1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN : NGƯỜI KHUYẾT TẬT VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

24 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 166,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

IỂU LUẬN MÔN : CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Xã hội ngày càng phát triển song hành với các chiến lược phát triển kinh tế thì những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm bảo đời sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú trọng. Có nhiều lĩnh vựcmà những chương trình chính sách an sinh xã hội hướng đến: Xoá đói giảm nghèo, các vấn đề liên quan đến gia đình, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

TIỂU LUẬN MÔN : CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Chủ đề 07: Anh/chị hãy xây dựng tình huống về người khuyết tật bị kỳ thị trong

môi trường y tế và áp dụng tiến trình quản lý ca với trường hợp này.

Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN THỊ NGỌC MAI Sinh viên: LẦU THỊ DUNG

Lớp : CTXH K15

Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Xã hội ngày càng phát triển song hành với các chiến lược phát triển kinh tế thìnhững chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm bảo đờisống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú trọng Có nhiều lĩnhvựcmà những chương trình chính sách an sinh xã hội hướng đến: Xoá đói giảm nghèo,các vấn đề liên quan đến gia đình, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Và một trong nhữnglĩnh vực mà ngành công tác xã hội rất cần được quan tâm là lĩnh vực khuyết tật, nhữngđộng thái tạo điều kiện cho sự hoà nhập, nâng cao năng lực cho người khuyết tật (NKT

Hiện nay, người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các cơ hội tiếp cậncác hoạt động, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho việc hội nhập đờisống của cộng đồng Bản thân NKT không thể hội nhập vào cuộc sống cộng đồng nếu

đó chỉ là sự nỗ lực của bản thân mà còn cần được sự quan tâm chia sẻ, tạo thuận lợi từgia đình, cộng đồng và xã hội Chính vì vậy nhân viên công tác xã hội đóng vai trònhư là cầu nối của người khuyết tật để họ có thể dễ dàng hoà nhập với cộng đồng và

xã hội từ đó phát huy được khả năng của mình Chính vì những lý do đó việc làm rõ "vai trò của nhân viên CTXH trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật" là rấtcần thiết

Thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và mục tiêu của ngành Công tác xãhội, NKT là nhóm yếu thế nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ, can thiệp của ngànhcông tác xã hội Các hoạt động hỗ trợ giúp họ hướng đến một xã hội hòa nhập khôngrào cản trong đó người khuyết tật phát huy được tiềm năng của họ, tiếp cận bình đẳng

và đóng góp tích cực cho cộng đồng Các hoạt động của ngành CTXH góp phần cảithiện chất lượng cuộc sống cho NKT thông qua nâng cao năng lực, ý thức tự chủ, tăngcường các cơ hội kinh tế và hoà nhập xã hội cũng như việc tiếp cận các dịch vụ chămsóc sức khoẻ y tế

Công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật với các dạng tật, độ tuổi, đặcđiểm tâm lý, khả năng phục hồi chính là đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của đốitượng; đồng thời đóng vai trò là người quản lý trường hợp, hỗ trợ người khuyết tật tiếpcận những dịch vụ phù hợp và duy trì tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất.Trong trường hợp cần thiết, nhân viên công tác xã hội cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý chongười khuyết tật và gia đình của họ Như vậy, bằng những kiến thức, kỹ năng và

Trang 4

phương pháp, nhân viên công tác xã hội đã trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồngngười khuyết tật, phục hồi các chức năng xã hội mà họ bị suy giảm.

Người khuyết tật luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế và của Đảng,Nhà nước Việtnam Cùng với sự phát triển của xã hội, nghề Công tác xã hội được xáclập trong hệ thống nghề nghiệp Việt nam Công tác xã hội chuyên nghiệp cùng nhữngNhân viên xã hội được tậphuấn/đào tạo về Công tác xã hội với người khuyết tật sẽ trợgiúp người khuyết tật một cách toàn diện, cải thiện cuộc sống của họ, giúp ngườikhuyết tật tiếp cận với các dịch vụ, chính sách, mô hình trợ giúp

Trang 5

NỘI DUNG CHÍNH Chương I : Khái niệm NKT và phân loại KT 1.1 Khái niệm người khuyết tật

1.1.1 Trên thế giới

Theo quan niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì có ba thuật ngữ có liênquanđến thuật ngữ tàn tật, khuyết tật đó là Khiếm khuyết, Giảm khả năng và Tàn tật.Khiếm khuyết : thuật ngữ này chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bìn thường mộthay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm khuyết có thể là hậu quảcủa bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh.Giảm khả năng: thuật ngữnày hàm ý nói ở cấp độ cá nhân là tình trạng giảm hoặc mất khả năng hoạt động dokhiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nói, nghe, nhìn hoặcgiao tiếp)

Tàn tật: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội là những thiệt thòi mà mộtngười phải chịu do bị khuyết tật Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếmkhuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hoá hoặcvật chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia một cách bình đẳng vào cuộc sốngcộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường

Như vậy, trên thế giới quan niệm về người khuyết tật cơbản là giống nhau vềbản chất vấn đề, nhưng cách diễn đạt cũng không hoàn toàn giống nhau

Theo Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm2006, củaĐại hội đồng Liên hợp quốc thì người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm vềthể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh

hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệuquả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác

1.1.2 Ở Việt Nam

Khuyết tật và tàn tật là hai từ tiếng Việt để chỉ cùng một khái niệm, xong hiệnnay người ta không dùng thuật ngữ “ TÀN TẬT” trên các phương tiện truyền thôngđại chúng nữa để giảm sự kì thị và phân biệt đối xử

Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thôngqua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm

Trang 6

“người khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và

xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật Theo quy định của

Luật Người khuyết tật thì người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyếtmột hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạngtật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.Thông thường từ khuyết tậtđược cho là mang sắc thái tình cảm, ý nghĩa tốt hơn là từ tàn tật Người ta cho rằng từ

“tàn” trong cụm từ tàn tật gợiđến hình ảnh tiêu cực,tạo cảm giác không còn khả năng

gì, không còn tương lai và điều đó ảnh hưởng không tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khókhăn Từ “khuyết” mang nghĩa suy giảm chức năng nhưng vẫn có khả năng phục hồi,vẫn còn hy vọng niềm tin vào cuộc sống

1.2 Phân loại các dạng khuyết tật

Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính Phủ quy định 6 dạngtật cơ bản cụ thể là:

Nguyên nhân dẫn tới dạng khuyết tật này phần lớn là do hậu quả của chiếntranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, do bệnh tật khác gây ra

Các biểu hiện thường thấy của người bị khuyết tật vận động

- Trẻ nhỏ có thể không bú được vì không thực hiện được động tác mút; khi bếđầu trẻ ưỡn ra sau, lưỡi thè ra khi mẹ đặt núm vú vào miệng, thường quấy khóc, khôngchịu chơi Trẻ ít hoặc không sử dụng tay, ít hoặc không di chuyển từ chỗ này sang chỗkhác,ít chịu vận động, không chịu chơi, hay ngồi một mình, không tự chăm sóc mìnhđược.Đặc biệt đối với trẻ bị co cứng các khớp, chi hoặc toàn thân; trẻ bị mềm nhẽo

Trang 7

một hay nhiều nhóm cơ hoặc toàn thân, trẻ bị trật khớp háng; trẻ có bàn chân nghịch(một hay hai chân)…

- Người lớn thường ít vận động, ít hoặc không sử dụng tay chân, di chuyển khókhăn, đau khớp, không tự ăn, uống, tắm, rửa, đại tiểu tiện, vệ sinh cá nhân; khôngtham gia được những công việc trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình, cộng đồng và

xã hội

1.2.2 Khuyết tật nghe, nói

Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cảnghe và nói,phát âm không thành tiếng và câu không rõ ràng dẫn đến hạn chế tronggiao tiếp,trao đổi thông tin bằng lời nói

5.Biểu hiện của khuyết tật nghe, nói:

- Không thể nghe, không thể nói (không phát âm được hoặc phát âm khó) nhưbình thường hoặc sức nghe giảm từ khoảng cách trên 3 mét

- Không có khả năng nói mặc dù cơ quan phát âm hoàn toàn bình thường

- Suy giảm chức năng nghe do nhiều nguyên nhân khác nhau; mắc chứng nóingọng, nói lắp hoặc không nói được

1.2.3 Khuyết tật nhìn

Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánhsáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường Các biểu hiện của khuyết tật nhìn:

- Cận thị: Mắt nhìn không rõ khi vật ở xa

-Viễn thị: Mắt nhìn không rõ khi vật ở gần

- Loạn thị: Mắt nhìn thấy hình ảnh vật thể méo mó, không sắc nét

- Quáng gà: Mắt không nhìn thấy ở ánh sáng yếu

- Nhìn đôi: Mắt nhìn thấy hai ảnh của cùng một vật

- Mất thị trường: Mắt mất một góc nhìn, vùng nhìn

- Lòa: Mắt không còn nhìn rõ nữa, mà chỉ còn có thể nhìn thấy mọi vật lờ mờ,không rõ nét

- Mù hoàn toàn: Mắt không mất khả năng nhìn hoặc không có mắt bẩm sinh

- Mù màu: Mắt không có khả năng phân biệt màu sắc nhất định với mức độkhác nhau, phổ biến nhất mù màu đỏ màu xanh

Trang 8

1.2.4 Khuyết tật thần kinh, tâm thần

Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc,kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

Các biểu hiện của người khuyết tật tâm thần, thần kinh

- Nhức đầu, mất ngủ, thay đổi tính tình;

-Vui vẻ bất thường, múa hát, nói cười ầm ĩ hoặc buồn rầu, ủ rũ, không nói năng -Nghe thấy tiếng nói hay nhìn thấy hình ảnh không có trong thực tế;

-Tự cho mình có nhiều tài năng xuất chúng hoặc cho là có người theo dõi ámhại mình;

- Lên cơn kích động hoặc nằm im không ăn uống gì

1.2.5 Khuyết tật trí tuệ

Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểuhiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giảiquyết sự việc Điển hình của dạng này là trẻ chậm phát triển trí tuệ Trẻ có hoạt độngtrí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng và khuyết tật xuất hiện trước

18 tuổi

Các biểu hiện đặc trưng của khuyết tật trí tuệ bao gồm:

* Đặc trưng phát triển:

- Chậm phát triển vận động: trẻ chậm biết lật, ngồi, bò và đi đứng;

- Chậm biết nói hoặc khó khăn khi nói;

- Kém hiểu biết về các quy luật xã hội căn bản;

- Không ý thức được hậu quả về các hành vi của mình;

- Khó khăn khi tự phục vụ: tự ăn uống, vệ sinh cá nhân;

- Lăng xăng

* Đặc trưng về cảm giác, tri giác:

- Chậm chạp, ít linh hoạt;

- Phân biệt màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém;

- Thiếu tính tích cực trong quan sát

* Đặc trưng về tư duy:

- Trẻ khó nhận biết các khái niệm;

- Tư duy của trẻ thường biểu hiện tính không liên tục;

- Tư duy lôgíc kém;

Trang 9

- Tư duy trẻ còn thiếu tính nhận xét, phê phán.

* Đặc trưng về trí nhớ:

- Chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa tiếp thu;

- Quá trình ghi nhớ không bền vững, không đầy đủ;

- Chỉ ghi nhớ được cái bên ngoài sự vật, khó ghi nhớ cái bên trong, cái kháiquát

* Đặc trưng về chú ý:

- Khó tập trung, dễ bị phân tán;

- Không tập trung vào chi tiết, chỉ tập trung các nét bên ngoài;

- Kém bền vững;

- Luôn luôn bị phân tán bởi các sự việc nhỏ;

- Thời gian chú ý của trẻ chậm phát triển trí tuệ kém hơn nhiều trẻ bình thường

1.2.6 Khuyết tật khác

Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến chohoạtđộng lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợpđược quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 2 của NĐ 28/2012/NĐ-CP Các dạngkhuyết tật khác có thể bao gồm dị hình, dị dạng, nạn nhân chất độc da cam, di chứngbệnh phong, hội chứng Down, tự kỷ

1.3 Công tác xã hội

Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồngtăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo nhữngđiều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sựthay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực vàgiải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ tốt hơn

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT

2.1 Trên thế giới

Theo số liệu của Liên hợp quốc (UN), hiện nay trên toàn cầu cóhơn 600 triệungười khuyết tật và cuộc sống hằng ngày của 25% dân số toàn cầu có liên quan vớingười khuyết tật ở mặt này hay mặt khác Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì lưu ý rằng25% dân số toàn cầu ảnh hưởng bởi sự khuyết tật vì nó ảnh hưởng đến toàn gia đình

Trang 10

của người khuyết tật, chứ không chỉ có cá nhân người đó, và rằng 80% số ngườikhuyết tật sống trong các nước nghèo (trong đó cóViệt Nam) phần lớn trong số họ lànhững người nghèo và không tiếp cận được các dịch vụ cơbản như các trung tâm phụchồi chức năng.

Theo thống kê của Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái BìnhDuơng

(ESCAP), trên thế giới cókhoảng 650 triệu người khuyết tật, chiếm tỷ lệ trên10% dân số thế giới; đa phần người khuyết tật sống trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn; nhưng với sự giúp đỡ của gia đình, cộng đồng xã hội và Nhà nước, ngườikhuyết tật vẫn chủ động vươn lên trong cuộc sống, hoà nhập cộng đồng và khẳng địnhđược vai trò của mình trong gia đình và xã hội

2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, theo số liệu khảo sát năm 2005, cả nước có khoảng 5,3 triệungười khuyết tật, chiếm khoảng 6,34% dân số, trong đó có 1,1 triệu người khuyết tậtnặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật Bao gồm 29,41% người khuyết tật vậnđộng, 16,83% thần kinh, 13,84% thị giác, 9,32% thính giác, 7,08% ngôn ngữ, 6,52%trí tuệ và 17% các dạng tật khác Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ do cácnguyên nhân hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thươngtích

Người khuyết tật ở Việt Nam được phân bố trên 8 vùng lãnh thổ như sau:

- Vùng Tây Bắc : 157.369 người

- Vùng Đông Bắc: 678.345 người

- Vùng Đồng bằng sông Hồng: 980.118 người

- Vùng Bắc trung bộ: 658.254 người

- Vùng Duyên hải miền Trung: 749.489 người

- Vùng Tây Nguyên: 158.506 người

- Vùng Đông Nam Bộ : 866.516 người

- Vùng ĐBSCL: 1.018.341 người

Có thể thấy rằng với sự phân bố như trên, việc tiếp cận các chính sách, các dịch

vụ trợ giúp người khuyết tật của nhóm đối tượng này là rất khó khăn vì chủ yếu

họ tập trung ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa

Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 35,8% bẩm sinh, 32,34% do bệnh tật,

Trang 11

25,56% do hậu quảchiến tranh, 3,49% do tai nạn lao động và 2,81% do cácnguyên nhân khác Trong các loại khuyết tật thì chiếm tỷ trọng cao nhất là khuyết tậtvận động và khuyết tật liên quan thần kinh và trí tuệ, tiếp đến là khuyết tật về thị giác,còn lại các dạng khuyết tật khác đều ở mức dưới 10% so với tổng số người khuyết tật.

Sự phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng các hoạt động trợgiúp người khuyết tật hoà nhập cộng đồng và phát triển phù hợp với nhu cầu thiết yếucủa người khuyết tật

Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm

do tácđộng của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do M ỹ sử dụngtrong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông, tai nạn lao động và hậu quả thiên tai…

Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn.Theo kết quả khảo sát người khuyết tật do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội tiếnhành năm 2005 thì phần lớn các hộ có người khuyết tật đều có mức sống thấp.Hộ càng

có nhiều người khuyết tật thì mức sống càng giảm,

Người khuyết tật Việt Nam chiếm một phần đáng kể dân số, nhưng trình độhọc thức và nghề nghiệp vẫn ở mức độ thấp Người khuyết tật cũng gặp phải nhữngkhó khăn nhất định Theo thống kê của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, tỷ lệngười khuyết tật được đi học chiếm rất thấp, khoảng 35,83% người khuyết tật biết chữ,

và chỉ có khoảng 12,58% người khuyết tật biết đọc, biết viết Bởi vậy, người khuyết tậtgặp nhiều khó khăn để tìm việc làm, và kiếm sống do họ không có đủ các kỹ năng cầnthiết để thực hiện một công việc

Phần lớn người khuyết tật không cótrợ giúp đặc biệt cho các hoạt động sinhhoạt hàng ngày của họ Bởi vậy, trợ cấp xã hội là rất quan trọng đối với các hộ gia đình

có người khuyết tật Tuy nhiên,chỉ có người khuyết tật nặng mới được nhận trợ cấp từnhà nước và ngân sách Chính phủ dành cho người khuyết tật thường không đủ theonhu cầu

Hơn nữa, người khuyết tật không tiếp cận hay được cung cấp đầy đủ với cácdịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt Các trung tâm y tế không cung cấp dịch vụ phục hồichức năng, và không cókhả năng đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật Cuối cùng,người khuyết tật không cótiền để điều trị bệnh tật, trong khi đó, phúc lợi xã hội vềchăm sóc y tế không đủ chi trả cho tất cả các chi phí điều trị và còn hạn chế khả năngtiếp cận với các dịch vụ cũng như việc làm và thu nhập Người khuyết tật là một trong

Trang 12

những nhóm yếu thế trong xã hội, bởi vậy, họ cần phải được hỗ trợ và trợ giúp đặc biệtbao gồm các dịch vụ trợ giúp, phục hồi chức năng và các cơhội việc làm và đào tàonghề.

CHƯƠNG III : HÌNH THỨC KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ 3.1 :Sự kỳ thị và phân biệt đói xử thể hiện trong nhận thức quan niệm

+ trợ giúp với hàm ý ban ơn

+ làm giúp những việc NKT có thể làm được : đẩy cửa, đi lại,…

- Coi thường

+ coi thường vì nghĩ NKT ỷ lại,thiếu trách nhiệm

+ coi NKT là đứa trẻ, NKT không được tự định hướng,quyết định…

- Hậu quả

+ gây tổn thương tâm lý chán nản

+ tạo nên “ nhãn mác” tiêu cực cản trở việc hòa nhập cộng đồng

Ngày đăng: 21/01/2022, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w