1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế

43 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Chung Về Quan Hệ Kinh Tế Quốc Tế
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 70,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế Đề cương ôn thi quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 1

Câu hỏi tự luận chương 1: Những vấn đề chung về quan hệ kinh tế quốc tế

Câu 1: Nêu khái niệm quan hệ kinh tế quốc tế và nền kinh tế thế giới

1.Khái niệm quan hệ kinh tế quốc tế

Để phản ánh sự phụ thuộc giữa các nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới với nhautrong quá trình tồn tại và phát triển, thuật ngữ quan hệ kinh tế quốc tế đã được sử dụng

Quan hệ kinh tế quốc tế là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ về kinh tế giữa từ haiquốc gia trên thế giới với nhau Không một quốc gia nào trên thế giới tồn tại, phát triển

có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệttrong lĩnh vực kinh tế

Quan hệ kinh tế quốc tế là yếu tố cơ bản giúp hình thành và phát triển nền kinh tế thếgiới Quan hệ kinh tế quốc tế phản ánh yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượngsản xuất trong nền kinh tế thế giới Quan hệ kinh tế quốc tế là những mối quan hệ tấtyếu phát sinh trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể của quan hệkinh tế quốc tế

Dấu hiệu để nhận biết và phân biệt quan hệ kinh tế quốc tế với nhiều loại quan hệ khácgiữa các quốc gia: Quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ chứa đựng đồng thời cả quan hệkinh tế và quan hệ quốc tế Theo đó:

– Quan hệ kinh tế được hiểu là quan hệ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, tổchức – quản lý sản xuất kinh doanh, sử dụng lao động, phân phối sản phẩm, dịch vụtrong xã hội và các quan hệ khác phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cácquan hệ kinh tế chịu sự chi phối và tác động của các quy luật kinh tế khách quan như:quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lợi ích cận biên giảm dần,quy luật lưu thông tiền tệ…

Mỗi quốc gia trên thế giới, để tồn tại và phát triển đều cần có các mối quan hệ với cácquốc gia khác, như quan hệ liên quan đến an ninh quốc gia, biên giới lãnh thổ, văn hóa– xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, môi trường… Trong khuôn khổ môn học này, chúng

ta không nghiên cứu các mối quan hệ giữa các quốc gia, mà chỉ tập trung nghiên cứu vềquan hệ kinh tế giữa các quốc gia

– Quan hệ quốc tế được hiểu là quan hệ có yếu tố nước ngoài, hoặc chúng có phạm vivượt quá biên giới một quốc gia

Trong thực tiễn hoạt động kinh tế có các quan hệ kinh tế chỉ diễn ra trong phạm vi mộtquốc gia, tuy nhiên cũng có rất nhiều hoạt động kinh tế diễn ra trên phạm vi vượt quábiên giới một quốc gia hoặc có liên quan đến yếu tố nước ngoài Trong khuôn khổ mônhọc này, chúng ta chỉ xem xét các hoạt động kinh tế có phạm vi vượt quá biên giới mộtquốc gia hoặc có liên quan đến yếu tố nước ngoài

Các ví dụ điển hình thể hiện mối quan hệ về kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới cóthể kể tới: quan hệ xuất, nhập khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài, chuyển giao khoa học– công nghệ, xuất, nhập khẩu sức lao động, thanh toán quốc tế…

Trang 2

về nguồn luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế: với sự đan xen và thể hiện rấtphong phú của các quan hệ kinh tế quốc tế, trên thực tế, quan hệ kinh tế quốc tế là đốitượng điều chỉnh của cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.

2 Khái niệm nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, có mốiquan hệ phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế.Nhờ có các quan hệ kinh tế quốc tế mà nền kinh tế các quốc gia có thể liên kết với nhau,hình thành một chỉnh thể có tính thống nhất

Quan hệ kinh tế quốc tế và nền kinh tế thế giới là hai khái niệm có mối quan hệ biệnchứng với nhau Nền kinh tế thế giới hình thành và phát triển do một số nguyên nhânchủ yếu sau:

– Nền kinh tế thế giới chỉ xuất hiện khi sự phân công lao động xã hội vượt khỏi biêngiới quốc gia, tức mang tính quốc tế

– Các nước công nghiệp phát triển, việc tổ chức sản xuất các sản phẩm thường cóquy mô rất lớn, vượt xa khả năng tiêu dùng trong nội bộ một quốc gia Do đó có nhu cầuđầu tư vốn, khoa học – công nghệ sang các nước đang và kém phát triển với mongmuốn thu được lợi nhuận cao hơn và giảm chi phí sản xuất (khi tận dụng được nguồnnhân công, tài nguyên rẻ tại các nước này)

– Các nước đang và kém phát triển ngày càng có nhu cầu mở rộng quan hệ kinh tếquốc tế để tiếp nhận kĩ thuật, công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý từ các nước côngnghiệp phát triển trên thế giới nhằm bù đắp vào những thiếu hụt tại quốc gia mình

– Các điều kiện về giao thông, liên lạc, tài chính…, đặc biệt là giao dịch trực tuyếnthông qua internet ngày càng phát triển

– Pháp luật và thông lệ quốc tế frong hoạt động kinh tế ngày càng được các quốc giatrên thế giới chấp nhận và sử dụng rộng rãi

Câu 2: Vai trò của các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế?

Các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm:

 Quốc gia

 Các tổ chức và liên kết kinh tế quốc tế

 Công ty xuyên quốc gia (TNCs)

Trang 3

2, Các tổ chức và liên kết kinh tế quốc tế

Chủ thể này được hình thành và phát triển do quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế,đặc biệt trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Cácchủ thể này có thể là tổ chức mang tính khu vực như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam

Á (ASEAN), NAFTA, EU…; liên kết kinh tế liên khu vực như: Diễn đàn Hợp tác kinh tếchâu Á – Thái Bình Dương (APEC), ASEM… hoặc tổ chức, liên kết kinh tế toàn cầu như

WB, IMF, WTO, FAO…

Các chủ thể này ngày càng có vai ưò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế, như: Tổchức và phối hợp hoạt động của các quốc gia trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tếquốc tế; Tạo cơ sở cho các cuộc đối thoại về kinh tế giữa những nước giàu và nướcnghèo; Quan tâm giải quyết các vấn đề kinh tế toàn cầu như năng lượng, lương thực,môi trường sinh thái; Góp phần tạo thuận lợi cho sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc,góp phần xây dựng thế giới hòa bình và an ninh; Các tổ chức kinh tế quốc tế có vai tròlớn trong việc xây dựng một hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế

3.Công ty xuyên quốc gia

Công ti xuyên quốc gia là khái niệm dùng để chỉ các công ti sản xuất hay cung cấp dịch

vụ ở ít nhất hai quốc gia, hoạt động theo một hệ thống, có định hướng chiến lược pháttriển chung Có thể hiểu, TNCs là một tập đoàn tư bản bao gồm hai bộ phận chính:

+ Công ti mẹ (đóng tại một nước)

+ Các công ti con (các chi nhánh ở nước ngoài)

TNCs thúc đẩy thương mại thế giới phát triển, đặc biệt là các nước có nền kinh tếhướng về xuất khẩu vì các TNCs giúp khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực sảnxuất của các quốc gia này Các TNCs giúp phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiệnchuyển giao khoa học – công nghệ cho nước nhận đầu tư Các công ti xuyên quốc giađóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, đàotạo lực lượng lao động tay nghề cao Đôi khi, một TNCs có sức mạnh kinh tế lớn hơn cả

các quốc gia tiếp nhận đầu tư Ví dụ, năm 2018, Tập đoàn tài chính City Group của Mỹ,

có tổng giá trị tài sản lên tới 1.917 tỉ USD vời 219 chi nhánh, trong đó có 80 chi nhánh tạinước ngoài và hoạt động đầu tư tại 27 quốc gia

4,Cá nhân

Cá nhân là chủ thể có thể tham gia một cách linh hoạt vào nhiều loại quan hệ kinh tếquốc tế, như:

+ Tham gia vào quan hệ xuất khẩu lao động Ví dụ: người Việt Nam đi xuất khẩu lao

động ở Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Trung Đông;

+ Tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa quốc tế với vai trò là thương nhân;

+ Tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục, đào tạo cho nước ngoài Ví dụ: các giáo sư của

các trường đại học đi giảng dạy ở nước ngoài;

+ Tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán nước ngoài;

+ Tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ hay chuyển giao quyền sở hữu trí tuệcho cá nhân, tổ chức nước ngoài

Trang 4

5,Chủ thể khác

5.1 Các tổ chức phỉ Chỉnh phủ (NGOs)

Tên gọi NGOs được đưa vào sử dụng khi thành lập UN năm 1945, đây là loại hình tổchức được thành lập một cách tự nguyện và hợp pháp, không thuộc bộ máy hành chínhnhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận Các NGOs ra đời với nhiều mục đíchkhác nhau, thông thường nhằm đẩy mạnh các mục tiêu chính trị, xã hội như bảo vệ môi

trường thiên nhiên (ví dụ: tổ chức Greenpeace), khuyến khích việc tôn trọng quyền con người (ví dụ: tổ chức Amnesty International), cải thiện mức phúc lợi cho những người bị

thiệt thòi, hoặc đại diện cho một nghị trình đoàn thể

Xu thế hiện nay khối lượng viện trợ của NGOs cho các nước đang phát triển ngày càngtăng và lĩnh vực hoạt động của NGOs chuyển theo hướng giảm viện trợ nhân đạo vàtăng viện ượ phát triển Các NGOs ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế xã hội, nhân đạo, giáo dục, tôn giáo, môi trường,… trên thế giới

Trong quan hệ kinh tế quốc tế, mặc dù không lớn như các nguồn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) hay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ từ các NGOs là viện trợkhông hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, không chỉ là vật chất mà cả chuyểngiao kinh nghiệm, công nghệ, bí quyết cần cho xây dựng kinh tế, nâng cao dân trí…

Ví dụ: Hiện tại, EU, Ma Cao (Trung Quốc), Hồng Kông (Trung Quốc) là thành viên của

WTO Đây chính là các lãnh thổ hải quan – chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế

Câu 3: Trình bày về xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và khu vực hóa kinh tế, nêu mối quan hệ của hai xu hướng này.

XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

Toàn cầu hóa là quá trình liên kết các quốc gia trên thế giới về nhiều mặt (Kinh tế, Vănhóa, Khoa học… )

Biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế

a,Thương mại thế giới phát triển mạnh

– Tốc độ gia tăng trao đổi hàng hóa trên thế giới nhanh hơn nhiều so với gia tăng GDP

– Hình thành tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

b) Đầu tư nước ngoài tăng trưởng nhanh

– Từ năm 1990 → 2000 tổng đầu tư nước ngoài tăng từ 1.774 tỷ USD lên 8.895 tỷ USD(tăng hơn 5 lần)

Trang 5

– Trong đó, dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, nhất là tài chính – ngân hàng – bảohiểm…

c) Thị trường tài chính quốc tế mở rộng

– Hình thành mạng lưới liên kết tài chính

– Các tổ chức tài chính toàn cầu IMF, WB… đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế – xã hộithế giới

d) Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn

– Số lượng ngày càng nhiều

– Vai trò:

+ Hoạt động trên nhiều quốc gia

+ Nắm nguồn của cải vật chất lớn

+ Chi phối nhiều ngành kinh tế quan trọng

Hệ quả của toàn cầu hóa kinh tế

a) Tích cực

– Thúc đẩy sản xuất phát triển và tăng trưởng kinh tế toàn cầu

– Đẩy nhanh đầu tư và khai thác triệt để khoa học công nghệ, tăng cường sự hợp tácquốc tế

b) Tiêu cực

– Gia tăng nhanh chóng khoảng cách giàu nghèo, trong từng quốc gia và giữa các nướctrên thế giới

XU HƯỚNG KHU VỰC HÓA KINH TẾ

Các tổ chức liên kết kinh tế khu vực được hình thành

– Nguyên nhân: Do sự phát triển không đều và sức ép cạnh tranh trong các khu vực trênthế giới, nên các quốc gia có những nét tương đồng về văn hóa, xã hội, địa lí hoặc cóchung mục tiêu, lợi ích… đã liên kết lại với nhau

– Ví dụ: EU, APEC, ASEAN, NAFTA …

Hệ quả của khu vực hóa kinh tế

a) Tạo ra cơ hội

– Thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trang 6

– Tăng cường tự do hóa thương mại, đầu tư dịch vụ.

– Mở rộng thị trường, đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới

b) Tạo ra thách thức

– Đặt ra nhiều vấn đề như đảm bảo quyền độc lập, tự chủ về kinh tế và chính trị…

Câu 4: Giá cả quốc tế là gì? Nêu khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc nghiên cứu giá quốc tế.

ii) Những yếu tố ảnh hưởng tới quan hệ cung cầu Như thu nhập của người dân (tănglên ảnh hưởng tới cầu – sức mua tăng hoặc giảm xuống), sự thay đổi điều kiện tự nhiênảnh hưởng tới cung hàng hóa (sản xuất cà phê gặp hạn hán – dẫn tới cung giảm), cácyếu tố chính trị xã hội (dầu mỏ lên xuống rất phức tạp, không theo một quy luật nào,chính sách pháp luật của mỗi nước thay đổi) v.v…

iii) Những yếu tố ảnh hưởng tới giá trị quốc tế của đồng tiền Như lạm phát, thay đổi tỷgiá hối đoái, khủng hoảng tài chính tiền tệ

b) Có hiện tượng nhiều giá đối với một mặt hàng Khi điều tra, tìm hiểu thì ta thấy cùng một loại hàng hóa trên thị trường sẽ có rất nhiều mức giá khác nhau Nguyên nhân bắt nguồn là từ:

i) Phương thức mua bán khác nhau Nếu mua bán trực tiếp thì giá quốc tế của hàng hóa

sẽ khác khi mua qua trung gian, qua đại lý, môi giới, hoặc mua bán trao đổi hàng – tiềnbình thường sẽ khác hơn là mua bán hàng – hàng, hoặc các giao dịch tạm nhập tái xuất,mua bán theo hình thức hội chợ, triễn lãm, đấu thầu v.v…

ii) Phương thức thanh toán khác nhau Nếu trả tiền ngay thì giá sẽ khác hơn là trả tiềnsau, trong buôn bán quốc tế thì người bán và người mua ở hai nước khác nhau do vậyviệc việc thanh toán rất phức tạp – nếu thanh toán qua ngân hàng có thể chọn nhiềuhình thức như chuyển tiền, thư tín dụng, trả tiền thông qua LC, nhờ thu v.v… – khi sửdụng ngân hàng để thực hiện các dịch vụ chuyển tiền theo các hình thức khác nhau thìngân hàng phải tính phí do vậy giá cả hàng hóa có sự thay đổi

iii) Phương thức vận chuyển khác nhau Khi lựa chọn phương thức vận chuyển khácnhau thì giá quốc tế sẽ phải khác nhau Các phương thức vận chuyển như đường bộ,đường thủy (đường biển mặc dù chi phí rẻ nhất nhưng mức độ rủi ro lại cao nhất),

Trang 7

đường hàng không (có chi phí cao nhưng bù lại rất nhanh), đường sắt, đường ống(xăng, dầu).

iv) Điều kiện cơ sở giao hàng khác nhau Giá FOB (mức giá chưa tính phí bảo hiểm).Mức giá giao tại chân công trình sẽ rất khác so với giao hàng tại xưởng Quyền lợi vànghĩa vụ của người bán và người mua trong các trường hợp khác nhau thì trách nhiệm,rủi ro sẽ ảnh hưởng tới giá của hàng hóa

c) Có hiện tượng “giá cánh kéo” đối với giá cả hàng hóa trên thị trường.

Câu 5: Điều kiện xác định giá quốc tế và các hình thức biểu hiện của giá quốc tế

Điều kiện xác định giá quốc tế

Một là, giá quốc tế phải là giá có tính chất đại diện cho đối tượng trao đổi trên thị trường

thế giới và phải là giá của các giao dịch thông thường

Để thỏa mãn điều này, người ta thường lấy giá của nước xuất khẩu với khối lượng lớnnhất sản phẩm đó trên thị trường thế giới hoặc giá của nước nhập khẩu lớn nhất sảnphẩm đó trên thị trường thế giới là giá quốc tế

Ví dụ: Lấy giá xuất khẩu gạo tại Thái Lan là giá gạo quốc tế; lấy giá xuất khẩu cà phê tạiBrazin là giá cà phê quốc tế…

Hai là, giá đó phải được tính bằng đồng tiền mạnh có khả năng tự do chuyển đổi.

Đồng tiền được coi là mạnh là tiền có khả năng chuyển đổi và phải giữ vị trí quan trọngtrong hệ thống tiến tệ quốc tế

Một số đồng tiền mạnh hiện nay như: Đô la Mĩ (USD); Euro (EUR); Yên Nhật Bản (JPY);Bảng Anh (GBP)…

Các hình thức biểu hiện giá quốc tế

– Theo mức độ tin cậy của giá cả, có các loại giá sau đây: giá tham khảo, giá chào hàng,giá yết bảng ở các sở giao dịch, giá thực tế trong các hợp đồng đã kí kết, giá bán đấugiá và đấu thầu…

– Theo điều kiện mua bán hàng hóa, có hai hệ thống giá là giá FOB và giá CIF

– Theo điều kiện thanh toán quốc tế, có giá thanh toán ngay và giá thanh toán sau

Câu 6: Tỉ lệ trao đổi trong thương mại quốc tế là gì? Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trao đổi trong thương mại quốc tế?

Khái niệm

Tỉ lệ trao đổi trong tiếng Anh là Terms of trade, viết tắt là TOT.

Tỉ lệ trao đổi (TOT) thể hiện tỉ lệ giữa giá xuất khẩu của một quốc gia và giá nhập khẩu

của quốc gia đó Có bao nhiêu đơn vị xuất khẩu được yêu cầu để mua một đơn vị nhậpkhẩu? Tỉ lệ này được tính bằng cách chia giá xuất khẩu cho giá nhập khẩu và nhân kếtquả với 100

Trang 8

Khi nguồn vốn chảy ra khỏi đất nước do nhập khẩu nhiều hơn thì TOT của quốc gia đó

sẽ nhỏ hơn 100% Khi TOT lớn hơn 100%, quốc gia này đang tích lũy nhiều vốn từ xuấtkhẩu hơn là chi cho nhập khẩu

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trao đổi

TOT phụ thuộc ở một mức nào đó vào tỉ giá hối đoái và tỉ giá lạm phát hoặc giá cả Mộtloạt các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến TOT, và một số có ảnh hưởng riêng tới từngngành và khu vực cụ thể

Sự khan hiếm: Số lượng hàng hóa có sẵn để giao dịch là một trong những yếu tố như

vậy Càng nhiều hàng hóa mà một nhà cung cấp có sẵn để bán, thì càng có nhiều hànghóa được bán và nhà cung cấp có thể mua được càng nhiều hàng hóa bằng cách sửdụng vốn thu được từ việc bán hàng

Quy mô và chất lượng hàng hóa cũng ảnh hưởng đến TOT Hàng hóa lớn hơn và chất

lượng cao hơn có thể sẽ có giá cao hơn Nếu hàng hóa bán với giá cao hơn, một ngườibán sẽ có thêm vốn để mua thêm hàng hóa

Tỉ lệ trao đổi biến động

Một quốc gia có thể mua thêm hàng hóa nhập khẩu cho mỗi đơn vị xuất khẩu mà họ đãbán khi TOT của họ tốt lên Do đó, việc tăng TOT có thể có lợi vì quốc gia cần xuất khẩu

ít hơn để mua vào một số lượng nhập khẩu nhất định

Khi TOT tăng có thể có tác động tích cực đến lạm phát do chi phí đẩy ở trong nước, vìmức tăng này cho thấy giá nhập khẩu giảm so với giá xuất khẩu Tuy nhiên, khối lượngxuất khẩu của quốc gia có thể giảm xuống mức bất lợi cho cán cân thanh toán (BOP)

Quốc gia phải xuất khẩu một số lượng lớn hơn đơn vị mà họ đã mua cùng một số lượngnhập khẩu khi TOT có dấu hiệu đi xuống Giả thuyết Prebisch-Singer nói rằng một số thịtrường mới nổi và các nước đang phát triển đã phải trải qua tình trạng TOT giảm vì giáhàng hóa giảm so với giá của hàng hóa sản xuất

Câu 7: Nêu một số nét về thương mại quốc tế hiện đại

1.Khái niệm

Cho đến nay chưa có một định nghĩa hay một cách hiểu thống nhất về hoạt độngthương mại quốc tế Người ta mới chỉ thống nhất ở điểm: thương mại quốc tế là tổnghợp các hoạt động, giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong quan hệ thương mại quốc tế.Điểm chưa thống nhất là ở chỗ tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế thì đốitượng tham gia gồm nhiều chủ thể khác nhau Có quan hệ thương mại quốc tế phát sinhgiữa các quốc gia (kể cả các nước, vũng lãnh thổ) nhưng cũng có quan hệ thương mạiquốc tế phát sinh giữa các doanh nghiệp, các công ty thương mại của các nước khácnhau với nhau Quan hệ thương mại quốc tế cũng có thể có sự tham gia của các tổ chứcquốc tế như Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) hoặc của cơ quan chuyên môn củaLiên Hợp Quốc như Uỷ ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc(UNCITRAL)…

2.Sự phát triển của thương mại quốc tế hiện đại

Sự phát triển của thương mại quốc tế tùy thuộc vào sự phát triển của các mối quan hệthương mại phát sinh ở phạm vi quốc tế Thương mại quốc tế, về quy mô, phát triển từcấp độ song phương rồi đến cấp độ khu vực và sau cùng là ở quy mô toàn cầu Về nộidung, thương mại quốc tế lúc mới hình thành chỉ bao gồm các giao dịch về thương mạihàng hóa Cùng với sự phát triển của quan hệ thương mại quốc tế, nội dung của hoạt

Trang 9

động thương mại quốc tế đã mở rộng sang cả lĩnh vực thương mại dịch vụ, đầu tư, tàichính, sở hữu trí tuệ,… Về mặt tính chất, hoạt động thương mại quốc tế, khi mới hìnhthành, mang tính ‘đóng’ do vì dựa chủ yếu trên nguyên tắc bảo hộ mậu dịch, và ở một sốnhóm nước hay một số khu vực, hoạt động thương mại quốc tế bảo vệ các quan hệ dựatrên nguyên tắc độc quyền của Nhà nước về thương mại quốc tế nói chung và về ngoạithương nói riêng.

Câu 8: Bình luận về sự trỗi dậy của xu hướng bảo hộ mậu dịch tại nhiều nước trên thế giới sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008.

Chủ nghĩa bảo hộ (protectionism) là thuật ngữ nói đến những chính sách kinh tế đượcdùng để kiềm chế thương mại giữa các nước bằng nhiều biện pháp, như đánh thuếhàng nhập khẩu, thu hẹp hạn ngạch hay nâng cao tiêu chuẩn về chất lượng, xuất xứ và

vệ sinh dịch tễ Mấu chốt của bất kì loại hình bảo hộ nào nằm ở chỗ chính phủ mongmuốn “bảo vệ” những sản phẩm nội địa khỏi đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài, vốn cóthể bán cùng một sản phẩm nhưng ở mức giá thấp hơn

Coface (tập đoàn chuyên về bảo hiểm tín dụng của Pháp) công bố số lượng các biệnpháp bảo hộ thương mại thực hiện trên toàn cầu hiện nay đã tăng gấp 2,5 lần so vớinăm 2010 Trong số các biện pháp bảo hộ thương mại, thì công cụ thuế quan (nhậpkhẩu) được sử dụng với tỉ trọng ngày càng tăng, tỉ trọng này đã tăng gấp 2 lần sau 9năm (8% năm 2009, 16% năm 2018) Đơn cử, từ năm 2016 đến 2018, thuế nhập khẩucủa Mỹ đã tăng mạnh, từ 5,4% đến 12,5%

Báo cáo thường niên của Hội nghị Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD)công bố cuối tháng 9/2018 nhận định, 10 năm sau cuộc khủng hoảng tài chính (2008 –2018), nền kinh tế toàn cầu vẫn còn bất ổn, đặc biệt sự leo thang không ngừng của hàngrào thuế quan thương mại thời gian gần đây là một mối quan ngại lớn hơn, bởi vì nó sẽlàm nhiễu loạn hệ thống thương mại quốc tế, làm gia tăng tính bất ổn của thị trường vàthu hẹp đầu tư, từ đó tác động không tốt đến sự phát triển kinh tế trung hạn trên toàncầu Báo cáo cảnh báo rằng sau khi bùng phát cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008,các nước trên thế giới không những không xây dựng chính sách tốt để ngăn chặn cuộckhủng hoảng tái diễn, ngược lại còn cho phép các cơ quan tài chính lớn tăng trưởngthiếu kiểm soát, nợ chính phủ cũng tiếp tục phình ra trong thời gian gần đây, hình thànhnên những rủi ro mới Báo cáo chỉ rõ quy mô của các ngân hàng trên toàn cầu và cácngân hàng ngầm đã tăng lên 160.000 tỉ USD, gấp đôi so với quy mô của nền kinh tếtoàn cầu hiện nay; khối lượng nợ toàn cầu đã tăng lên gần 250.000 tỉ USD, hơn một nửa

so với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008

Những hạn chế về mặt thương mại gây ra bởi chủ nghĩa bảo hộ là con đường 2 chiều.Mọi hành động mang tính bảo hộ đều có thể hứng chịu “sự trả đũa” bởi các hình thứctương tự, qua đó dễ dẫn đến chiến tranh thương mại Đơn cử, cuộc chiến thương mại

do chính quyền Mỹ khơi mào năm 2018 nếu tiếp tục leo thang có thể sẽ khiến kinh tếtoàn cầu, vốn vừa có dấu hiệu phục hồi sẽ mất đà tăng trưởng và có thể suy giảm trở lại.Đây là lời dự đoán được đưa ra trong báo cáo thường niên về Thương mại và Phát triểnnăm 2018 do UNCTAD công bố Cụ thể, nếu các biện pháp trừng phạt về thuế lẫn nhaugiữa Mỹ với các nước Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Canada, Mexico, Hàn Quốc dẫn tớicuộc chiến thương mại thì ước tính trong khoảng thời gian 5 năm (từ 2019 – 2023), nhịp

độ tăng trưởng sẽ giảm đi đáng kể so với trường hợp không xảy ra cuộc chiến thươngmại Báo cáo trên cho rằng tình trạng này sẽ khiến các nước có xuất siêu thương mại bịthu hẹp lại, như Trung Quốc, Nhật Bản, sẽ hạ tỉ giá hối đoái tiền tệ nhằm duy trì sứccạnh tranh Ngoài ra, việc các doanh nghiệp cắt giảm mức lương công nhân sẽ dẫn đến

sự suy giảm nhu cầu và đầu tư trong nước

Trang 10

Theo báo cáo của ủy ban Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc tại châu Á – Thái BìnhDương (UNESCAP), thương mại toàn cầu đã thúc đẩy nhiều lĩnh vực trong thời gian qua

và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng sẽ khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt ở cácnước đang phát triển bị chậm lại, cụ thể là mức 1,2% Khu vực châu Á – Thái BìnhDương sẽ là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa bảo hộ Khu vực này trung bìnhxuất khẩu xấp xỉ 15% sản phẩm của mình sang thị trường Hoa Kỳ – nơi mà làn sóng bảo

hộ đang dấy lên mạnh mẽ Đối với một so quốc gia khác thì con số này còn nhiều hơn,như lượng xuất khẩu của Trung Quốc sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 20% tổng xuất khẩucủa Trung Quốc tính theo giá frị gia tăng, tương đương 3,7% GDP Bên cạnh đó, Mỹ vớidân số 323 triệu người, là thị trường lớn đối với nhiều nền kinh tế châu Á Cho nên, nếuchủ nghĩa bảo hộ được thực hiện tại quốc gia này, nhiều nhà sản xuất châu Á có nguy

cơ rơi vào tình trạng khó khăn khi thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hóa

Câu 9: Phân tích tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ bốn tới sự phát triển của nềkinh tế thế giới.

Về mặt kinh tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động đến tiêu dùng, sản xuất và giá cả Từ góc độ tiêu dùng và giá cả, mọi người dân đều được hưởng lợi

nhờ tiếp cận được với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng với chi phí thấphơn

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tác động tích cực đến lạm phát toàn cầu.

Nhờ những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng (cả sản xuất cũng như

sử dụng), vật liệu, Internet vạn vật, người máy, ứng dụng công nghệ in 3D (hay cònđược gọi là công nghệ chế tạo đắp dần, có ưu việt là giúp tiết kiệm nguyên vật liệu vàchi phí lưu kho hơn nhiều so với công nghệ chế tạo cắt gọt truyền thốngv.v… đã

giúp giảm mạnh áp lực chi phí đẩy đến lạm phát toàn cầu nhờ chuyển đổi sang một

thế giới hiệu quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn

Từ góc độ sản xuất, trong dài hạn, cuộc cách mạng công nghiệp lần này sẽ tác động hết sức tích cực Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu

dựa vào động lực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay chotăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn

Tuy nhiên cuộc cách mạng công nghệ này đang tạo ra những thách thức liên quan

đến những chi phí điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn do tác động không đồng đều

đến các ngành khác nhau: có những ngành sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và có những

ngành sẽ phải thu hẹp đáng kể Trong từng ngành, kể cả các ngành tăng trưởng, tác

động cũng có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, với sự xuất hiện và tăng trưởng

nhanh của nhiều doanh nghiệp tạo ra những công nghệ mới và sự thu hẹp, kể cả đào thải của các doanh nghiệp lạc nhịp về công nghệ.

Chính vì vậy mà Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang vẽ lại bản đồ kinh tế trên thế giới, với sự suy giảm quyền lực của các quốc gia dựa chủ yếu vào khai thác tài

nguyên và sự gia tăng sức mạnh của các quốc gia dựa chủ yếu vào công nghệ và đổimới sáng tạo:

* Nhiều quốc gia phát triển song chủ yếu dựa vào tài nguyên như Úc, Canada, Na Uyv.v… đang phải trải qua một quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhiều thách thức A rập Xê

út gần đây đã chính thức tuyên bố về kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi môhình tăng trưởng để giảm mạnh sự phụ thuộc vào dầu mỏ Trừ Ấn Độ, các nước còn lạitrong nhóm BRICS đang gặp nhiều thách thức do có nền kinh tế dựa nhiều vào tàinguyên khoáng sản

Trang 11

* Nước Mỹ – đầu tàu thế giới về công nghệ và dẫn dắt cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ tư đang khôi phục vị thế hàng đầu của mình trên bản đồ kinh tế thế giới.Các nướcĐông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình này,đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo Trung Quốc cũng là nước có thể sẽ đượchưởng lợi nhiều do sau nhiều năm xây dựng và củng cố khả năng áp dụng và hấp thụcông nghệ thông qua tăng trưởng xuất khẩu (kể cả bắt chước và sao chép) đã bắt đầubước vào giai đoạn tạo ra công nghệ với sự xuất hiện mạnh mẽ của một số tập đoànphát triển công nghệ hàng đầu thế giới Điều này giúp Trung Quốc giảm nhẹ được tácđộng của quá trình điều chỉnh đang diễn ra sau giai đoạn tăng trưởng nóng của thậpniên trước.

* Tại châu Âu, một số nước như Đức, Na Uy có thể tham gia và tận dụng được nhiều cơhội từ cuộc cách mạng công nghiệp mới Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế châu Âu khác tỏ

ra hụt hơi trong cuộc đua này cho dù có hệ thống nguồn nhân lực tốt, được lý giải mộtphần là do tinh thần và môi trường khởi nghiệp để thúc đẩy phát triển công nghệ mớikhông bằng so với Mỹ và các nước Đông Bắc Á

Bản đồ sức mạnh của các doanh nghiệp cũng đang được vẽ lại: các tập đoàn lớn

vang bóng một thời và thống lĩnh thị trường trong một giai đoạn dài đang bị các doanhnghiệp trẻ khởi nghiệp trong giai đoạn gần đây trong lĩnh vực công nghệ vượt mặt.Một

số ví dụ điển hình là:

(i) Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các công ty như Google, Facebook v.v… đangtăng trưởng nhanh, trong khi các công ty tiếng tăm khác như IBM, Microsoft, Cisco, Intel,hay một loạt các tập đoàn điện tử lớn của Nhật Bản đang phải trải qua một quá trình tái

cơ cấu đầy khó khăn Sự sụp đổ của các “ông lớn” như Nokia, hay trước đó là Kodakcho thấy nguy cơ “sai một ly đi một dặm” mà các công ty phải đối mặt trong cuộc cạnhtranh đã khốc liệt lại càng khốc liệt hơn trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệplần thứ tư đang diễn ra với tốc độ của “lũ quét”

(ii) Trong lĩnh vực chế tạo, các công ty ô tô truyền thốngđang chịu sức ép cạnh tranhquyết liệt từ các công ty mới nổi lên nhờ cách tiếp cận mới như Tesla đang đẩy mạnhsản xuất ô tô điện và tự lái, cũng như Google và Uber

(iii) Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, quá trình tái cơ cấu đang diễn ra trên diện rộngảnh hưởng đến việc làm của hàng triệu nhân viên trong 10 năm tới do ứng dụng ngânhàng trực tuyến di động, và sự cạnh tranh quyết liệt từ các doanh nghiệp khởi nghiệp từSilicon Valley cung cấp các dịch vụ tài chính rẻ hơn nhiều cho khách hàng nhờ ứngdụng điện toán đám mây Ngành bảo hiểm cũng đang chịu sức ép tái cơ cấu dưới tácđộng của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, và tương lai sụt giảm nhu cầu bảo hiểm xe cộkhi xe tự lái trở nên phổ biến trên thị trường

(iv) Cuộc cạnh tranh toàn cầu lại càng thêm khốc liệt với sự nhập cuộc của nhiều công ty

đa quốc gia siêu nhỏ, đang trở thành một xu hướng rõ nét nhờ hạ tầng thông tin Internetcho hiện thực và thương mại hóa một ý tưởng mới trên toàn cầu một cách nhanh chóng

do chi phí giao dịch giảm mạnh, giúp giảm đáng kể chi phí và qui mô nhập cuộc

Câu 10: Phân tích về chiến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 (Đại hội VI) – Đại hội được ví

là “Đại hội của sự đổi mới”, cột mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong quá trìnhphát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là chủtrương lớn được Đảng ta đề cập xuyên suốt trong các kì Đại hội, từ Đại hội VI đến Đại

Trang 12

hội XII nhằm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đưa Việt Nam từng bước, chủ độnghội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Cụ thể:

Đại hội VI, mở đầu cho thời kì đổi mới đất nước đã đưa ra chủ trương tranh thủ những

điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kĩ thuật, tham gia ngày càng rộng rãivào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng vớicác nước khác”

Đại hội VII, định hướng “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ

chức kinh tế quốc tế”

Đại hội VIII, mở ra chủ trương “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và

thế giới”

Đại hội IX, nhấn mạnh “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát

huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả họp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và địnhhướng xã hội chủ nghĩa” Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghịquyết số 07-NQ/TW “về hội nhập kinh tế quốc tế”

Đại hội X, nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng

thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” Ngày 05/02/2007, Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết so 08-NQ/TW “về một số chủ trương, chínhsách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổchức Thương mại thế giới”

Đại hội XI, đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kì phát triển mới, trong

đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Từ “hội nhậpkinh tế quốc tế” của các kì đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàndiện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta Ngày 10/4/2013, BộChính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “về hội nhập quốc tế” Đây là văn kiệnquan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàndân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế

sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn vớiyêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế

Đại hội XII, với chủ trương “Chủ động hội nhập, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường

quốc tế”, Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại đa phương với phương châmchuyển mạnh từ “tham gia tích cực” lên “chủ động đóng góp xây dựng”, qua đó gópphần quan trọng vào việc nâng cao vị thế quốc tế của đất nước

Thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Việt Nam đã hội nhậpngày càng sâu rộng, tham gia hầu hết các tổ chức, định chế quốc tế và khu vực chủ yếutrên thế giới

– Một số mốc son trong quả trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam có thể

kể đến như:

Gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995 Sự kiện này được coi là một bước đột phá về hànhđộng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Ngày 22/11/2015, các nhàlãnh đạo ASEAN đã kí Tuyên bố Kuala Lumpur chính thức thành lập Cộng đồng ASEAN,trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào ngày 31/12/2015 Việc tham gia ASEAN vàthực hiện các cam kết nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN sẽ đóng góp thiết thực choviệc góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cải thiện môi trường luật pháp trong

Trang 13

nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài,cũng như làm cơ sở, tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khuôn khổ hợp tác songphương và đa phương khác.

Trở thành thành viên sáng lập và là một thành viên tích cực của Diễn đàn Họp tác Á-Âu(ASEM) năm 1996

Được kết nạp vào Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm

1998 Việt Nam đã được đánh giá là một trong những thành viên năng động, đã có nhiềusáng kiến hợp tác và đóng góp tích cực cho các diễn đàn hợp tác quốc tế quan trọngnày

Gia nhập Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh – WTO vào tháng 01/2007, đánh dấu

sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thế giới Với việc gia nhập WTO, ViệtNam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, theohướng minh bạch và tự do hóa hơn

Hòa cùng với xu hướng thiết lập các khu vực thương mại tự do trên thế giới, tính đếntháng 7/2019, Việt Nam đã tham gia đàm phán, kí kết 16 FTA (trong đó 13 FTA đã kí kết– Các FTA đã kí kết gồm: ASEAN – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); ASEAN – Ắn Độ;ASEAN – Hàn Quốc; ASEAN – Hồng Kông (Trung Quốc); ASEAN – Nhật Bản; ASEAN –Trung Quốc; ASEAN – Australia, New Zealand; CPTPP (TPP 11); Việt Nam – Chi Lê;Việt Nam – Hàn Quốc; Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu; Việt Nam – Nhật Bản; Hiệpđịnh thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và 3 FTA chưa kí kết – Các FTA chưa kíkết gồm: Hiệp định Đối tác kinh tê toàn diện khu vực (RCEP) bắt đầu đàm phán từ ngày09/5/2013; Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA bắt đầu khởi độngđàm phán từ tháng 5/2012; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Israel bắt đầu khởiđộng đàm phán từ tháng 12/2015) với 56 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới, trong đó 6FTA do ta chủ động tham gia ngoài khuôn khổ nội khối ASEAN hoặc với nước đối táccủa ASEAN Điều này giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quátrình hội nhập kinh tế khu vực đem lại, đồng thời Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủhọp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, triển khai chiến lượchội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực châu Á – Thái BìnhDương nói riêng

– Một số thành tựu đạt được của nền kinh tế Việt Nam sau hơn 30 năm đối mới, mở cửa

và hội nhập kinh tế quốc tế:

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hơn 30 năm qua đã mở ra không gian phát triển mớicho nền kinh tế Việt Nam, mở rộng quan hệ hợp tác sâu, rộng với các quốc gia trongkhu vực và thế giới, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Điều này, tácđộng mạnh đến sự tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng caonăng lực sản xuất, mở rộng thị trường trong một số lĩnh vực cụ thể như: công nghiệp,thương mại, các ngành dịch vụ…; thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là chuyểndịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóatheo hướng hiện đại, theo đó tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo cógiá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn; thúc đẩy thương mại, tăngthu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và mở rộng quan hệ hợp tác phát triển (ODA)

Góp phàn tạo thêm việc làm, các ngành có tốc độ tăng việc làm cao nhất cũng là nhữngngành mở cửa nhanh hơn hoặc những ngành áp dụng công nghệ mới để cạnh tranh,tạo tài sản sản xuất và hạ tầng như công nghệ chế tạo, xây dựng, tài chính ngân hàng,khoa học công nghệ; tác động tích cực tới tiền lương và thu nhập của mọi tầng lóp cư

Trang 14

dân, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh (quốc gia, doanh nghiệp vàsản phẩm).

Tiếp thu được khoa học – công nghệ mới và kĩ năng quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực:Công nghiệp, nông nghiệp, kĩ thuật, văn hóa – xã hội… góp phần đào tạo cho Việt Nam

có được đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản lý

Góp phần hoàn thiện thể chế trong nước trên góc độ: pháp luật và tổ chức bộ máy, cùngvới nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy cải cách vàhoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hoàn thiện môi trường kinh doanh, gópphần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế nước ta trong dài hạn, tạo ra môitrường kinh doanh ngày càng bình đẳng, minh bạch, dễ dự đoán hơn và ngày càng phùhợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế…

Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khuvực, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặthàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn

Năm 2019 được coi là năm đạt nhiều kết quả ấn tượng Với tốc độ tăng trưởng kinh tế7,02% (năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng trên 7% kể từ năm 2017), quy mô nền kinh tế(GDP) đạt 262 tỉ USD, tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu cán mốc 516,96 tỉ USDtrong đó xuất siêu 9,9 tỉ USD, tổng số vốn FDI đăng kí cấp mới và vốn tăng thêm đạt 38

tỉ USD (với 3.883 dự án cấp mới), số lượng khách du lịch quốc tế đạt mức 18 triệu lượt(cao nhất từ trước tới nay)

– Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời gian tới:

Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, quá trìnhtoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh Các quốc gia tham gia ngàycàng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Xuất hiện nhiều hình thức liên kếtkinh tế mới, các định chế tài chính quốc tế, khu vực, các hiệp định song phương, đaphương thế hệ mới Trong khi đó, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trongCộng đồng Kinh tế ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệmới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước

Nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được trong hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổimới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hộidân chủ, công bằng, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiệnđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ

quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là

đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”?.

Trong cuộc đối thoại giữa Việt Nam và WEF tháng 12 năm 2021, Thủ tướng Chính

phủ Phạm Minh Chính chia sẻ thẳng thắn quan điểm về sự phối hợp, hợp tác giữaChính phủ, các tỉnh thành của Việt Nam với các nhà đầu tư và kinh doanh khu vực vàtoàn cầu Thủ tướng nhắc lại những thông điệp Thủ tướng đã từng chia sẻ với cácdoanh nghiệp, đó là tinh thần “Đồng cam cộng khổ”, “Lợi ích hài hòa, Rủi ro chia sẻ”,

“Hợp tác cùng thắng” (Win-win) giữa Chính phủ và doanh nghiệp trong giai đoạn hiệnnay Đặc biệt, Thủ tướng đã đưa ra thông điệp chính sách hết sức quan trọng, bao gồmcác biện pháp ngắn hạn và dài hạn, thể hiện cam kết và quyết tâm của Chính phủ ViệtNam trong việc cải cách, chuyển đổi nền kinh tế và kiến tạo các cơ hội mới cho nền kinh

Trang 15

tế Việt Nam, cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển theo hướng bềnvững, bao trùm và sáng tạo.

Câu 11: Hãy chỉ ra các lợi thế phát triển quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam và những giải pháp khai thác.

(ĐCSVN)- Tại Hội thảo khoa học “Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và pháthuy các nguồn lực của nền kinh tế” tổ chức chiều 13/12, đại diện cho Viện, các tập đoànkinh tế, doanh nghiệp… đã có nhiều ý kiến đóng góp, đề xuất nhiều giải pháp thiết thựcnhằm khai thác tối đa các nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bềnvững…

Dữ liệu – yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả các nguồn lực kinh tế

để chuẩn bị tốt dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế, cần hệ thống các giải pháp đồng bộ,trong đó trước mắt cần tập trung vào những giải pháp cơ bản như:Tham luận tại hộithảo, đồng chí Trần Minh Tân, chuyên gia cao cấp, Ban Công nghệ Thông tin, ViệnChiến lược Thông tin và Truyền thông nhấn mạnh: Trong mọi giai đoạn phát triển củamỗi quốc gia, việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tếđều cần phải có dữ liệu Phạm vi dữ liệu phục vụ cho phát triển kinh tế không chỉ đơnthuần là những số liệu thống kê, mà quan trọng hơn, còn là các dữ liệu phục vụ cho việcphân tích, dự báo, xây dựng các kế hoạch phát triển đất nước Thời điểm hiện tại, thànhtựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), chuyển đổi số đang dần được ápdụng trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và tác động sâu sắc tới hệ thống chính trị,

xã hội và kinh tế của các nước Ở trọng tâm của quá trình chuyển đổi số, dữ liệu tiếp tục

là đòn bẩy quan trọng, tạo động lực cho tăng trưởng và quản lý kinh tế của mỗi quốc gia

Thứ nhất: Kiến tạo thể chế, chính sách về dữ liệu.

Thứ hai, khai thác, sử dụng và tận dụng dữ liệu để kiến tạo phát triển kinh tế.

Thứ ba, thúc đẩy phát triển kinh tế dữ liệu và các doanh nghiệp dữ liệu.

Thứ tư, hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm và đào tạo nguồn nhân lực.

Ứng dụng cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong ngành ngân hàng

Khai thác hiệu quả tối đa nguồn nhân lực lao động

Với thực tế của Việt Nam hiện nay, chúng ta khó hình thành những sản phẩm đột phá vềcông nghệ so với thế giới nhưng chúng ta lại đang ở thời kỳ dân số vàng Vì vậy, khôngthể coi nhẹ ngành công nghiệp dệt may mà phải coi đây là ngành quan trọng trong vòngvài chục năm tới vì sử dụng được số lượng lớn lực lượng lao động tay nghề đào tạongắn hạn (dưới 3 tháng) nhưng lại có thu nhập cao hơn 2-3 lần lao động nông nghiệp.Vấn đề là phải tập trung đầu tư xây dựng công nghiệp dệt may đáp ứng được yêu cầucao của các hiệp định thương mại tự do mới là đi từ sợi để từng bước tham gia được cảvào 4 công đoạn: thiết kế – sản xuất nguyên liệu – gia công – phân phối của ngành côngnghiệp dệt – may trong vòng 20-30 năm tới, giúp giải quyết được việc làm cho một sốlượng lớn lao động nông nghiệp chuyển đổi nghề Do vậy, phải gắn phát triển côngnghiệp dệt – may với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, gắn với quátrình đô thị hóa nông thôn Việt Nam.Đồng chí Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoànDệt May Việt Nam cho rằng, với lĩnh vực Dệt May, quan niệm cho đây là một ngành giátrị gia tăng thấp, sử dụng nhiều lao động nhưng thu nhập cũng thấp là chưa chính xác

Trang 16

Nó mới chỉ xuất phát từ cách làm của chúng ta, chứ không phải là bức tranh chung củadệt may thế giới Vì trên thực tế hiện nay ngành dệt may vẫn tồn tại tại các nước pháttriển thu nhập gấp 10-15 lần Việt Nam như Pháp, Ý, Đức…cho các phân khúc cao cấp,hàng hiệu Nhưng tương đồng với Việt Nam là các quốc gia sản xuất quy mô lớn nhưTrung Quốc, Ấn Độ thì dệt may vẫn được xác định là ngành kinh tế trọng điểm…

Dệt may cùng các ngành thâm dụng lao động đảm bảo hài hòa phát triển kinh tế xã hộitheo mô hình tam giác phát triển: kinh tế – môi trường sống – an sinh phúc lợi xã hội.Trong đó chú trọng việc quy hoạch hạ tầng cho lao động sống ổn định cả về văn hoá –tinh thần – giáo dục

Trong quá trình phát triển kinh tế, tất yếu là chúng ta phải có tác động vào hệ cân bằngsinh thái – môi trường sống của con người Vấn đề là sau đó chúng ta ứng xử thế nào.Với dệt may, hiện nay vấn đề các địa phương lo ngại là nước thải khi sản xuất vải, tuynhiên không thể tiếp cận theo hướng có rủi ro thì không cho làm, mà nên quản trị rủi rotheo pháp luật Có quy định, có đánh giá cấp phép hoạt động và sẵn sàng đóng cửa nếu

vi phạm về mô trường Đảm bảo công bằng trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp tuânthủ và doanh nghiệp vi phạm

Phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW

Theo KS Lê Minh Chuẩn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Côngnghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản ViệtNam (TKV), với đặc thù là doanh nghiệp Nhà nước có nhiệm vụ khai thác nguồn lực tàinguyên, khoáng sản của đất nước và vai trò là một trong các trụ cột đảm bảo an ninhnăng lượng quốc gia, là công cụ để điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước càng có ýnghĩa quan trọng hơn Với tinh thần đó, Đảng uỷ TKV đã bám sát các mục tiêu và cácgiải pháp Nghị quyết 39 đã đề ra, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động và từngbước triển khai hiệu quả, vừa khắc phục những tồn tại mà Nghị quyết đưa ra, vừa pháttriển sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước, góp phần đảm bảo anninh năng lượng quốc gia

Trong những năm qua, Đảng uỷ TKV đã chủ động xây dựng nhiều Nghị quyết, Chươngtrình hành động tập trung lãnh chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, quản lý, khai thác,

sử dụng và phát huy nguồn lực về tài nguyên khoáng sản, trong đó nổi bật là cácchương trình trọng tâm như: Chương trình tái cơ cấu lại các doanh nghiệp; Chươngtrình cơ giới hóa, tự động hoá, tin học hoá; Chương trình nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh; Chương trình tái cơ cấu lực lượng lao động, xây dựng đội ngũ cán bộ… và

đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tính trong các năm gần đây, tốc độ tăngtrưởng tổng doanh thu bình quân 7,9%/năm; Năng suất lao động tăng 12%/năm; Thunhập bình quân của người lao động tăng 9,2%/năm…

Câu hỏi tự luận chương 2: Các học thuyết và nguyên tắc cơ bản trong quan hệ kinh tế quốc tế

Câu 12: Hãy nêu và đánh giá ưu, nhược điểm của các học thuyết cổ điển về thương mại quốc tế.

1 Học thuyết trọng thương

Ưu điểm

Trang 17

tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa trọng thương cho rằng cần phải duy trì trạng thái thặng

dư thương mại, tức là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu để mang lại lợi ích tốt nhất chomột nước

Nhược điểm

Nhược điểm của chủ nghĩa trọng thương là đã nhìn nhận thương mại như một trò chơi

có tổng bằng không (zero-sum game – nghĩa là lợi ích mà một nước thu được chínhbằng thiệt hại mà nước khác mất đi.) Hạn chế này đã được các lý thuyết của AdamSmith và David Ricardo ra đời sau đó chỉ rõ và khẳng định thương mại là một trò chơi cótổng lợi ích là số dương (positive-sum game –tất cả các nước đều thu được lợi ích.)

2 Học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

 Không giải thích được hiện tượng chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế

và thương mại Quốc tế sẽ xảy ra như thế nào đối với những nước không cólợi thế tuyệt đối nào

 Coi lao độnglà yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được sửdụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá

 Dùng lợi thế tuyệt đối chỉ có thể giải thích được một phần rất nhỏ trong mậudịch quốc tế ngày nay ví như giữa những nước phát triển và những nướcđang phát triển Lý thuyết này không thể giải thích được trong trường hợp mộtnước được coi là “tốt nhất” tức là quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối để sản xuấttất cả các sản phẩm hoặc một nước được coi là “kém nhất” tức là quốc gia đókhông có một sản phẩm nào có lợi thế tuyệt đối để sản xuất trong nước Trongnhững trường hợp đó, liệu các quốc gia có còn giao thương được với nhaunữa không và lợi ích mậu dịch sẽ nằm ở chỗ nào? hay lại áp dụng chính sách

 sản lượng tiềm năng của thế giới sẽ lớn hơn nhiều trong điều kiện thương mại

tự do không bị hạn chế (so với trong điều kiện hạn chế về thương mại) Lýthuyết của Ricardo gợi ý rằng người tiêu dùng ở tất cả các quốc gia sẽ đượctiêu dùng nhiều hơn nếu như không có hạn chế trong thương mại giữa cácnước

 So với lý thuyết về lợi thế tuyệt đối lý thuyết về lợi thế so sánh khẳng định mộtcách chắc chắn hơn nhiều rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích là

Trang 18

một số dương trong đó tất cả các nước tham gia đều thu được lợi ích kinh tế.Như vậy, lý thuyết này đã cung cấp một cơ sở hợp lý cho việc khuyến khích tự

do hóa thương mại và cho đến nay, lý thuyết của Ricardo vẫn chứng tỏ sứcthuyết phục khi thường được xem là vũ khí lập luận chủ yếu cho những ai ủng

hộ cho thương mại tự do

Nhược điểm

Kết luận về thương mại tự do mang lại lợi ích cho tất cả là một khẳng định còn nặng tínhchủ quann khi được rút ra từ một mô hình đơn giản như ở phần trên Mô hình đơn giản

đó đi kèm với nhiều giả thiết phi thực tế:

1 Giả thiết về một thế giới giản đơn trong đó chỉ có 2 quốc gia và 2 loại hànghóa trong khi đó trên thực tế, có rất nhiều quốc gia và vô số hàng hóa khácnhau

2 Giả thiết về chi phí vận tải bằng không giữa các quốc gia là sự bất hợp lý rõràng

3 Giả thiết về giá cả các nguồn lực sản xuất là ngang bằng nhau tại các quốcgia khác nhau cũng không có tính thực tiễn Đồng thời mô hình cũng chưa đềcập tới tỷ giá hối đoái, chỉ đơn giản giả định rằng cacao và gạo có thể trao đổivới nhau theo tỷ lệ 1:1

4 Giả thiết về các nguồn lực sản xuất có thể dễ dàng di chuyển giữa các ngànhsản xuất trong phạm vi một quốc gia là không phù hợp vì trên thực tế, trườnghợp đó không phải lúc nào cũng diễn ra

5 Giả thiết về hiệu suất không đổi theo quy mô, có nghĩa là việc chuyên môn hóatại Ghana và Hàn Quốc không ảnh hưởng tới số lượng nguồn lực cần thiết đểsản xuất ra 1 tấn cacao hay 1 tấn gạo Tuy nhiên, trên thực tế tồn tại cả haitrường hợp hiệu suất tăng dần và hiệu suất giảm dần theo mức độ chuyênmôn hóa Khối lượng nguồn lực đòi hỏi để sản xuất một mặt hàng có thể tănghoặc giảm khi một nước chuyên môn hóa vào sản xuất mặt hàng đó

6 Giả thiết rằng mỗi nước có một lượng nguồn lực sản xuất không đổi vàthương mại tự do không thay đổi hiệu quả sử dụng các nguồn lực của từngnước cũng là một hạn chế Bởi vì giả thiết mang tính tĩnh này không cho phépnhững thay đổi về số lượng nguồn lực sản xuất của một nước cũng nhưnhững thay đổi về tính hiệu quả một nước sử dụng các nguồn lực của mìnhkhi thương mại tự do diễn ra

7 Mô hình cũng đã đưa ra giả thiết cho rằng không có tác động của thương mạilên sự phân phối thu nhập trong phạm vi một nước

Câu 13: Hãy nêu và đánh giá ưu, nhược điểm của học thuyết tân cổ điển về thương mại quốc tế.

1 Bối cảnh ra đời của học thuyết Heckscher – Ohlin (H – O)

Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) đã đưa ra cách giải thíchkhác về lợi thế so sánh, chứng tỏ lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trongmức độ sẵn có các yếu tố sản xuất Học thuyết của hai ông xây dựng được gọi là họcthuyết Heckscher – Ohlin (H – O)

2 Đánh giá ưu nhược điểm

Trang 19

Ưu điểm thuyết H – O

Thuyết H – O đã góp phần lý giải thêm nhiều hiện tượng của quan hệ thương mại quốc

tế và được đánh giá là một trong các học thuyết có mức độ ảnh hưởng lớn trong kinh tếhọc quốc tế, góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của nền kinh tếthị trường

So với thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, thuyết H – o đã chứng tỏ rằng lợi thế sosánh của một quốc gia không chỉ dựa trên sự khác biệt về năng suất lao động, mà rộnghơn, nó dựa trên sự khác biệt trong mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất (lưu ý rằng, mức

độ sẵn có ở đây là tương đối, một nước không thể dồi dào ở tất cả các yếu tố sản xuất,

mà có thể chỉ là một, hai yếu tố, còn lại lại thuộc về nước khác)

Chỉ với những giả thiết đơn giản và dựa trên khái niệm về mức độ dồi dào của các yếu

tố sản xuất, thuyết này không chỉ cho phép đưa ra dự đoán về cơ cấu sản xuất vàthương mại của các quốc gia, mà còn giúp cho việc nghiên cứu một loạt các vấn đề liênquan đến giá cả các yếu tố sản xuất, tác động của sự tăng trưởng các yếu tố sản xuấtđến quy mô sản xuất và thương mại

Học thuyết tạo tiền đề cho các học thuyết mới sau này ra đời tiếp tục giải thích về mộtnền thương mại quốc tế hiện đại

Nhược điểm thuyết H – O

– Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX, địa vị của thuyết H – o đã gặp phải những tháchthức nghiêm trọng, khi kết quả của các công trình kiểm chứng thực tế của thuyết nàythường bị bóp méo bởi các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường, mà điển hình là côngtrình của nhà kinh tế Mỹ Wassily Leontief (người đạt giải Nobel kinh tế năm 1973) –thường được biết đến với tên gọi ngịch lý Leontief

Nội dung chính của nghịch lí Leontief:

Trong những năm 50 của thế kỉ XX, Mỹ là nước giàu và dồi dào về vốn nhất thế giới.Nhưng nghiên cứu của Leontief đã chỉ ra rằng, các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ ít sửdụng về vốn horn là các mặt hàng nhập khẩu Điều này trái ngược với dự báo của thuyết

H – o Kết quả nghiên cứu trên được gọi là nghịch lý Leontief

Đã có nhiều nỗ lực để giải thích nghịch lý Leontief, nhưng cho đến nay chưa có cách giảithích hoàn toàn nào được chấp nhận, do đó nghịch lý Leontief vẫn tiếp tục tồn tại vàthách đố các nhà kinh tế Một số cách lý giải cho nghịch lý Leontief:

+ Sai lầm đo lường Leontief chỉ xem xét đến vốn vật chất, nhưng có thể Mỹ dồi dào nhất

về vốn con người

+ Chính sách bảo hộ thương mại Có thể Mỹ đã áp đặt rào cản thương mại lên các mặthàng nhập khẩu sử dụng nhiều lao động, còn các mặt hàng sử dụng nhiều vốn thìkhông, nên các mặt hàng thâm dụng vốn này được nhập khẩu dễ dàng hơn

+ Năng suất lao động của công nhân Mỹ Có thể công nhân Mỹ có năng suất lao độngcao hơn nhiều so với công nhân các nước khác, nên về thực chất Mỹ là nước dồi dào vềlao động, không phải dồi dào về vốn

Trang 20

Nghịch lý có thể xảy ra nếu có sự đảo ngược mức độ sử dụng các yếu tố giữa các

nước, ví dụ như sản xuất gạo ở Mỹ sử dụng nhiều về vốn, trong khi đó lại sử dụng nhiều

lao động tại Việt Nam

+ Thương mại giữa các nước công nghiệp phát triển Ngày nay, già nửa thương mạiquốc tế diễn ra giữa các quốc gia công nghiệp phát triển – những nước được coi là cómức độ trang bị các yếu tố sản xuất tương đối giống nhau Do đó, mâu thuẫn với giảđịnh của lý thuyết H – o, theo đó mức độ trang bị các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia

là khác nhau

– Ngoài ra, một giả định quan trọng của thuyết H – o là công nghệ sản xuất tại các quốcgia là giống nhau Điều này không sát với thực tế hiện nay Bởi các nước công nghiệpphát triển thường có công nghệ phát triển hơn các nước đang và kém phát triển Nhữngkhác biệt về công nghệ có thể dẫn tới sự khác biệt về năng suất lao động – yếu tố quantrọng trong trao đổi thương mại quốc tế

Câu 14: Hãy nêu nội dung và đánh giá các học thuyết mới về thương mại quốc tế.

Hạn chế của học thuyết H – o đã dẫn tới sự ra đời của nhiều học thuyết mới từ những năm 50 của thế kỉ XX, nhằm giải thích thực tiễn thương mại quốc tế một cách đầy đủ và thoả đáng hơn, phù hợp hơn với nềíi thương mại quốc tế hiện đại.

Tuỳ theo cách tiếp cận mà các học thuyết mới về thương mại quốc tế có thể chia thành các nhóm chính: học thuyết gắn với kinh tế quy mô, học thuyết liên quan đến sự biến đổicông nghệ, học thuyết liên quan đến cầu, học thuyết liên quan đến chi phí vận chuyển, học thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia

1 Học thuyết găn với kinh tế quy mô

Khi thương mại quốc tế diễn ra giúp mở rộng thị trường, từ đó giúp các công ti cũng nhưngười tiêu dùng trở thành một phần của thị trường rộng lớn hơn Mỗi nước có thể tập trung vào sản xuất nhiều hơn một số sản phẩm khác biệt, rồi đem trao đổi lấy những sảnphẩm khác biệt khác từ các nước bạn hàng Kết quả là các nước tham gia buôn bán đều

có lợi

Người được ví là “cha đẻ” của trường phái “Học thuyết thương mại mới” – Paul

Krugman (sinh năm 1953, người Mỹ), năm 1979 (khi mới 26 tuổi) đã đưa ra học thuyết mới về thương mại so với các học thuyết trước đó Thuyết này giải thích quan hệ

thương mại nội bộ ngành dựa trên lợi thế nhờ quy mô, theo đó việc sản xuất hên quy môlớn làm giảm chi phí sản xuất, do quá trình chuyên môn hóa đưa lại Trong học thuyết của mình, Paul Krugman dựa trên giả định người tiêu dùng quan tâm tới tính đa dạng sản phẩm

Học thuyết của Paul Krugman giải thích tại sao trao đổi hai chiều vẫn có thể diễn ra giữanhững nước mà hàng hóa của họ không phải mang tính bổ trợ nhau, mà lại là những hàng hóa tương tự nhau (thương mại nội ngành) với sự tương đồng nhau về công nghệ

và nhân tố sản xuất Ví dụ, trong ngành công nghiệp sản xuất xe ô tô, cả Nhật Bản và

Mỹ đều có lợi thế về vốn và công nghệ, tuy nhiên, hãng Toyota của Nhật Bản tập trung vào thị trường xe dã ngoại (như Land Cruiser), trong khi hãng Ford của Mỹ lại chuyên sản xuất xe gia đình đi đường trường (như Escape) Cả hai sẽ có lợi hơn nếu từng bên

Trang 21

tập trung vào chỉ một ngách hẹp mà nó đạt được hiệu quả cao nhất về quy mô Và cùng bán ra những sản phẩm tương tự nhau, nhưng đáp ứng thị hiếu của những lóp người tiêu dùng khác nhau (thể hiện việc người tiêu dùng quan tâm tới tính đa dạng của sản phẩm trong cùng một ngành).

Việc giảm chi phí sản xuất nhờ quy mô, do quá trình chuyên môn hóa đưa lại có thể được thể hiện cụ thể hơn thông qua ví dụ về tổ chức sản xuất theo mạng lưới toàn cầu

của các tập đoàn lớn Ví dụ, trong tổ chức sản xuất theo mạng lưới toàn cầu của tập

đoàn Toyota (Nhật Bản), các công ti con của Toyota được tổ chức theo chuyên môn hóasản xuất Mỗi đơn vị tập trung vào sản xuất chỉ một vài linh kiện, mà nó làm hiệu quả nhất Như vỏ xe ô tô có thể được sản xuất bởi Toyota Motor Malaysia; lốp xe được cungcấp bởi Toyota Motor Thái Lan…, tuân theo cùng một tiêu chuẩn quốc tế của tập đoàn Toyota Và những thiết bị này được xuất khẩu tới các công ti con khác, để rồi được ghépgộp lại thành sản phẩm của những dòng xe Toyota bán đi trên khắp các thị trường thế giới Sự phối hợp như vậy hiệu quả hơn rất nhiều so với việc mỗi đơn vị của Toyota tự sản xuất ra mọi thiết bị mà nó cần

Học thuyết của Paul Krugman được đánh giá là điểm sáng của kinh tế học hiện đại, khi

có cách tiếp cận hoàn toàn mới so với các học thuyết cổ điển và tân cổ điển Cùng với thời gian, sự khác biệt về trình độ công nghệ, vốn, kĩ thuật… của các nước công nghiệp phát triển đang dần được thu hẹp Lợi thế so sánh trong nội bộ ngành công nghiệp thường không rõ rệt, do vậy, lợi thế kinh tế nhờ quy mô đã thúc đẩy quá trình thương mại quốc tế được tiến hành dưới dạng trao đổi hai chiều trong nội bộ các ngành, quá trình trao đổi thương mại hai chiều không chỉ mang tính bổ trợ nhau mà đó là những hàng hóa tương tự nhau, nhưng lại đáp ứng được thị hiếu của những người tiêu dùng khác nhau Ngoài ra, thuyết này cũng đã chỉ ra, lợi thế quy mô của các công ti tổ chức sản xuất ở phạm vi toàn cầu cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thương mại quốc tế

Kinh tế quy mô có thể gắn liền với tình trạng độc quyền và độc quyền nhóm khi một hoặcnhóm các công ti có thị trường tiêu thụ rộng, có khả năng mở rộng quy mô sản xuất ở nhiều nước, họ lớn mạnh lên và có khả năng thống trị một phần thị trường Các công ti này, với quy mô đủ lớn của mình, có thể tác động đến mức giá trên thị trường (thường

áp đặt ở mức giá cao) và thu lại lợi nhuận kinh tế cao Quốc gia, nơi có công ti độc quyền tổ chức sản xuất, thường cũng thu được phúc lợi xã hội cao, khi giúp giải quyết việc làm cho người dân và thu được tiền thuế từ các công ti này Do đó, chính phủ các nước thường đưa ra những chính sách có lợi nhằm thu hút và tác động đến quyết định lựa chọn địa điểm tổ chức sản xuất của công ti độc quyền tại chính quốc gia mình

2 Học thuyết liên quan đến sự biến đổi công nghệ

Trong học thuyết của David Ricardo (nhà kinh tế học người Anh), thưong mại hình thành

do có sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia Sự khác biệt về năng suất lao động đó có thể là kết quả của sự khác biệt về công nghệ sản xuất Còn mô hình thương mại của H – o, công nghệ được giả định là giống nhau giữa các quốc gia, tức công nghệ được xem xét ở trạng thái tĩnh

về thực chất, các học thuyết thương mại liên quan đến công nghệ cũng theo đuổi cách tiếp cận của David Ricardo, nhưng điểm khác là trong các học thuyết đó sự khác biệt về công nghệ không phải là tĩnh, tồn tại mãi mãi, mà đó chỉ là hiện tượng tạm thời, gắn liền với một quá trình động và liên tục phát triển của thương mại quốc tế

Ngày đăng: 20/01/2022, 13:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w