo khoa mới, cần bổ sung cập nhật nhữngkiến thức mới phù hợp với thực tế, yêu cầu của thời đại
Chương trình, sách giáo khoa mới sẽ có lịch sử, địa lý, văn hóa địa phương
Cũng có cùng ý kiến này, TS Lê Viết Khuyến, nguyên Vụ phó Vụ giáo dục Đại học cho rằng kinhnghiệm nhiều nước trên thế giới, nhà nước chỉ quản lý chuẩn chương trình Các địa phương phải thỏamãn chương trình đó, thậm chí có thể đặt ra yêu cầu cao hơn, phù hợp với thực tế của địa phương
Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên, Nhi đồng của Quốchội cho đồng tình cho rằng cần thiết ban hành Nghị quyết về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo
Tuy nhiên, ông Thi cho rằng cần nhấn mạnh việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về đổi mớichương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện
Trang 6giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa.
GS Đào Trọng Thi
Bên cạnh đó, Nghị quyết mới của Quốc hội nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Giáo dục hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tiễn tại các cơ sở giáo dục của nhiều địa phương, Ủy ban nhận thấy chương trình giáo dục hiện hành nhìn chung vượt quá khả năng đáp ứng về đội ngũ giáo viên và cơ sởvật chất kỹ thuật của nhà trường cũng như khả năng tiếp thu của học sinh
Mặt khác việc thực hiện cứng nhắc một chương trình chung không phù hợp đối với học sinh các địa phương, cơ sở giáo dục với đặc thù và điều kiệnkinh tế - xã hội rất khác nhau, hạn chế chất lượng, hiệu quả học tập
Vì vậy, Ủy ban đề nghị ban hành một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất nhưng khả thi, mềm dẻo, linh hoạt, nói chung phải phù hợp với điều kiện bảo đảm thực tế của nhà trường, nhất là về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như với khả năng tiếp thu của học sinh
Chương trình phải gồm những nội dung cốt lõi, bắt buộc áp dụng trên quy mô toàn quốc và những nội dung bổ sung mang tính đặc thù về lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội của địa phương
Đồng thời dành thời lượng để cơ sở giáo dục vận dụng xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch giáodục phù hợp với điều kiện của nhà trường
Việc dạy học phân hóa đã được thực hiện theo hình thức phân ban trung học phổ thông, thực chất là học tự chọn theo nhóm các môn học nâng cao về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hoặc theo khối thi đại học Thực tiễn cho thấy hình thức phân ban đã không thành công
“Vì vậy Ủy ban nhất trí với định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa lần này sẽ phải thực hiện tích hợp mạnh theo lĩnh vực, liên môn ở các cấp học dưới và phân hóa sâu ở cấp trung học phổ thông theo hướng tăng cường các môn học, chuyên đề tự chọn và áp dụng phương thức tích lũy tín chỉ”, GS Đào Trọng Thi nói
Trang 7Một sản phẩm của tư duy giáo dục lạc hậu
Giáp Văn Dương
Dư luận đang sửng sốt với Đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục và Đào tạo Sửng sốt không phải chỉ vì số tiền dự toán quá lớn: 70 nghìn
tỷ đồng, mà còn vì chất lượng đề án quá thấp, thể hiện tư duy giáo dục lạc hậu.
Đọc bản đề án 32 trang mang tên “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm2015” của Bộ GD&ĐT, bất cứ người quan tâm đến giáo dục nào cũng không khỏi ngỡ ngàng về sự sơ sài của nó Nếu không tính đến trang bìa, phần mục lục và sơ đồ phụ lục đính kèm thì bản đề án này chỉ có vẻn vẹn 29 trang đánh máy khổ A4 Tuy nhiên, phạm vi tác động của nó lại vô cùng lớn Nó tác động trực tiếp đến gần 20 triệu học sinh và giáo viên trên toàn quốc Số kinh phí dự trù để triển khai đề án cũng lên đến mức kỷ lục: 70 nghìn tỷ đồng!
Bao biện
Một trong những nội dung quan trọng của đề án là phần II: “Đánh giá việc xây dựng và triển khai chương trình sách giáo khoa hiện hành” Phần này chia thành 6 tiểu mục, chiếm dung lượng khoảng 7 trang khổ A4 Tất cả các đánh giá trong mỗi tiểu mục này đều tuân theo mô-típ “ưu điểm & hạn chế” tối giản - tức là theo kiểu khen một tí, chê một tí - mà không dựa trên bất kỳ một cứ liệu khoa học nào Với các đánh giá mang tính khoa học, bên cạnh phần thuyết minh thì con số, bảng biểu, hình vẽ… đóng vai trò linh hồn của đánh giá Nhưng rất tiếc, những linh hồn này đã không hề xuất hiện Cho nên, phần đánh giá này thực chất chỉ là phần bao biện vòng vo của các tác giả đề án
Để có hình dung cụ thể, xin nêu ví dụ sau: Trong phần đánh giá về chương trình và sách giáo khoa hiện hành, đề án cho rằng: “Xét về tổng thể, quá trình xây dựng chương trình được qui định khá đầy đủ, rõ ràng
và hợp lý”, nhưng “ các quan điểm định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi chương trình tiểu học” và “còn thiếu một số công trình nghiên cứu cần thiết cho việc phát triển chương trình phổ thông” Như vậy, quá trình xây dựng chương trình đã được tiến hành khi chưa có quan điểm định hướng đổi mới, chưa có đủ cơ sở khoa học - tức là làm mà không biết đang làm gì, và tại sao lại làm như vậy
Chính kiểu đánh giá khen một tí, chê một tí như thế này đã thể hiện sự không nghiêm túc của các tác giả đề
án, thực chất chỉ là một sự bao biện hoa mỹ có thể viện dẫn bất cứ khi nào bản đề án cần đến Vì thế sẽ không ngạc nhiên khi những bao biện ở phần II này đã phát triển trở thành các lập luận tự mâu thuẫn trong những phần còn lại của nội dung đề án
Sáo rỗng
Nếu xem xét bốn nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì thấy chúng hết sức chung chung, dùng đâu cũng được, cho bất kỳ đề án nào cũng được: quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật; đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm quốc
tế, đảm bảo tính thống nhất toàn quốc và linh hoạt vùng miền, khả thi, phù hợp với đối tượng học sinh; đảm bảo tính đồng bộ về nội dung, phuơng pháp dạy học phương thức đánh giá kết quả học tập Xin hỏi, có đề
án nào lại không quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật, có đổi mới nào lại
Trang 8không mang tính kế thừa, có đề án nào khi đang xin xét duyệt lại tự nhận là không khả thi, và đề án giáo dụcthì đương nhiên phải phù hợp với học sinh Cho nên, tất cả những thứ liệt kê trong bốn nguyên tắc này thựcchất đều là những sáo ngữ vạn năng, dùng đâu cũng được, dùng đâu cũng đúng, không hy vọng mang lại bất kỳ ý nghĩa gì mới cho đề án.
Tương tự như các nguyên tắc đổi mới nêu trên, các định hướng đổi mới, như: điều chỉnh hài hòa, cân đối giữa “dạy chữ”, “dạy người” và từng bước “dạy nghề”; nội dung giáo dục mang tính cơ bản, hiện đại, thực tiễn giúp hình thành phát triển năng lực học tập – cũng không hề mới So sánh với chương trình, sách giáo khoa hiện hành “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản và hướng nghiệp” thì chương trình, sách giáo khoa dự định hướng tới này thực sự là một bước tụt lùi.Trong những định huớng còn lại, ngoài việc diễn giải hết sức sơ sài ý định tiếp cận phát triển năng lực thì đề
án không cho thấy bất cứ một điểm nào mới Nếu tước bỏ cụm từ “phát triển năng lực” ra khỏi đề án thì toàn
bộ những định hướng chính này do đó nội dung của toàn bộ đề án, trở nên hết sức vô nghĩa, và phần nào
vô duyên
Tự mâu thuẫn
Chính vì sự không nghiêm túc trong việc xây dựng đề án, và sự mù mờ, tối nghĩa của các khái niệm và bản thân phương pháp tiếp cận được cho là mới của đề án, đã dẫn đến những mâu thuẫn nội tại của nó Đây là điều tối kỵ của bất cứ đề án hay lập luận có tính khoa học nào
Đề án cho rằng nội dung chương trình phải là “những tri thức cơ bản của nhân loại, những giá trị lịch sử, văn hóa tinh hoa của dân tộc, những thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại của thế giới”, nhưng “thiết kế nội dung dạy học phải theo hướng giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành” Hai tiêu chí này rõ ràng là trái ngược nhau: một bên thì cố gắng ôm đồm mọi tinh hoa của dân tộc và thế giới cả trong lịch sử và hiện đại, còn bên kia thì lại chủ trương giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành Trên thực tế, điều này còn mâu thuẫn với điểm “độc sáng” của đề án là tiếp cận theo hướng phát triển năng lực, vì nếu triển khai những nội dung này thì về thực chất đề án sẽ được triển khai theo hướng trang bị kiến thức của cách tiếp cận nội dung - thủ phạm làm cho chương trình và sách giáo khoa hiện hành trở nên bất cập đến mức cần phải thay thế như đánh giá trong phần II của đề án - do đó, những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành sẽ được lặp lại trong chương trình, sách giáo khoa mới
Đi từ tiếp cận nội dung, trong đó chú trọng dạy kiến thức, sang tiếp cận năng lực, trong đó chú trọng phát triển năng lực cá nhân của học sinh, đòi hỏi một nguồn học liệu rất đa dạng và một tư duy linh hoạt, biện chứng, khuyến khích sự đa dạng Nhưng việc lựa chọn chỉ có một chương trình, một bộ sách giáo khoa duy nhất dùng chung cho cả nước lại mâu thuẫn với chính mục tiêu phát triển năng lực của học sinh
Sự tự mâu thuẫn này còn thể hiện ở các định hướng xây dựng một chương trình, biên soạn một bộ sách giáo khoa duy nhất nhưng lại phải linh hoạt vùng miền Đảm bảo thống nhất tòan quốc nhưng các địa phương lại được quyền biên soạn các tài liệu giáo khoa hỗ trợ
Những phân tích trên còn chưa xét đến sự mâu thuẫn trong toàn bộ quy trình làm việc, như xây dựng chương trình trước khi xác định mô rõ hình giáo dục và trước cả việc ban hành chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, như giới chuyên gia đã chỉ ra trong những ngày qua
Sở dĩ xảy ra các mâu thuẫn này là do tư duy của Bộ GD&ĐT về giáo dục nói chung, và tư duy về sách giáo khoa nói riêng, đã lạc hậu và cần phải thay đổi
Mập mờ
Với những đề án có kinh phí lớn như thế này, đặc biệt kinh phí phần lớn lại là vốn ngân sách, thì theo qui định của pháp luật, cần phải trình lên Quốc hội Nhưng dường như qui trình này đã không được tôn trọng
Trang 9Trong đề án thể hiện ở sự thiếu rõ ràng về tiêu chí “đổi mới căn bản và toàn diện” Đành rằng đã đổi mới thì
ai cũng muốn đổi mới căn bản và toàn diện, nhưng căn bản và toàn diện như thế nào thì không nêu, nên nếu tước bỏ cụm từ “căn bản và toàn diện” này đi thì nội dung thực sự của đề án không hề thay đổi, vì trên thực tế, cụm từ này chỉ được sử dụng làm đồ trang trí cho đề án chứ không mang một nội dung cụ thể nào.Cách tiếp cận theo phát triển năng lực, điểm “độc sáng” của đề án, lại cũng hết sức thiếu rõ ràng Những năng lực này là năng lực gì, vì sao phải có nó, và có ở mức độ nào, cũng không hề được làm rõ Cụm từ
“tiếp cận theo phát triển năng lực” vì thế cũng chỉ có giá trị trang trí chứ không mang nội dung cụ thể nào
Sở dĩ người viết mạnh dạn đề xuất lược bỏ hai cụm từ “đổi mới căn bản và toàn diện” và “phát triển năng lực”, vì chúng thực sự không mang một nội dung cụ thể nào Đã đổi mới thì bao giờ chẳng kêu gọi đổi mới căn bản và toàn diện; còn giáo dục theo hướng phát triển năng lực thì lạy giời, chương trình giáo dục nào chẳng hướng tới tiêu chí đó, trừ phi Bộ GD&ĐT tổng kết cho thấy chương trình giáo dục và sách giáo khoa hiện hành đang hủy diệt năng lực của học sinh và cần phải thay đổi
Tối nghĩa
Để tránh một thất bại được báo trước và tiết kiệm
một nguồn nhân lực, vật lực khổng lồ - 70 nghìn tỉ
đồng với sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành,
chính quyền địa phương - cũng như để không đẩy
giáo dục lạc hậu thêm 11 năm nữa, tương ứng
với thời gian thực hiện đề án, thì cách tốt nhất là
hủy bỏ đề án này và triển khai việc xây dựng
chương trình, sách giáo khoa theo một tư duy
hoàn toàn khác, đã được kiểm chứng thành công
ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới
Lý do ra đời, và do đó nội dung mấu chốt, của đề án sách giáo khoa này là lập luận sau: “chương trình, sáchgiáo khoa hiện hành được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung nên thiên về trang bị kiến thức khoa học
bộ môn”; còn chương trình, sách giáo khoa xây dựng theo đề án này sẽ “tiếp cận theo hướng phát triển năng lực”, chẳng hạn “năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường…”
Đây có thể coi là điểm mới duy nhất của đề án này Nếu không có nó, đề án không khác gì so với những đề
án thay đổi chương trình, sách giáo khoa trước đó Nhưng rất tiếc, sự độc sáng này lại phần nhiều là “trò chơi ngôn ngữ” hơn là nội hàm khoa học mà nó có Giả sử thay từ “năng lực” bằng “kỹ năng” thì sao? Trong văn cảnh mà đề án đề cập, khái niệm “năng lực” không khác gì so với khái niệm “kỹ năng”, ví dụ: năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường… chính là kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xã hội, kỹ năng thích ứng với môi trường Nhóm kỹ năng này được nhiều nhà nghiên cứu gọi với một tên khác phổ biến hơn là kỹ năng mềm, kỹ năng sống…
Bằng thủ thuật đổi từ đồng nghĩa trong cùng văn cảnh như thế, cách tiếp cận của đề án sẽ trở thành: tiếp cận theo cách phát triển kỹ năng Nhưng từ xưa đến nay, có chương trình giáo dục nào không nhằm hướng tới phát triển kỹ năng của học sinh? Thực tế, các chương trình giáo dục đều nhắm đến phát triển tổng thể kỹnăng, tri thức, đạo đức và thể chất, chứ không chỉ nhằm phát triển kỹ năng đơn thuần
Một cách tương tự, nếu thay chữ “năng lực” bằng “kiến thức” thì kết quả thu được cũng gần như trên Lý do
là năng lực và kỹ năng, kiến thức không bao giờ tách rời nhau Một người không có năng lực chính là một người thiếu kỹ năng và thiếu kiến thức Điều đó cho thấy, “điểm sáng” duy nhất của đề án không được sáng như các tác giả nghĩ, mà thực ra, hết sức mù mờ Chỉ bằng một động tác thay những cụm từ đồng nghĩa, toàn bộ giá trị mới của đề án đã gần như bị loại bỏ
Giả sử với sự mù mờ trong khái niệm như thế, những người soạn chương trình và sách giáo khoa sẽ gia công tập trung vào phát triển các kỹ năng và kiến thức nói trên, thì chương trình và sách giáo khoa mới sẽ
Trang 10còn kém chất lượng hơn chương trình và sách giáo khoa hiện hành rất nhiều Vì như đánh giá trong phần I
và phần II của đề án: “chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã được xây dựng và biên soạn theo hướng chuẩn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu cập nhật, hiện đại, vừa bám sát nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và theo một quy trình khá thống nhất, chặt chẽ, góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục của đất nước” và có ưu điểm “chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”, thì một chương trình và sách giáo khoa mới chỉ nhắm đến phát triển các năng lực đơn thuần sẽ là một bước lùi về mặt chất lượng
Trên thực tế, chương trình và sách giáo khoa hiện hành cũng đã được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực chứ không chỉ tiếp cận nội dung thuần túy Ví dụ chương trình tiểu học yêu cầu: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người Có kỹ năng cơ bản
về nghe nói, đọc, viết và tính toán Có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh…”, thì rõ ràng chương trình này hướng đến phát triển cả tri thức và năng lực của học sinh tiểu học
Vì thế, những khái niệm quan trọng nhất của đề án, lẽ ra cần phải làm rõ trước hết, thì lại trở nên rất tối nghĩa, được sử dụng với mục đích trang trí hơn là mang những nội dung khoa học thực sự
Những thất bại trong cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua đều có một nguyên nhân là tư duy giáo dục
đã lạc hậu Đó là tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát toàn bộ Nhưng tiếc rằng, chính tư duy này lại là sợi dây xuyên suốt bản “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” lần này Vì thế, để tránh một thất bại được báo trước và tiết kiệm một nguồn nhân lực, vật lực khổng lồ - 70 nghìn tỉ đồng với sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành, chính quyền địa phương - cũng như để không đẩy giáo dục lạc hậu thêm 11 năm nữa, tương ứng với thời gian thực hiện đề án, thì cách tốt nhất là hủy bỏ đề
án này và triển khai việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo một tư duy hoàn toàn khác, đã được kiểm chứng thành công ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới
Vòng luẩn quẩn?
Theo đánh giá của đề án, một trong những lý do để thay đổi chương trình, sách giáo khoa hiện hành vì “các quan điểm và định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi xây dựng chương trình tiểu học Nhưng sai lầm này dường như đang được lặp lại ở mức độ caohơn Trong khi chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 vẫn còn đang soạn thảo, và chưa biết đến bao giờ mới ban hành, thì đề án sách giáo khoa này, với tư cách là một phần của chiến lược giáo dục, lại được lên kế hoạch triển khai trước Mô hình giáo dục phổ thông cũng chưa được làm rõ trong khi nội dung của nó lại được đầu tư xây dựng trước Như vậy bài học về việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa, dù đã được viết thành một tiểu mục riêng trong đề án này, trên thực tế không hề được đoái hoài đến
Nếu để ý, chương trình sách giáo khoa hiện hành được triển khai theo Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000, đến nay được 11 năm Lần này, đề án cũng kéo dài trong 11 năm, 2011-2022 Những mốc thời gian 10-11 năm này tương ứng với 2 nhiệm kỳ làm việc Dư luận vì thế sẽ có quyền đặt câu hỏi, liệu có tư duy nhiệm kỳ nào chi phối việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa này?
Viễn cảnh đáng sợ đó hoàn toàn có thể xảy ra, vì ngay như trong bản đề án này đề cập: Việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa lần này chỉ là bước “chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến tới biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa trên cơ sở một bộ chương trình thống nhất trên cả nước”
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao Bộ GD&ĐT không triển khai ngay một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa như các nước? Có cần thiết phải chuẩn bị lâu dài và tốn kém như vậy không?
Niềm tin có còn?
Bộ chương trình, sách giáo khoa hiện hành được Bộ GD&ĐT đánh giá là “lần đầu tiên trong lịch sử, bộ chương trình đã được xây dựng theo xu hướng quốc tế” và “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức,
Trang 11trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”
Một chương trình và sách giáo khoa ưu tú như vậy, được biên soạn theo một quy trình “được quy định khá đầy đủ, rõ ràng, hợp lý” như vậy, mà chỉ sau giai đoạn hoàn thiện 5 năm (2004-2006) đã phải biên soạn lại theo một cách tiếp cận hoàn toàn khác Người dân sẽ đăt câu hỏi: Những người tham gia biên soạn chươngtrình, sách giáo khoa hiện hành, liệu có còn đủ năng lực để tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa mới hay không, khi sản phẩm của họ chỉ 5 năm sau đã phải sửa đổi toàn diện? Và trên hết, Bộ
GD&ĐT, tác giả của chương trình, sách giáo khoa hiện hành có còn đáng tin để triển khai đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa lần này?
***
Sở dĩ vấn đề chương trình, sách giáo khoa nói riêng và cải cách giáo dục nói chung gặp thất bại liên tiếp trong thời gian vừa qua, dẫn đến việc giáo dục mỗi năm đều trở thành vấn đề nóng của xã hội, là do tư duy giáo dục của Bộ GD&ĐT đã quá lạc hậu Muốn khắc phục được vòng luẩn quẩn này, đồng thời khôi phục niềm tin của xã hội đối với giáo dục, thì nhất thiết tư duy giáo dục cần phải thay đổi trước hết Điều này đồngnghĩa với việc Bộ GD&ĐT phải từ bỏ tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát mọi thứ, tham gia mọi khâu của mình
• Quốc hội giám sát chương trình sách giáo khoa tại Hà Nội
• Học sinh ngán sử vì chán sách giáo khoa
• Ra mắt sách giáo khoa điện tử đầu tiên dành cho học sinh VN
“Tôi nghĩ đây là câu chuyện cực kỳ phi lý Bởi lẽ một sự thật là chúng ta chưa hoàn thành việc xâydựng chương trình sách giáo khoa thì không thể có kế hoạch biên soạn sách giáo khoa…”, giáo
sư Nguyễn Lân Dũng nói với Một Thế Giới
Ngày 25.2, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chủ trì phiên họp của Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực Tại đây, Bộ giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) cũng
đã báo cáo dự thảo đề án chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện
nghị quyết Trung ương về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; dự thảo đề án
xây dựng chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015.
Trang 12Theo đó, toàn bộ sách giáo khoa ở các lớp sẽ được biên soạn và cải cách hoàn toàn mới trong thời gian 2014 – 2020 Các công việc tập huấn, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý cũng được thử nghiệm theo chương trình cải cách này…
Nhân sự kiện này, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng đã có những nhận định và phân tích xung quanh câu chuyện thay sách giáo khoa
Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng việc đề án xây dựng chương trình sách giáo khoa sau năm 2015
là cực kỳ phi lý.
Thưa giáo sư, ông nhận định như thế nào về dự thảo đề án xây dựng chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015 mà Bộ GD-ĐT vừa báo cáo tại phiên họp của Hội đồng quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực?
Tôi nghĩ, đây là câu chuyện cực kỳ phi lý Bởi một sự thật là chúng ta chưa hoàn thành việc xây dựng chương trình sách giáo khoa thì không thể có kế hoạch biên soạn sách giáo khoa.
Chương trình sách giáo khoa phải đáp ứng được ba mục tiêu: Hội nhập quốc tế; Phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; Có thể sử dụng được lâu dài Bộ GD-ĐT nói đã có sẵn chương trình của 40 quốc gia khác nhau thì chuyện xây dựng một chương trình sách giáo khoa đáp ứng được ba yêu cầu nói trên không còn là vấn đề quá khó khăn
Tôi lại nghĩ, tại sao chúng ta không dựa vào các Hội khoa học chuyên ngành (Toán, Vật lý , Hóa học, Sinh học, Ngôn ngữ, Lịch sử, Địa lý, Địa chất) Các Hội này sẽ huy động các chuyên gia giỏi kết hợp với các thầy cô giáo giàu kinh nghiệm dậy bậc phổ thông để biên soạn chương trình, chỉ cần Bộ hỗ trợ thêm các chương trình nước ngoài mà Bộ đang có
Trang 13Không thể “sửa thơ” khi đưa vào sách giáo khoa
Vì sao Đại tướng không được nhắc tới trong sách giáo khoa?
Làm gì để khỏa lấp "lỗ hổng" trong sách giáo khoa
Các chương trình sau khi soạn thảo xong phải được xét duyệt kỹ càng tại một Hội đồng cấp Nhà nước đầy đủ uy tín và với tinh thần trách nhiệm cao Cần có sự đóng góp ý kiến của Ủy ban Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội và Hội đồng Tư vấn Khoa học - Giáo dục của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…
Đối với việc in sách giáo khoa lại là chuyện của từng nhóm tác giả và từng nhà xuất bản
Bộ sách nào không theo sát chương trình thì không được in nhưng việc trình bày có thể rất khác nhau Để lựa chọn bộ sách nào để dạy, để học là tùy vào thầy cô giáo và học sinh Chỉ có sự cạnh tranh như vậy mới mong sớm có được những bộ sách giáo khoa tốt cho học sinh Đây là một sự cạnh tranh rất khoa học và lành mạnh.
Còn như theo lộ trình của đề án, năm 2015 mới bàn lại chương trình giáo dục phổ thông, sau đó mới làm thí điểm chương trình sách giáo khoa Tiếp đó là hàng loạt các vấn đề khác như thí điểm viết lại bộ sách giáo khoa, thí điểm sử dụng sách giáo khoa … Theo tôi vừa không có sự khoa học mà sẽ bất cập nhiều vấn đề phát sinh và không đạt được kết quả.
GS có thể dẫn ra những ví dụ cụ thể để minh chứng cho những điều mình khẳng định ở trên?
Tôi có thể dẫn chứng ngay trong bộ môn sinh học là môn tôi nghiên cứu khá sâu Bộ sách giáo khoa Sinh học là cố gắng rất lớn của nhiều tác giả, nhưng rất tiếc là chương trình lại không hợp lý Có rất nhiều vấn đề được đưa ra nhưng kiến thức lại dừng ở mức độ rất
"nông".
Tôi đã mua trên 70 cuốn sách giáo khoa Sinh học ở bậc phổ thông ở các nước và thấy chương trình ở ta không giống bất kỳ nước nào Chương trình học quá nặng nhưng kiến thức lại mờ nhạt (có lẽ do chịu ảnh hưởng của sách giáo khoa Sinh học trước đây của Liên Xô).
Hầu như tất cả các môn học ở Khoa Sinh, Trường ĐH Sư phạm đều có trong chương trình phổ thông Như vậy có thể thấy sách giáo khoa Sinh học trong chương trình phổ thông có quá nhiều nội dung, quá nhiều chi tiết không cần thiết trong khi số giờ lại quá ít.