1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHAN TNG XA HI VA DI DNG XA HI VI

109 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, áp dụng sự phân nhóm dựa vào nghề nghiệp và xếp hạng cao thấp theo một số chỉ báo địa vị kinh tế-xã hội, ta có được cấu trúc thứ bậc

Trang 2

Đỗ Thiên Kính

PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ DI ĐỘNG XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hà Nội - 2017

Trang 3

Mục lục

Lời giới thiệu 7

Chương I – KHÁI LƯỢC VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ DI ĐỘNG XÃ HỘI 10

Đề dẫn 10

1 Tìm hiểu phân tầng xã hội 13

2 Phương pháp đo lường phổ biến các tầng lớp xã hội 23

3 Di động xã hội 26

4 Đo lường di động xã hội 32

5 Khái quát về phân tầng xã hội ở Việt Nam từ truyền thống đến trước đổi mới 43

6 Một số vấn đề đặt ra từ tổng quan nghiên cứu giai tầng trong thời kỳ đổi mới 48

Chương II – THỰC TRẠNG VÀ XU HƯ ỚNG BIẾN ĐỔI MÔ HÌNH PHÂN TẦNG XÃ H Ộ I 54

1 Cơ sở số liệu 54

2 Phương pháp nghiên cứu 57

3 Địa vị kinh tế - xã hội cao thấp giữa các tầng lớp xã hội 63

4 Mô hình phân tầng xã hội có hình dạng “kim tự tháp” trong cả nước và hình “quả trám” ở khu vực đô thị 66

5 Tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các tầng lớp xã hội 69

Chương III – DI ĐỘNG XÃ HỘI GIỮA CÁC TẦNG LỚP 78

1 Di động xã hội trong cả nước và xu hướng biến đổi của nó 78

2 Nguyên nhân của di động xã hội 91

Chương IV – KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐẶT RA 94

1 Kết luận 94

2 Một số vấn đề cơ bản đặt ra 96

3 Khuyến nghị định hướng cho phát triển xã hội 100

Phụ lục……… 103

Tài liệu trích dẫn 104

Trang 5

Các bảng

Bảng 1 1 Các loại tài sản, nguồn lực và nguồn lợi quy định hệ thống phân tầng xã

hội 14

Bảng 1 2 Tóm tắt một số cách tiếp cận đo lường các tầng lớp xã hội 24

Bảng 1 3 Đo lường di động xã hội từ thế hệ cha sang thế hệ con 33

Bảng 1 4 Các thông số và đặc trưng cơ bản về những hệ thống phân tầng xã hội điển hình trên thế giới 40

Bảng 1 5 Những nét đại cương về phân tầng xã hội ở Việt Nam từ truyền thống đến trước đổi mới 43

Bảng 2 1 Điểm số uy tín các nhóm nghề nghiệp ở Hà Nội, Bắc Ninh (2010) và Đông Nam Bộ (2015) 55

Bảng 2 2 Điểm số trung bình về uy tín nghề nghiệp ở 55 nước trên thế giới 56

Bảng 2 3 48 lĩnh vực nghề nghiệp ở Việt Nam (mã số nghề cấp II, gồm 2 chữ số) 60

Bảng 2 4 Một số chỉ báo về địa vị kinh tế - xã hội của các tầng lớp ở Việt Nam (2010~2014) 63

Bảng 2 5 Địa vị kinh tế - xã hội của đảng viên và người ngoài đảng (2014) 64

Bảng 2 6 Tỉ lệ dân số các tầng lớp xã hội ở Việt Nam (2002~2014) 66

Bảng 2 7 Tỉ lệ dân số các tầng lớp xã hội ở khu vực nông thôn và đô thị (2002, 2014) 67

Bảng 2 8 Trị giá chỗ ở chính và khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp xã hội (2002~2014) 71

Bảng 2 9 Các tầng lớp xã hội sống trong loại nhà ở nào (2014) 72

Bảng 2 10 Tỉ lệ các tầng lớp xã hội có mảnh đất ở, hoặc nhà ở khác (2002~2014) 74

Bảng 2 11 So với 5 năm trước, cuộc sống gia đình ông/bà có được cải thiện hơn không? 77

Bảng 3 1 Ma trận dịch chuyển cá nhân giữa các tầng lớp xã hội (2002-2004) 79

Bảng 3 2 Ma trận dịch chuyển cá nhân giữa các tầng lớp xã hội (2004-2006) 79

Bảng 3 3 Ma trận dịch chuyển cá nhân giữa các tầng lớp xã hội (2006-2008) 80

Bảng 3 4 Ma trận dịch chuyển cá nhân giữa các tầng lớp xã hội (2010-2012) 80

Bảng 3 5 Ma trận dịch chuyển cá nhân giữa các tầng lớp xã hội (2012-2014) 80

Bảng 3 6 Di động đi ra từ nghề nghiệp trước đây đến các nghề nghiệp hiện tại 81

Bảng 3 7 Di động đi vào nghề nghiệp hiện tại từ các nghề nghiệp trước đây 83

Bảng 3 8 Di động đi ra và di động đi vào của ba giai tầng xã hội 85

Bảng 3 9 Các chỉ số về di động xã hội qua khảo sát VHLSS (2002~2014) 86

Bảng 3 10 Tỉ lệ % khác nhau giữa hai mép lề trong các bảng ma trận di động xã hội 88

Bảng 3 11 Các chỉ số về di động xã hội ở Nhật Bản 91

Trang 6

Các hình

Hình 1 1 Mô hình cơ bản về quy trình phân tầng xã hội 28

Hình 1 2 Mô hình đạt được địa vị của di động xã hội 31

Hình 1 3 Vị trí các đẳng cấp trong hành lang quán Giá (năm 1937) 45

Hình 1 4 Mô hình “2 giai, 1 tầng” (hoặc nhiều tầng) đang thay đổi theo thời gian 53

Hình 2 1 Địa vị kinh tế - xã hội của các tầng lớp ở Việt Nam (2014) 64

Hình 2 2 Sơ đồ 3 tầng lớp xã hội (cao, trung lưu, thấp) ở Việt Nam 65

Hình 2 3 Mô hình các tầng lớp xã hội ở Việt Nam (2002~2014) 67

Hình 2 4 Mô hình các tầng lớp xã hội ở nông thôn và đô thị (2002, 2014) 68

Hình 2 5 Bất bình đẳng giữa các tầng lớp xã hội qua trị giá chỗ ở chính (2002~2014) 71

Hình 2 6 Các tầng lớp xã hội sống trong loại nhà ở nào (2014) 72

Hình 2 7 Tỉ lệ các tầng lớp xã hội có mảnh đất ở, hoặc nhà ở khác (2002~2014) 74 Hình 2 8 Diện tích đất trồng trọt do các hộ gia đình ở nông thôn quản lý và sử dụng 75

Hộp Hộp 1 1 Mô hình 5 giai cấp cơ bản trong xã hội công nghiệp trên thế giới 12

Trang 7

Lời giới thiệu

Ở Việt Nam, nhiều người nghiên cứu phân tầng xã hội từ đầu những năm

1990 cho đến hiện nay, nhưng chưa có ai tìm hiểu chủ đề này như các nhà xã hội học trên thế giới thường nghiên cứu về nó Điều này thể hiện sự lạc hậu trong nghiên cứu phân tầng xã hội ở Việt Nam so với quốc tế và đã thôi thúc tôi viết cuốn sách này Cuốn sách là kết quả tích lũy kiến thức nghiên cứu trong nhiều năm của tác giả và kế thừa trực tiếp từ công trình nghiên cứu trước đây của mình (Đỗ Thiên Kính, 2012) Cuốn sách trình bày những nội dung về lý thuyết và thực nghiệm phân tầng xã hội, di động xã hội trong cả nước theo hướng hội nhập với quốc tế trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Nhưng, đó cũng chỉ là những nội dung thiết thực trước mắt đối với tình trạng nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay

mà thôi Trong đó, riêng nội dung về di động xã hội có rất ít người nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam thấu hiểu theo nghĩa là có thể đo lường di động xã hội như thế nào Chi tiết hơn, xin giới thiệu những nội dung cụ thể được đề cập trong bốn chương của cuốn sách

Chương I trình bày và tìm hiểu một số nội dung khái lược về lý thuyết phân tầng xã hội và di động xã hội Trong đó, phương pháp đo lường phổ biến các tầng lớp xã hội và đo lường di động xã hội chắc là mới lạ đối với đa số người nghiên cứu

ở Việt Nam Đồng thời, chương này cũng tìm hiểu một số nét khái quát về phân tầng xã hội ở Việt Nam từ truyền thống đến trước đổi mới Kết quả nghiên cứu cho

thấy cấu trúc xã hội Việt Nam truyền thống “Vua-quan-địa chủ – Sĩ – Nông – Công

– Thương” đã thể hiện lý thuyết phân tầng xã hội của xã hội học quốc tế Từ lý

thuyết xã hội học đã đặt ra một số vấn đề cho nghiên cứu phân tầng xã hội và di động xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Tiêu chuẩn phân chia các tầng lớp

xã hội là gì? Hệ thống phân tầng xã hội bao gồm những tầng lớp nào? Sắp xếp thứ bậc các tầng lớp xã hội như thế nào? Mô hình tổng thể các tầng lớp xã hội có hình dạng gì? Di động xã hội giữa các tầng lớp ra sao? Những vấn đề đặt ra này sẽ được

đề cập và giải quyết trong Chương II và Chương III tiếp theo Hai chương này trình bày sự vận dụng lý thuyết từ Chương I vào thực nghiệm về phân tầng xã hội và di động xã hội ở Việt Nam (dựa trên cơ sở phân tích các bộ số liệu Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam)

Chương II trình bày về mô hình phân tầng xã hội giữa các giai tầng Kết quả

nghiên cứu cho thấy bức tranh khác hẳn với quan điểm “hai giai [cấp] một tầng

[lớp]” tồn tại từ thời quan liêu bao cấp cho đến hiện nay Cụ thể là, đa số các nhà xã

hội học quốc tế đã dựa vào nghề nghiệp để phân nhóm và xếp hạng theo tôn ti trật

tự trên dưới thành các tầng lớp xã hội Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, áp dụng sự phân nhóm dựa vào nghề nghiệp và xếp hạng cao thấp theo

một số chỉ báo địa vị kinh tế-xã hội, ta có được cấu trúc thứ bậc từ trên xuống dưới bao gồm 9 tầng lớp xã hội cơ bản trong cả nước Đó là (1) Những người Lãnh đạo

các cấp và các ngành; (2) Nhóm Doanh nhân; (3) Những người Chuyên môn bậc cao; (4) Những người Nhân viên; (5) Những người Công nhân (thợ thuyền); (6)

Tầng lớp Buôn bán – Dịch vụ; (7) Những người Tiểu thủ công nghiệp; (8) Những

Trang 8

người Lao động giản đơn; (9) Tầng lớp Nông dân Các tầng lớp này tạo thành mô

hình phân tầng xã hội có hình dạng “kim tự tháp” với đa số nông dân ở dưới đáy

Đây là mô hình phân tầng hai cực thể hiện sự bất bình đẳng xã hội thuộc loại cao

Khi so sánh trở lại với xã hội Việt Nam truyền thống trong lịch sử, thì trật tự/thứ bậc giữa các tầng lớp xã hội hiện nay đã có sự thay đổi Tầng lớp thợ thủ công và tiểu thương (“con buôn”) trước kia được xếp ở vị trí cuối cùng trong xã hội (Vua-quan-địa chủ – Sĩ – Nông – Công – Thương), thì hiện nay hai tầng lớp này đã

có vị trí cao hơn Trong khi đó, tầng lớp nông dân chuyển xuống vị trí phía dưới trong bậc thang xã hội Riêng tầng lớp Sĩ/trí thức (trung lưu bậc trên) vẫn giữ địa vị cao từ trong xã hội truyền thống ngày xưa cho đến hiện nay Ấy thế mà, tư duy lý luận chủ quan thời bao cấp (và vẫn còn ảnh hưởng đến hiện nay) lại xếp tầng lớp trí thức ở vào vị trí cuối cùng trong xã hội: “Công – Nông – Binh – Trí sắp hàng tiến lên”

Chương III trình bày về di động xã hội giữa các giai tầng Kết quả nghiên cứu cho thấy sự di động giữa các tầng lớp xã hội có tăng lên nhưng còn chậm chạp Thực trạng di động xã hội này đã phản ánh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng chậm chạp không kém Đặc biệt là, sự di động ra khỏi tầng lớp nông dân còn chậm chạp và quá trình rút bớt lao động nông nghiệp ở Việt Nam để chuyển sang phi nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn Đối với nguyên nhân gây ra sự di động xã hội giữa các giai tầng ở Việt Nam cho thấy rằng nguyên nhân phi cấu trúc là chính, còn nguyên nhân thuộc về cấu trúc chiếm phần nhỏ Chỉ khi nào nguyên nhân tạo nên

sự di động xã hội thuộc về cấu trúc (tức là chủ yếu do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế) thì khi ấy sự thay đổi của cấu trúc xã hội mới là căn bản Nhìn vào Việt Nam thì nước ta chưa đạt tới điều này Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở Chương II và Chương III đã đặt ra một số vấn đề từ thực tiễn xã hội Việt Nam Một số vấn đề đặt

ra này được trình bày ở Chương IV tiếp theo

Chương IV trình bày sự cần thiết phải thay đổi nhận thức lý luận về giai cấp công nhân Trước hết, phải thay đổi nhận thức về các thành phần của giai cấp công nhân Tiếp theo, phải thay đổi nhận thức về thứ bậc giữa các tầng lớp và tầng lớp nào lãnh đạo xã hội Cuối cùng, trên cơ sở thực trạng tầng lớp trung lưu còn nhỏ bé

và tầng lớp nông dân rất đông đảo, một vấn đề cơ bản đặt ra là khi nào Việt Nam trở thành nước công nghiệp? Cuốn sách nghiêng về dự báo Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2040 với tầng lớp nông dân sẽ thu hẹp lại và tầng lớp trung lưu mở rộng sẽ chiếm tỉ lệ đông đảo Mô hình xã hội có tầng lớp trung lưu đông đảo sẽ ít phân cực hơn Đến khi ấy, xã hội Việt Nam mới thực sự trở thành nước công nghiệp Cũng đến lúc ấy, tầng lớp nông dân đông đảo ở đáy kim tự tháp mới bị thu hẹp căn bản và chuyển dịch đi lên các tầng lớp trung lưu Khi mô hình

xã hội trung lưu có dạng “quả trám” trở thành hiện thực, thì nó sẽ thay thế cho mô hình “kim tự tháp” hiện nay ở Việt Nam

Tôi hy vọng rằng, công trình này sẽ là những viên gạch xây dựng nền móng cho nghiên cứu phân tầng xã hội Việt Nam trong tương lai Cuốn sách này có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy và tham khảo để nghiên cứu đối với ai quan

Trang 9

tâm đến lĩnh vực phân tầng xã hội ở Việt Nam Nhân dịp cuốn sách xuất bản, tác giả chân thành cám ơn Viện Xã hội học và Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và xuất bản cuốn sách này Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của độc giả về công trình này để những

nghiên cứu tương tự trong tương lai được tốt hơn

Tác giả

Đỗ Thiên Kính

Email: kinhdt@gmail.com

Trang 10

Chương I – KHÁI LƯỢC VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ DI

ĐỘNG XÃ HỘI

Đề dẫn

Các khái niệm giai cấp, tầng lớp, hoặc giai tầng trong công trình nghiên cứu

này có nghĩa nội dung tương tự nhau Để hiểu phân tầng trong xã hội công nghiệp hiện nay, cần phải hiểu phân tầng xã hội trong lịch sử Các hệ thống phân tầng đương đại khác biệt đáng kể với các hệ thống phân tầng cơ bản trong lịch sử

Chế độ chiếm hữu nô lệ (slavery) là một dạng thức cực đoan của phân tầng

xã hội dựa trên một chiều cạnh kinh tế chủ yếu là sở hữu con người (Kerbo, 2000:523) Trong xã hội đó, con người được phân chia thành hai loại (chủ nô và nô lệ) dựa trên sở hữu của một số người đối với những người khác được coi như là tài sản của họ Chủ nô chiếm hữu nô lệ như là một thứ tư liệu sản xuất (TLSX) Mối

quan hệ giữa chủ nô và nô lệ như vậy được pháp luật thừa nhận Hệ thống đẳng cấp

(caste) là một dạng thức phân tầng xã hội khép kín dựa trên cơ sở thứ bậc địa vị và

sự quy gán sẵn nghiêm ngặt (Kerbo, 2000:518) Trong đó, địa vị xã hội của cá nhân được xác lập ngay từ khi sinh ra và không thể thay đổi Địa vị này được trao truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác (cha truyền con nối) Giữa các đẳng cấp được xếp hạng theo tôn ti trật tự trên dưới và có ranh giới phân chia cứng nhắc Các đẳng cấp

là khép kín và đẳng cấp dưới không thể di động lên đẳng cấp trên Những thành

viên thuộc các đẳng cấp khác nhau không được kết hôn với nhau Chế độ phong

kiến châu Âu (estates) là một dạng thức phân tầng trong xã hội nông nghiệp dựa

trên sở hữu đất đai với mức độ cao về quy gán sẵn (Kerbo, 2000:520) Các tầng lớp được phân chia dựa trên cơ sở về sở hữu ruộng đất có quyền thừa kế và được thiết lập bởi pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi tầng lớp Các tầng lớp là khép kín, có ranh giới phân chia riêng biệt và tầng lớp dưới rất khó có thể di động lên tầng lớp trên

Hệ thống giai cấp (class system) là một hệ thống phân tầng mở trong xã hội

công nghiệp Nó chủ yếu dựa trên cơ sở địa vị kinh tế (và cũng dựa trên địa vị quyền lực trong mức độ nhất định) và bao gồm sự kết hợp của quy gán sẵn và giành đạt được (Kerbo, 2000:519) Mặc dù giai cấp là khái niệm được sử dụng thường xuyên nhất trong xã hội học, nhưng vẫn chưa có sự tán thành rõ ràng trong việc đưa

ra định nghĩa tốt nhất về khái niệm này như thế nào Đối với K Marx, giai cấp bao gồm những người ở vị trí có mối quan hệ cùng nhau đối với tư liệu sản xuất và mối quan hệ giữa các giai cấp là quan hệ bóc lột M Weber cũng nhìn giai cấp như một phạm trù kinh tế, nhưng ông nhấn mạnh sự tương tác của nó với địa vị xã hội và đảng phái (Giddens, 2001:284, 684) M Weber còn đưa ra khái niệm cơ hội cuộc đời (life chances) là cách tốt nhất để hiểu nghĩa giai cấp là gì Cơ hội cuộc đời có nghĩa là những cơ hội của một người để nhằm đạt được sự thịnh vượng về kinh tế (Giddens, Anthony and Mitchell Duneier, 2000:148, 542) Hoặc, “một trong những định nghĩa chung nhất, phổ biến nhất về giai cấp là nhóm người có địa vị tương tự nhau, có lợi ích kinh tế và chính trị cũng tương tự nhau trong hệ thống phân tầng

Trang 11

Theo Max Weber, giai cấp là một chiều cạnh của phân tầng xã hội dựa trên sở hữu tài sản (hoặc không sở hữu) – như lý thuyết Macxit, và cũng dựa trên trình độ kỹ năng nghề nghiệp” (Kerbo, 2000:519) Cũng theo cách diễn đạt của Harold R Kerbo, sự phân chia giai cấp dựa trên cơ sở ba tiêu chuẩn chủ yếu: (1) Vị trí của

một cá nhân trong cấu trúc nghề nghiệp; (2) Vị trí của một cá nhân trong các cấu

trúc quyền hành (có bao nhiêu người phải tuân theo lệnh đối với bao nhiêu cá nhân

đưa ra lệnh); (3) Sở hữu tài sản của một cá nhân (hoặc cụ thể hơn là sở hữu TLSX,

vốn) – có thể gọi đó là cấu trúc tài sản Trong đó, cấu trúc nghề nghiệp là dạng thức

phân tầng dễ nhận thấy phổ biến nhất (trong sự tương phản với các quan hệ tài sản

và khác biệt quyền lực), bởi vì hầu hết mọi người trong các xã hội công nghiệp đều phụ thuộc vào thu nhập từ nghề nghiệp (Kerbo, 2000:12, 125) Có lẽ do vậy mà thời gian gần đây, các nhà khoa học xã hội đã sử dụng rộng rãi nghề nghiệp như là chỉ báo giai cấp xã hội Những người khác thì nhấn mạnh đến sở hữu tài sản và của cải, thậm chí họ lựa chọn cả phong cách sống Như thế, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp là tập đoàn lớn những người cùng nhau chia sẻ những nguồn lực kinh tế Những nguồn lực này có ảnh hưởng mạnh đến phong cách sống mà người ta hướng theo

Sở hữu của cải và nghề nghiệp là cơ sở chủ yếu của sự phân biệt giai cấp (Giddens, 2001:282, 684-685) Hệ thống giai cấp có bốn đặc điểm nổi bật khác với ba hệ thống trước đó như trình bày dưới đây (Giddens, Anthony and Mitchell Duneier, 2000:148; Giddens, 2001:282):

 Sự phân chia giai cấp dựa trên cơ sở kinh tế (tức là bất bình đẳng về sở hữu

và kiểm soát các nguồn lực vật chất) Trong các hệ thống phân tầng khác, các nhân tố phi kinh tế (như ảnh hưởng của tôn giáo trong hệ thống đẳng cấp Ấn Độ) là quan trọng nhất (tức là những bất bình đẳng thường mang tính chất pháp lý hoặc tôn giáo)

 Hệ thống giai cấp là lỏng lẻo/mềm dẻo (fluid) hơn các hệ thống phân tầng

khác và ranh giới giữa các giai cấp thường không rõ ràng Không như các kiểu loại tầng lớp khác, các giai cấp không được thiết lập bởi những điều khoản luật pháp, hoặc tôn giáo Các thành viên giai cấp thường không dựa trên cơ sở kế thừa địa vị bởi luật pháp hoặc tục lệ Không có hạn chế chính thức về kết hôn giữa những thành viên thuộc các giai cấp khác nhau

 Địa vị giai cấp có một phần là địa vị giành đạt được (phải phấn đấu mới

giành được), chứ không đơn giản được “ban cho” cá nhân từ lúc sinh ra như trong các hệ thống phân tầng khác Di động xã hội đi lên, đi xuống trong cấu trúc giai cấp là phổ biến và thường xuyên hơn các hệ thống phân tầng khác

 Trong các hệ thống phân tầng khác, sự bất bình đẳng được biểu hiện chủ yếu thông qua mối quan hệ cá nhân về nghĩa vụ và bổn phận giữa tá điền và điền chủ, nô lệ và chủ nô, các cá nhân ở đẳng cấp cao và đẳng cấp thấp Ngược lại, hệ thống giai cấp hoạt động chủ yếu thông qua sự kết nối rộng rãi của những cá nhân nói chung (không nói về riêng ai) Ví dụ, một cơ sở căn bản của phân biệt giai cấp là sự bất bình đẳng về tiền lương và điều kiện làm việc Những điều này tác động đến mọi người trong các nhóm nghề nghiệp xác

Trang 12

định và nó như là kết quả của hoàn cảnh kinh tế đang thịnh hành trong nền kinh tế nói chung

Từ nội dung khái quát về hệ thống giai cấp ở trên, các nhà nghiên cứu đã tạo dựng nên mô hình 5 giai cấp cơ bản phổ biến đối với hầu hết các quốc gia công nghiệp (Rothman, 2005:43) được thể hiện ở Hộp 1.1

Hộp 1 1 Mô hình 5 giai cấp cơ bản trong xã hội công nghiệp trên thế giới

1 Giai cấp tinh hoa/thượng lưu (elite class) bao gồm số ít người có thế lực đặc biệt về kinh tế, xã

hội và chính trị Họ ở trên đỉnh cao nhất của hệ thống phân tầng Giai cấp này bao gồm hai

nhóm: (1) Giới quan chức tinh hoa (institutional elite) bao gồm cả nam và nữ ở vị trí thượng

đỉnh trong các cơ quan, tổ chức chủ đạo và có ảnh hưởng lớn của chính phủ, giới kinh doanh, lĩnh vực công nghiệp, truyền thông, giáo dục và tôn giáo; (2) Giới tinh hoa các nhà tư bản

(capitalist elite) bao gồm các cá nhân và gia đình có quyền lực được bắt nguồn từ của cải và tài

sản của họ (hơn là từ vị trí theo cấu trúc)

2 Giai cấp trung lưu lớp trên (upper middle class) bao gồm những người có nghề nghiệp trên cơ

sở tri thức chuyên môn (ví dụ những người chuyên nghiệp hưởng lương, như các bác sĩ, luật

sư, nhà khoa học, kiến trúc sư, kỹ trị cao cấp, kỹ sư, lập trình computer), những người quản

lý Những người này tương đối ít tài sản, nhưng có vị trí cao (hoặc trung bình) trong nghề nghiệp

3 Giai cấp trung lưu lớp dưới (lower middle class) bao gồm những người như giáo viên phổ

thông, các loại nhân viên (kỹ thuật, bảo hiểm, bán hàng, văn phòng, thư ký, dịch vụ) và công chức

4 Giai cấp lao động (working class) bao gồm những người lao động chân tay (còn gọi là công

nhân cổ xanh) trong các nhà máy, công xưởng, hầm mỏ, trang trại, lái xe tải, máy kéo, taxi, những người cứu hỏa và quản giáo Những người này có ít, hoặc không có tài sản, quyền hành

5 Giai cấp hạ lưu/nghèo (poor/lower class) ở dưới đáy của hệ thống phân tầng Họ bao gồm

những người sống ở bên lề hệ thống sản xuất Họ không có kỹ năng và làm những công việc dọn dẹp nhà cửa, văn phòng, nơi công cộng, hoặc là những người thất nghiệp Những người này không có tài sản và quyền hành

Nguồn: Biên tập lại (có bổ sung và thay đổi) từ các nguồn tài liệu (Rothman, 2005:60, 61; Kerbo,

2000:13, 218; Scott, 2009:469, 470)

Hộp 1.1 thể hiện sự phân chia giai cấp theo ba tiêu chuẩn chủ yếu đã dẫn từ Harold R Kerbo trên đây Trong đó, giai cấp tinh hoa/thượng lưu ở trên đỉnh được xác định dựa trên sở hữu, kiểm soát tài sản và quyền lực (tức là dựa trên cấu trúc tài sản và cấu trúc quyền lực) Giai cấp này có sở hữu và kiểm soát nhiều nguồn lực nhất, còn giai cấp hạ lưu/nghèo ở dưới đáy có ít nguồn lực nhất và không có quyền hành Ba giai cấp ở giữa được xác định dựa trên cấu trúc nghề nghiệp Như vậy, các chiều cạnh xác định giai cấp bao gồm cả tài sản, quyền lực và uy tín nghề nghiệp (dựa trên lý thuyết phân tầng xã hội của M Weber, có bao hàm cả K Marx) Các chiều cạnh này cùng nhau hội tụ vào giai cấp trên đỉnh và không hội tụ vào giai cấp dưới đáy Tức là, giai cấp trên đỉnh có nhiều tài sản, quyền lực và địa vị xã hội cao Còn giai cấp dưới đáy có ít, hoặc không có những thứ này Các giai cấp đáng quan tâm và đại diện cho xã hội công nghiệp trong Hộp 1.1 là giai cấp trung lưu ngày

Trang 13

càng mở rộng và chiếm phần lớn trong các nước công nghiệp: “Theo hầu hết những quan sát, giai cấp trung lưu hiện nay bao gồm phần lớn dân số nước Anh và hầu hết các nước đã công nghiệp hóa khác” (Giddens, 2001:293) Những nét đại cương về các hệ thống phân tầng trong lịch sử trên đây đã thể hiện như là một bức tranh tổng quát về bất bình đẳng trở nên rộng khắp trong hầu hết các xã hội con người Từ đây, chúng ta có thể hiểu rằng, xung đột thường nằm ở bên dưới hệ thống phân tầng xã hội Trên thực tế, tồn tại sự bất bình đẳng và xung đột về các nguồn lực khan hiếm

đã tất yếu tạo ra phân tầng xã hội (Kerbo, 2000:73) Như vậy, các hệ thống phân tầng cơ bản trong lịch sử trên đây là sự phân chia thành nhiều tầng lớp xếp chồng lên nhau theo trật tự trên dưới, trong đó những người có nhiều đặc quyền đặc lợi thì

ở trên đỉnh, còn người có ít hơn thì ở dưới đáy Các hệ thống phân tầng đã thể hiện các nguồn lực khan hiếm trong xã hội được phân chia như thế nào Tức là, các hệ thống phân tầng đều nhằm xác định ai có được cái gì, có tài sản và nguồn lực gì

Mô hình phổ biến về 5 giai cấp cơ bản (Hộp 1.1) sẽ được tham khảo để xây dựng

mô hình phân tầng xã hội cho Việt Nam (Chương II) trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay

♣ Những tri thức về phân tầng xã hội hiện nay đều được xây dựng trên cơ sở nền tảng lý luận của Karl Marx (1818-1883) và Max Weber (1864-1920) Chương này trình bày những kiến thức được tổng hợp và phân tích từ những thành tựu của

xã hội học hiện đại về phân tầng xã hội trên thế giới Những nội dung trình bày trong chương này là thiết thực trước mắt đối với tình trạng lý luận về phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay Đó là trình bày khái lược hai nội dung về phân tầng xã hội và di động xã hội Hai nội dung này như là hai góc nhìn “tĩnh” và “động” về cấu trúc xã hội Cụ thể, nội dung về phân tầng xã hội nhằm trả lời câu hỏi: “Ai có được

cái gì và tại sao lại như vậy? – Who gets what, and why?” Tiếp theo, làm thế nào

mà người ta “có được cái gì” – tức là bằng con đường (cách thức, phương thức) nào

để người ta có được tài sản và những nguồn lợi xã hội Đó chính là nội dung về di động xã hội nhằm trả lời cho câu hỏi tiếp theo: “Ai tiến lên phía trước, và tại sao?”

(“Who gets ahead, and why?” Đây là hai câu hỏi then chốt nhằm tìm hiểu bản chất

của phân tầng xã hội và di động xã hội từ xưa đến nay

Đối với câu hỏi: “Ai có được cái gì và tại sao lại như vậy?” “Cái gì” – đó là

các loại tài sản, nguồn lực và nguồn lợi xã hội làm nền tảng quy định hệ thống phân tầng được thể hiện trong Bảng 1.1

1 Tìm hiểu phân tầng xã hội

Bắt đầu tìm hiểu phân tầng xã hội: “Ai có được cái gì và tại sao lại như

vậy?” cần xác định một vài khái niệm cơ bản có liên quan với nhau nhằm dẫn tới sự

hiểu biết về phân tầng xã hội Đó là nội dung tóm lược về ba khái niệm: khác biệt

xã hội, bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội (Kerbo, 2000:10, 11) Khác biệt

xã hội là sự miêu tả đơn thuần về tình trạng khác nhau theo những đặc điểm, phẩm

chất cá nhân và vị trí công việc của mọi người trong xã hội Ví dụ, có thể phân chia

Trang 14

thành những nhóm người khác nhau về giới tính, chủng tộc và sự phân công lao động Xã hội càng công nghiệp hóa, sự phân công lao động càng tăng thì tình trạng khác biệt giữa mọi người càng nhiều Tức là, càng tăng sự phân công lao

động, thì tình trạng khác biệt xã hội càng đa dạng Điều quan trọng là ở chỗ, sự

khác nhau này chưa được xã hội đánh giá và chưa được xếp hạng theo những thứ bậc cao thấp đối với nhau Đây là tình trạng đầu tiên dẫn tới sự bất bình đẳng và

phân tầng xã hội Chúng ta có thể phân nhóm xã hội theo sự khác nhau này và các nhóm hoàn toàn bình đẳng với nhau theo nghĩa chưa đặt nhóm nào cao hơn nhóm nào Liên hệ khái niệm này với tình hình nghiên cứu về các giai cấp và tầng lớp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ta thấy khái niệm này thể hiện rõ qua cách trình bày trong các nghiên cứu về chủ đề gọi là “cơ cấu xã hội”

Bảng 1 1 Các loại tài sản, nguồn lực và nguồn lợi quy định hệ thống phân tầng xã

hội Nhóm tài sản Các ví dụ chọn lọc Các trường phái liên quan

1 Kinh tế Sở hữu đất đai, nhà máy, sức lao động Karl Marx; Erik Wright

2 Chính trị Quyền uy trong gia đình, quyền hành nơi

làm việc; đảng phái và quyền lực xã hội; thủ lĩnh

Max Weber; Ralf Dahrendorf

3 Văn hóa Khuôn mẫu/thói quen tiêu dùng; phong cách

sống; vốn văn hóa

Pierre Bourdieu; Paul DiMaggio

4 Xã hội Tiếp cận các mạng lưới xã hội, câu lạc bộ,

hiệp hội, công đoàn; vốn xã hội

W Lloyd Warner; James Coleman

5 Uy tín

(Honorific)

Uy tín (Prestige); danh tiếng; tôn kính và xúc phạm

Edward Shils; Donald Treiman

6 Công dân Quyền có tài sản, bầu cử, ứng cử; tự do ngôn

luận và lập hội

T H Marshall; Rogers Brubaker

7 Con người Kỹ năng; chuyên môn; đào tạo nghề; kinh

nghiệm; học vấn; kiến thức

Kaare Svalastoga; Gary Becker

Nguồn: Biên tập lại (có bổ sung và thay đổi) từ tài liệu (Grusky, 2001:4)

Bất bình đẳng xã hội là tình trạng những cá nhân tiếp cận không công bằng

các loại nguồn lực, nguồn lợi, tài sản, dịch vụ và các vị trí trong xã hội (được thể

hiện ở Bảng 1.1) Đồng thời, sự tiếp cận không công bằng này được xã hội đánh

giá Như thế, bất bình đẳng xã hội là sự khác biệt xã hội đã được đánh giá và xếp hạng theo những thứ bậc cao thấp đối với nhau Đây là điều cần được nhấn mạnh

và nó cũng là trạng thái tiếp theo dẫn tới phân tầng xã hội Do vậy, bất bình đẳng xã hội có liên quan chặt chẽ đến những vị trí khác nhau trong cấu trúc xã hội Từ những vị trí khác nhau này mà người ta có thể tiếp cận không công bằng các loại nguồn lực, nguồn lợi, tài sản và dịch vụ xã hội Điều đó là do sự khác biệt về đặc điểm, phẩm chất cá nhân và vị trí công việc của mỗi người trong xã hội

Giới nghiên cứu xã hội học đã mượn thuật ngữ “các tầng lớp địa chất – strata” trong tự nhiên để áp dụng vào xã hội nhằm miêu tả trực quan “các tầng lớp

xã hội” Sự vay mượn này được bổ sung thêm tính từ “xã hội – social” với hàm ý

Trang 15

rằng các nhóm người – như các tầng lớp địa chất – cũng được sắp xếp lần lượt theo trật tự từ tầng cao xuống tầng thấp (Kerbo, 2000:11) Như vậy, xã hội được hình dung là phân chia thành nhiều tầng lớp xếp chồng lên nhau theo trật tự trên dưới, trong đó những người có nhiều đặc quyền đặc lợi thì ở trên đỉnh, còn người kém

hơn ở dưới đáy Các tầng lớp được sắp xếp như vậy gọi là phân tầng xã hội Bản

chất của phân tầng xã hội là một trong những đặc điểm có ý nghĩa nhất và quan

trọng nhất cần tìm hiểu (Persell, 1987:183) Nhiều câu hỏi cơ bản đặt ra nhằm tìm

hiểu bản chất của phân tầng xã hội (Kerbo, 2000: 17) Trong đó, Gerhard Lenski

(1966) đặt ra câu hỏi khái quát hơn đối với nghiên cứu phân tầng xã hội là: “Ai có

được cái gì và tại sao lại như vậy? – Who gets what, and why?” (dẫn theo Kerbo,

2000:10, 17, 142) Có lẽ vì vậy, Harold R Kerbo đã định nghĩa “Phân tầng xã hội là tình trạng trong đó sự bất bình đẳng và thứ bậc các nhóm người được xếp hạng theo

tôn ti trật tự chặt chẽ và được thiết chế hóa Đó là hệ thống các mối quan hệ xã hội

nhằm xác định ai có được cái gì và tại sao” (Kerbo, 2000:523) Tìm hiểu bản chất của phân tầng nên hướng vào nghiên cứu cách tổ chức xã hội đã khiến cho một số thành viên có nhiều tài sản và nguồn lợi, trong khi một số khác có ít hơn Những người ở dưới đáy thường chịu nhiều thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần Chính vì vậy, nói về phân tầng là để mô tả những bất bình đẳng giữa các cá nhân, nhóm và

các tầng lớp trong xã hội con người Phân tầng xã hội thể hiện tình trạng bất bình

đẳng xã hội mang tính cấu trúc (structured inequalities), và mang tính thiết chế

(institutionalized inequalities) - tức là một hệ thống xã hội có sự xếp hạng theo tôn

ti trật tự trên dưới giữa các tầng lớp được thiết lập và duy trì ổn định Hệ thống xã hội này nhằm xác định ai có được cái gì và tại sao (Giddens, 2000:146, 149; Kerbo,

2000:11, 523) Thuật ngữ “hệ thống phân tầng – stratification sytem” nhằm nói

đến phức hợp các thiết chế xã hội tạo ra và duy trì những bất bình đẳng phải tuân theo Hệ thống phân tầng bao gồm ba thành phần cơ bản: (1) Quá trình thiết chế hóa

để xác định các loại nguồn lợi có giá trị và đáng mong muốn (Tức là cấu trúc xã hội quyết định những cơ hội và sự phân bổ nguồn lợi? – Đỗ Thiên Kính giải thích) (2) Những quy tắc và phương thức để phân phối các loại nguồn lực, nguồn lợi, tài sản

và dịch vụ xã hội (3) Cơ chế di động xã hội đặt cá nhân vào vị trí nghề nghiệp và tạo ra sự bất bình đẳng về các nguồn lực và nguồn lợi (Grusky, 2001:3)

Nội dung ba khái niệm trên có mối quan hệ bao hàm nhau Chúng như ba vòng tròn đồng tâm Trong đó, khái niệm khác biệt xã hội là vòng tròn lớn nhất, khái niệm phân tầng xã hội ở trong cùng và nó thể hiện bản chất của xã hội một

cách căn bản nhất Để có thể hiểu và nhận thức được phân tầng xã hội, trước hết cần biết sự phân nhóm xã hội (dựa theo khái niệm khác biệt xã hội) Phân nhóm xã

hội là dựa trên một số tiêu chuẩn xác định nào đó để phân chia thành các nhóm xã hội khác nhau Nếu chỉ dừng lại ở việc phân nhóm xã hội, ta có được các nhóm hoàn toàn bình đẳng với nhau (nhóm nào cũng như nhóm nào) Nhưng, sau khi thực

hiện phân nhóm xã hội, người ta tiếp tục tiến hành sắp xếp thứ bậc giữa các nhóm (nhóm nọ đứng trên nhóm kia, dựa theo khái niệm bất bình đẳng xã hội) để tạo thành các tầng lớp theo tôn ti trật tự và dẫn tới phân tầng xã hội (khi bất bình đẳng được cấu trúc hóa và thiết chế hóa) “Khác biệt xã hội trở thành phân tầng xã hội

Trang 16

khi con người ta được xếp hạng tôn ti thứ bậc theo chiều cạnh bất bình đẳng nào đó” (Abercrombie, N et al., 2006:381) Đến lúc này, các nhóm không còn bình đẳng với nhau nữa, mà giữa chúng tồn tại một sự bất bình đẳng xã hội mang tính cấu trúc Như vậy, sự bất bình đẳng là thuộc tính vốn có trong cấu trúc phân tầng,

và phân tầng xã hội đã thể hiện trong nó sự phân nhóm xã hội Từ mối quan hệ về

nội dung ba khái niệm như vậy và dựa trên cơ sở những kết quả đã nghiên cứu, có

thể đưa ra khái niệm phân tầng xã hội được trình bày chi tiết dưới đây

Các nhà xã hội học đề cập đến phân tầng xã hội nhằm miêu tả những bất bình đẳng tồn tại giữa các cá nhân, hoặc các nhóm trong xã hội Các nhóm người tiếp

cận không công bằng các loại nguồn lực trên cơ sở vị trí của họ trong xã hội “Do vậy, phân tầng có thể được định nghĩa một cách đơn giản nhất như là bất bình đẳng

có cấu trúc giữa các nhóm người khác nhau” trong việc tiếp cận các loại nguồn lực

và nguồn lợi xã hội (Giddens, 2001:282, 699) Hoặc là, “Thuật ngữ phân tầng trong

xã hội học thường được áp dụng vào nghiên cứu những bất bình đẳng xã hội có cấu trúc; tức là nghiên cứu bất kỳ những bất bình đẳng có hệ thống giữa các nhóm người, nảy sinh do hậu quả không trù định của các quá trình và quan hệ xã hội”

(Scott, J., 2009:735) Chi tiết hơn, phân tầng xã hội là sự phân chia những người

trưởng thành trong xã hội thành các nhóm kinh tế-xã hội (KT-XH) khác nhau Đồng thời, các nhóm này được xếp hạng theo tôn ti trật tự trên dưới để tạo thành các tầng lớp trong hệ thống Mỗi tầng bao gồm những người có địa vị KT-XH tương

tự gần với nhau Hệ thống xếp hạng tôn ti trật tự này là sự bất bình đẳng mang tính

cấu trúc và là thuộc tính của xã hội Đồng thời, sự bất bình đẳng này cũng mang tính thiết chế và có thể trao truyền qua các thế hệ Trong hệ thống phân tầng, các thành viên sẽ khác nhau về khả năng thăng tiến (di động) bởi địa vị không giống nhau của họ trong các bậc thang xã hội Phần lớn các xã hội cho đến hiện nay đều tồn tại sự phân tầng về tài sản, của cải, quyền lực chính trị, uy tín xã hội và đời sống văn hóa Đồng thời, xã hội còn phân tầng theo giới, tuổi, tôn giáo và tộc người Định nghĩa chi tiết này được tham khảo từ các nguồn tài liệu (Giddens, Anthony

and Mitchell Duneier, 2000:174; Giddens, 2001:282)

Để trả lời câu hỏi tại sao đã dẫn ở trên (Who gets what, and why), người ta

thường dựa trên lý thuyết chức năng và lý thuyết xung đột để giải thích Hai lý

thuyết này sẽ giải thích vì sao có sự phân tầng, tức là vì sao các tầng lớp lại có

được những tài sản và nguồn lợi xã hội khác nhau

“Vì sao tồn tại các hệ thống phân tầng khác nhau? Có mấy cách lý giải cạnh tranh nhau Một

số người cho rằng “con người ta có những gì họ xứng đáng được”; số khác cả quyết rằng những thành viên có lợi thế trong xã hội đã sử dụng quyền lực bề trên, của cải và ảnh hưởng của họ để duy trì địa vị đặc quyền đặc lợi của họ Số người thứ nhất bao gồm các nhà chức năng luận, những người nhấn mạnh rằng công trạng và sự thành đạt dẫn đến có địa vị xã hội;

họ quan tâm xem xét vị trí nghề nghiệp, địa vị, và đôi khi cả số liền kiếm được nữa Số người sau – các nhà theo thuyết xung đột tập trung vào sự không ngang nhau về của cải, quyền lực

và sự kiểm soát Như vậy, những người theo thuyết chức năng và theo thuyết xung đột đã khảo sát những đặc điểm khác nhau của sự phân tầng” (Persell, 1987:191)

Trang 17

Những người theo thuyết chức năng – đại diện là Kingsley Davis và Wilbert

Moore – xuất phát từ một tiền đề cho rằng, không có những xã hội không phân tầng Do đó, mục tiêu đầu tiên của họ là giải thích vì sao sự phân tầng là tất yếu trong mọi hệ thống xã hội Sở dĩ như vậy, bởi vì mọi xã hội đều cần xác định vị trí

và thu hút những cá nhân vào các địa vị xã hội Đồng thời, trong xã hội có những vị trí nghề nghiệp quan trọng hơn những nghề nghiệp khác Phải đảm bảo sao cho những người ưu tú nắm giữ những vị trí nghề nghiệp quan trọng hơn một cách thích hợp Số người ưu tú như vậy trong xã hội là không nhiều và chi phí đào tạo họ tốn kém về kinh phí và thời gian Cho nên, những người theo thuyết chức năng cho rằng xã hội “buộc phải” phong thưởng nhiều hơn đối với những vị trí nghề nghiệp quan trọng hơn để thu hút những người ưu tú vào những vị trí nghề nghiệp cần thiết

đó Từ đây, họ cho rằng hệ thống phân tầng là “một cơ chế không có ý thức, nhờ đó

mà các xã hội đảm bảo rằng những vị trí quan trọng nhất sẽ do những người có trình độ chuyên môn thích hợp nhất tận tâm nắm giữ” (dẫn theo Persell, 1987:191) Hoặc là, Davis và Moore (1945) cho rằng “một xã hội phải có cách nào đó để phân phối những phần thưởng khác nhau tùy theo địa vị Những phần thưởng và sự phân phối chúng trở thành một bộ phận của trật tự xã hội và như vậy làm nổi bật lên sự phân tầng” (dẫn theo Bilton, 1993:61) Như vậy, đối với những người theo thuyết chức năng, việc xếp hạng một vị trí được quy định bởi tầm quan trọng của vị trí đó trong xã hội, và bởi cả sự khan hiếm những người tài năng, hoặc lành nghề nắm giữ

vị trí đó Hoặc nói cách khác, những người theo thuyết chức năng xuất phát từ một tiền đề cho rằng, “mọi xã hội đều phải sáng chế ra những phương tiện nhất định để gây động cơ phấn đấu cho những người ưu tú nhất vào làm những nghề quan trọng

và khó khăn nhất, và để họ làm việc một cách tận tụy và hiệu quả Có thể giải quyết

‘vấn đề động cơ’ này theo nhiều cách khác nhau, nhưng có lẽ giải pháp đơn giản nhất là kiến tạo một tôn ti thứ bậc những sự đãi ngộ (ví dụ uy tín, tài sản và quyền lực; nhưng nói chung là bao hàm cả đãi ngộ về kinh tế và sự tán thành của những người khác) để dành đặc quyền cho những người nắm giữ những vị trí quan trọng

về mặt chức năng Điều này có nghĩa là tạo lập một hệ thống bất bình đẳng được thể chế hóa (tức tạo ra một hệ thống phân tầng) mà chủ yếu là cơ cấu nghề nghiệp”

(Mai Huy Bích, 2010:3-4) Donald J Treiman (1977) cho rằng, những cách lý giải

của lý thuyết chức năng được sự hỗ trợ ở một mức độ nào đó bởi một cuộc nghiên cứu xuyên quốc gia đã cho thấy các nghề nghiệp được xếp hạng rất giống nhau ở

60 nước công nghiệp và nông nghiệp Tuy nhiên, tất cả các nghề không được phong thưởng ngang nhau (dẫn theo Persell, 1987:191) Kết quả nghiên cứu thực nghiệm này đều khẳng định và chứng minh cho lý thuyết chức năng Đây là cơ sở lý luận quan trọng mà các nhà nghiên cứu đã dựa vào cấu trúc nghề nghiệp để vẽ nên bản

đồ giai cấp xã hội Sở dĩ như vậy, bởi vì sự phân công lao động (tức nghề nghiệp)

là hợp chức năng đối với một xã hội Đó cũng là cơ sở để các nhà nghiên cứu dựa vào nhằm giải thích vì sao các nghề nghiệp được xếp hạng giống nhau đến thế ở nhiều xã hội khác nhau (60 nước) Nói tóm lại, sự bất bình đẳng về tài sản, nguồn lợi kinh tế, xã hội trong hệ thống phân tầng là “một cơ chế không có ý thức”, nhờ

đó mà các xã hội đảm bảo rằng những cá nhân tài năng được đào tạo sẽ nắm giữ

Trang 18

những vị trí quan trọng Bằng cách này, những chức năng quan trọng nhất trong xã hội sẽ được những người tài năng nhất thực hiện, và các nguồn lợi lớn nhất được dành cho những vị trí đó – mà nó đòi hỏi sự đào tạo nhiều nhất (Scott, J., 2009:269-

270) Do vậy, “Phân tầng là phổ biến và là kết quả của sự cần thiết phải bổ nhiệm

đầy đủ những vị trí quan trọng về chức năng” (Abercrombie, 2006 :158) Một hệ thống phân tầng như thế trong việc ban thưởng, đãi ngộ các nguồn lợi và trừng phạt khác nhau là cần thiết để xã hội vận hành có hiệu quả

Trong khi thuyết chức năng cho rằng các tầng lớp (phân tầng) như là những

bộ phận thực hiện các chức năng khác nhau, mang tính chất hợp chức năng đối với

xã hội và là nguồn gốc tạo nên sự ổn định, thì các lý thuyết xung đột (đại diện là

Karl Marx và Max Weber) lại cho rằng phân tầng nhất định sẽ dẫn đến mất ổn định

và biến đổi xã hội Những người theo lý thuyết xung đột coi phân tầng là nguồn gốc chủ yếu của sự căng thẳng và xung đột xã hội Họ coi phân tầng là kết quả của sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích, các tầng lớp xã hội hoặc giai cấp khác nhau đối với các loại nguồn lực, nguồn lợi có hạn và khan hiếm trong xã hội Sự cạnh tranh như vậy đã dẫn đến bất bình đẳng sâu sắc về chính trị, kinh tế và xã hội Như vậy, các lý thuyết xung đột là một cách nhìn xã hội học nhằm tập trung vào những mâu thuẫn, bất đồng và cạnh tranh nhau về các quyền lợi trong xã hội con người Những người theo lý thuyết xung đột tin rằng sự khan hiếm và có giá trị của các nguồn lực trong xã hội đã sản sinh ra xung đột như là cuộc đấu tranh của các nhóm để giành quyền tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực đó (Giddens, 2001:685) Hoặc là, một cuốn sách nhập môn xã hội học đã viết về những người theo lý thuyết xung đột – họ nhìn phân tầng xã hội như là “kết quả của sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích hoặc các giai cấp khác nhau Các nhóm sử dụng quyền lực và các nguồn lực mà họ kiểm soát để khẳng định và bảo vệ vị trí của họ trong quan hệ với các nhóm khác […] Một khi họ đã có cơ sở vật chất tương đối lâu bền, những vị trí đó có thể được chuyển giao cho con cháu họ Những bất bình đẳng về của cải nảy sinh và sau đó trở thành nguồn gốc mà người ta có thể sử dụng để duy trì những lợi thế bề trên […] Phân tầng nảy sinh do sự chinh phục, cạnh tranh và xung đột của nhóm […] Phân tầng xã hội xuất hiện do kết quả của một hay nhiều nhóm bị các nhóm khác thống trị Sự thống trị này có thể dựa trên cơ sở sự kiểm soát khác nhau đối với tài sản, hàng hóa, các dịch vụ và giá trị thị trường không ngang nhau của các nghề nghiệp khác nhau Do phân tầng dựa trên cơ sở thống trị và áp bức, cho nên tiềm năng chống đối, kháng cự và thù địch của các nhóm bị thống trị là luôn có” (Persell, 1987:192-194) Như vậy, lý thuyết xung đột cho rằng phân tầng xã hội như là sự phản ánh kết quả của người thắng cuộc và người thua cuộc trong cuộc cạnh tranh đối với những nguồn lợi có hạn trong xã hội Lý thuyết này nhấn mạnh đến phương diện cấu trúc xã hội trong hệ thống phân tầng (hoặc là tác động của cấu trúc xã hội đến phân tầng được thể hiện qua sự chuyển giao cho thế hệ sau), hơn là phương diện tài năng và năng lực cá nhân Từ đây, có thể suy ra rằng cấu trúc xã hội đã an bài địa vị mỗi người, bất kể tài năng và năng lực của họ ra sao Đồng thời, những xung đột và đấu tranh xã hội tất yếu sẽ xảy ra để phá vỡ thế an bài được cấu trúc hóa đó và tạo lập thế an bài mới Cứ như thế, xã hội biến đổi và phát triển

Trang 19

Hai loại lý thuyết giải thích vì sao có sự phân tầng trên đây đều có những nội dung hợp lý (nhưng chúng cũng bị phê phán ở một số điểm) Mỗi loại lý thuyết trả lời những nội dung cụ thể cho câu hỏi tại sao là tốt hơn lý thuyết kia và ngược lại

Do vậy, người ta đã cố gắng kết hợp cả hai loại lý thuyết với nhau để đưa ra câu trả lời tổng hợp Có lẽ Gerhard Lenski (1966) là người “có sự nỗ lực trọn vẹn nhất nhằm tổng hợp các quan điểm chức năng luận và xung đột về sự phân tầng” (Persell, 1987:194) Ông xuất phát từ giả thuyết cho rằng con người ta là ích kỷ, do vậy họ sẽ lựa chọn những lợi ích cho bản thân (hoặc cho nhóm của họ) hơn là cho tất cả những người khác Đặc biệt, người ta sẽ đấu tranh để giành lấy những nguồn lực khan hiếm trong xã hội Trong cuộc đấu tranh đó một số người sẽ được hưởng nhiều nguồn lực hơn do vị trí xã hội (quyền lực) của họ (cách giải thích này đã dựa vào lý thuyết xung đột) và do tài năng tự nhiên của họ (cách giải thích này đã dựa vào lý thuyết chức năng) Địa vị xã hội tác động đến cơ may con người để phát triển tài năng của họ Mặt khác, kỹ năng và đào tạo lại giúp con người đạt được những vị trí xã hội nhất định Kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh là sự bất bình đẳng xã hội Như vậy, quyền lực là nguồn gốc hàng đầu của những bất bình đẳng xã hội cơ bản Đồng thời, một số bất bình đẳng này có thể mang tính chức năng đối với xã hội, bởi vì mỗi người đều thực hiện những vai trò nhất định trong xã hội Khi bất bình đẳng xã hội được xác lập, con người có xu hướng dùng vị trí (quyền lực) của

họ và các nguồn lực khác để duy trì và nâng cao ưu thế của mình lên Theo cách như vậy, sự bất bình đẳng tiếp tục được mở rộng và trở thành phân tầng xã hội ổn định lâu dài (dẫn theo Persell, 1987:194-195, 201)

Đại biểu Beegley (1989) cũng đã cố gắng kết hợp hai lý thuyết chức năng và xung đột với nhau Sự kết hợp này được thể hiện qua 3 điểm chính: (1) Quyền lực

là yếu tố quyết định chủ yếu đối với sự phân bố các nguồn lực khan hiếm Xã hội có thể được hiểu như là các nhóm cạnh tranh để giành lấy nguồn lực khan hiếm (2) Sự phân bố của quyền lực (và các nguồn lực khan hiếm) là bị cấu trúc về mặt xã hội Tức là cấu trúc xã hội quy định những cơ hội và sự phân bố các nguồn lực (3) Năng lực và tài năng cá nhân khác nhau đã tạo nên sự khác biệt xã hội Hai điểm đầu được rút ra từ lý thuyết xung đột, điểm thứ ba bắt nguồn từ lý thuyết chức năng Trong đó, quyền lực (hay là cấu trúc xã hội của quyền lực) có vai trò quan trọng nhất Tức là, cấu trúc xã hội là quan trọng hơn tài năng cá nhân (dẫn theo Nguyễn Hữu Minh, 2013:60-61)

Khi đánh giá hai lý thuyết chức năng và lý thuyết xung đột, Harold R Kerbo

đã cân đối so sánh những bằng chứng (với sự gia trọng/gia giảm chúng) theo quan điểm lịch sử và đưa ra “kết luận rằng các lý thuyết xung đột có thể trả lời tốt hơn

đối với những câu hỏi về phân tầng xã hội” Đó là câu hỏi chủ yếu Ai có được cái gì

và tại sao lại như vậy? Liên quan đến câu hỏi chủ yếu này là những câu hỏi khác:

Sự bất bình đẳng đã được duy trì như thế nào? Tại sao sự bất bình đẳng và các nhóm lại nhận được phần lớn các nguồn lợi trong xã hội thường là khá ổn định qua thời gian dài? Tại sao hệ thống phân tầng lại thay đổi? Sau đó, Kerbo giới thiệu một giả thuyết chủ yếu rằng hệ thống phân tầng sẽ hướng tới giảm bớt sự xung đột công

Trang 20

khai thông qua sự phân phối những hàng hóa và dịch vụ có giá trị trong xã hội (Kerbo, 2000:150-151) Kết luận nói trên của Kerbo về sự kết hợp giữa hai lý thuyết chức năng và lý thuyết xung đột (trong đó lý thuyết xung đột đóng vai trò chủ đạo) đã được thể hiện nhiều trong những nghiên cứu về phân tầng xã hội đương đại Các nhà nghiên cứu phân tầng xã hội đương đại trên thế giới đều xuất phát từ

K Marx và M Weber (lý thuyết xung đột), kết hợp với đo lường và xếp hạng điểm

số uy tín nghề nghiệp (lý thuyết chức năng) để xây dựng nên các mô hình phân tầng

xã hội ở mỗi quốc gia Điều này sẽ được trình bày tiếp tục về lý thuyết ở Mục 2 (Chương I), và về thực nghiệm trong Chương II Như vậy, họ đã kết hợp với lý thuyết chức năng trên cơ sở nền tảng lý thuyết xung đột và phát triển tiếp tục M Weber (đã bao hàm cả K Marx) trong nghiên cứu phân tầng xã hội hiện nay

Nghiên cứu phân tầng xã hội có ba mục tiêu, nhằm: (1) Xác định rõ mức độ

ảnh hưởng/chi phối ở cấp độ xã hội của các hệ thống giai cấp (hoặc địa vị) Các hệ thống giai cấp có ảnh hưởng lớn đến mức chúng là nền tảng của những kiểu/phương thức hành động xã hội; (2) Phân tích các cấu trúc giai cấp và địa vị, và những yếu tố quyết định sự hình thành giai cấp và địa vị; (3) Cung cấp những tài liệu bất bình đẳng về điều kiện, cơ hội và kết quả, và những cách thức để các nhóm duy trì ranh giới giai cấp (hoặc địa vị) Tức là, các nhóm có sự khép kín xã hội nhằm duy trì những đặc quyền của mình và loại trừ các nhóm khác tìm cách tiếp cận những đặc

quyền đó Như vậy, ở mức độ chung nhất, phân tầng xã hội quan tâm đến vấn đề về

sự hình thành giai cấp và nhóm địa vị Đó là chìa khóa để hiểu sự hòa nhập xã hội

(Scott, J., 2009:735) Nói chung, các mục tiêu của nghiên cứu phân tầng có thể

được quy giản về miêu tả cấu trúc các giai cấp xã hội và vạch rõ quá trình tạo lập,

duy trì các giai cấp Từ mục tiêu nghiên cứu quy giản này, một số câu hỏi cơ bản

đặt ra như sau (Grusky, 2001:4, 5):

 Các loại hình và nguồn gốc của phân tầng: Những loại hình bất bình đẳng

chủ yếu trong lịch sử loài người là gì? Tồn tại khắp nơi tình trạng bất bình đẳng liệu có thể quy về do sự khác biệt tài năng và năng lực cá nhân hay không? Những dạng bất bình đẳng là đặc tính thường thấy trong đời sống con người có phải không?

 Cấu trúc của phân tầng hiện nay: Có bao nhiêu giai cấp trong xã hội? Đường

phân ranh chủ yếu xác định cấu trúc giai cấp hiện nay là gì? Đường phân ranh đó có trở nên rõ ràng hay mờ nhạt khi chuyển dịch tới xã hội hiện đại và hậu hiện đại hay không?

 Tạo lập phân tầng: Các cá nhân thường xuyên di động vào các giai cấp, nghề

nghiệp và nhóm thu nhập mới như thế nào? Tầng lớp “ngoài lề giai cấp – underclass” có tồn tại thường xuyên hay không? Trí tuệ, sự cố gắng, trình độ giáo dục, lòng khát vọng, giao tiếp xã hội và sự may mắn cá nhân đã tác động tới kết quả nghề nghiệp tới mức độ nào?

Trang 21

 Hậu quả của phân tầng: Phong cách sống, quan điểm và hành vi cá nhân

được chia sẻ bởi vị trí giai cấp của họ như thế nào? Có thể nhận biết được

“văn hóa giai cấp” trong các xã hội quá khứ và hiện tại hay không?

 Quá trình quy gán sẵn: Những kiểu loại nào về quá trình xã hội và chính sách

nhà nước đã góp phần duy trì, hoặc thay đổi sự phân biệt sắc tộc, chủng tộc

và giới tính trong thị trường lao động? Những loại hình phân biệt đối xử này

có trở nên rõ ràng hay mờ nhạt khi chuyển dịch tới xã hội hiện đại và hậu hiện đại hay không?

 Tương lai của phân tầng: Các hệ thống phân tầng sẽ là những loại hình khác

biệt và hoàn toàn mới trong tương lai hay không? Tình trạng bất bình đẳng trong những hệ thống đó sẽ như thế nào? Khái niệm giai cấp xã hội liệu có vẫn được sử dụng để miêu tả các loại hình phân tầng hậu hiện đại không? Các hệ thống phân tầng liệu có loại bỏ dần những đặc tính riêng biệt của nó

và hội tụ vào một vài chế độ hậu hiện đại chung hay không?

Tiếp tục tìm hiểu phân tầng xã hội và phân tích cụ thể hơn nữa, nó có những

nội dung/thông số cơ bản như sau:

 Mức độ bất bình đẳng về những nhóm tài sản chính: “Ai có được cái gì và

tại sao lại như vậy?” “Cái gì” – đó là các loại nguồn lực, nguồn lợi và tài sản

chủ yếu (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, uy tín ) nằm bên dưới quy định, chi phối hệ thống phân tầng (Bảng 1.1) David B Grusky đã đưa ra bảng danh mục 07 loại tài sản, nguồn lực và nguồn lợi này trong xã hội (Grusky, 2001:4)1 Các loại nguồn lợi và tài sản đó là những cơ sở và tiêu chuẩn để phân chia thành các tầng lớp xã hội Từ sự phân chia này, ta có thể

xác định được số lượng các tầng lớp cơ bản trong xã hội và sự bất bình đẳng

giữa các tầng lớp như thế nào Do đó, cần phải tiếp cận dựa trên cơ sở nhiều chiều cạnh để làm tiêu chuẩn phân chia thành các tầng lớp xã hội (M Weber

đã tiếp cận theo 3 chiều cạnh), chứ không chỉ là một chiều cạnh (đại diện là

K Marx) Đồng thời, quá trình cấu trúc hóa và thiết chế hóa tạo ra sự bất bình đẳng trong việc phân chia những loại nguồn lực, nguồn lợi và tài sản có giá trị của xã hội Đó là những quy tắc trong việc phân chia những nguồn lực, nguồn lợi này theo những vị trí nghề nghiệp và địa vị xã hội của mỗi người trong bản đồ hệ thống phân tầng

 Những nhóm tài sản chính (Bảng 1.1) dùng làm cơ sở, tiêu chuẩn để phân chia và xếp hạng các tầng lớp thường có mối tương quan chặt chẽ, gắn liền

và đi cùng với nhau trong mỗi tầng lớp Nếu các mối tương quan là mạnh, thì

sẽ xuất hiện sự nhất quán về địa vị (status consistency) ở những cá nhân trên đỉnh và dưới đáy hệ thống phân tầng (Grusky, 2001:6) Tức là, nếu mối tương quan mạnh, thì sẽ có sự “quy tụ”/“hội tụ” các loại tài sản vào cùng mỗi tầng lớp (để tạo nên sự rõ ràng/kết tinh về địa vị – status crystallization – cho

mỗi tầng lớp đó) Tình trạng này gọi là mức độ kết tinh/hội tụ các địa vị

1 Cụ thể 07 loại tài sản, nguồn lực, nguồn lợi này được trình bày trong Bảng 1.1

Trang 22

(status crystallization) Ví dụ, các loại tài sản thường cùng hội tụ vào tầng lớp trên đỉnh và không hội tụ vào tầng lớp dưới đáy hệ thống phân tầng để tạo nên sự rõ ràng/kết tinh về địa vị cho tầng lớp đó Đối với các tầng lớp ở giữa

có thể ở vị trí cao xét theo tiêu chuẩn này, nhưng lại ở vị trí thấp hơn nếu xét theo tiêu chuẩn khác Tình trạng này gọi là sự không nhất quán về vị thế (status inconsistency) (Grusky, 2001:6) Nói cách khác, sự không nhất quán

về vị thế là “tình trạng các cá nhân trong xã hội có những vị trí cao thấp trái ngược nhau theo những chiều cạnh của phân tầng xã hội” (Kerbo, 2000:523)

Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì tình trạng không nhất quán

về vị thế giữa các tầng lớp càng nhiều (đặc biệt là đối với các tầng lớp trung lưu) Điều này dẫn tới “đường ranh giới” giữa các tầng lớp xã hội thường không rõ ràng Các tầng lớp thường có sự “giao thoa” với nhau

 Từ những nhóm tài sản chính (Bảng 1.1), người ta có thể biết được mức độ

bền vững (rigidity) về địa vị Khái niệm rigidity của hệ thống phân tầng

nhằm ám chỉ địa vị xã hội của các thành viên được tiếp nối liên tục qua thời gian Ví dụ, nếu của cải, quyền lực và uy tín hiện tại của cá nhân đã được dự báo chính xác trên cơ sở địa vị trước đây (hoặc địa vị của cha mẹ), thì hệ thống phân tầng đó được gọi là có mức độ bền vững cao, hoặc “khép kín xã hội” (Grusky, 2001:6)

 Trong hệ thống phân tầng, làm thế nào mà người ta chiếm giữ được một địa

vị KT-XH xác định? Đây chính là câu hỏi: “Ai tiến lên phía trước, và tại sao?” Có hai con đường để “tiến lên phía trước” và đạt tới địa vị như vậy:

nhờ dựa vào địa vị quy gán sẵn (ascribed status) và địa vị giành đạt được

(achieved status), phải phấn đấu mới giành được (Kerbo, 2000:12) Địa vị quy gán sẵn là địa vị có được khi nhờ dựa chủ yếu vào những nhân tố sinh học tự nhiên và xã hội có sẵn (như tuổi, giới tính, chủng tộc, nguồn gốc giai cấp) Địa vị giành đạt được là khi nhờ dựa chủ yếu vào tài năng và sự nỗ lực

cố gắng của cá nhân (như thông qua học vấn và giáo dục) Hai phương thức đạt tới địa vị như vậy đều được cấu trúc hóa và thiết chế hóa Hai phương thức này thường kết hợp với nhau, trong đó có phương thức nổi trội Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì địa vị giành đạt được càng nổi trội, còn địa vị quy gán sẵn sẽ mờ dần

 Đối với mỗi tầng lớp xã hội, hoặc toàn bộ hệ thống phân tầng có thể là di động khép kín (đóng), hoặc là di động mở Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì trạng thái di động xã hội trong hệ thống phân tầng ngày càng

cao (tức là hệ thống phân tầng mở – ngược lại là hệ thống phân tầng khép

kín/đóng)

 Tồn tại sự khác nhau về hành vi, thái độ, quan điểm, phong cách sống của

các cá nhân (tức là văn hóa giai cấp – vốn văn hóa) giữa các tầng lớp xã hội

Nói cách khác, giai cấp có xu hướng phát triển và duy trì các nền văn hóa riêng biệt Mỗi giai cấp thường có nền tiểu văn hóa riêng của mình Như vậy, các tầng lớp xã hội khác nhau có nguồn vốn văn hóa cũng khác nhau Vốn

Trang 23

văn hóa có thể được tích lũy và trao truyền từ cha mẹ sang cho con cái, giống

hệt như cho thừa kế của cải vậy Đây chính là sự tái tạo văn hóa giai cấp

Các giai cấp không chỉ tái tạo bản thân họ bằng cách chuyển giao tài sản cho thế hệ sau, mà còn tái tạo bản thân về mặt văn hóa Vốn văn hóa có thể chuyển hóa thành vốn kinh tế, vốn chính trị (quyền lực) và vốn xã hội (mạng lưới xã hội)

2 Phương pháp đo lường phổ biến các tầng lớp xã hội

Ở Mục 1 (Chương I) trình bày mối quan hệ giữa ba khái niệm (khác biệt xã hội, bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội) Trong đó, để hiểu phân tầng xã hội,

trước hết cần biết sự phân nhóm xã hội (dựa theo khái niệm khác biệt xã hội) Tức

là, đầu tiên phải dựa trên một số tiêu chuẩn xác định nào đó để phân chia thành các nhóm xã hội khác nhau Nếu chỉ dừng lại ở việc phân nhóm xã hội, ta có được các nhóm hoàn toàn bình đẳng với nhau (nhóm nào cũng như nhóm nào) Sau khi thực

hiện phân nhóm xã hội, người ta tiếp tục tiến hành sắp xếp thứ bậc giữa các nhóm (nhóm nọ đứng trên nhóm kia, dựa theo khái niệm bất bình đẳng xã hội) để tạo thành các tầng lớp theo tôn ti trật tự và dẫn tới phân tầng xã hội Như vậy, có hai

quy trình cơ bản là phân nhóm và sắp xếp thứ bậc thành các tầng lớp xã hội Điều

này thể hiện hàm ý rằng, nó sẽ quy định phương pháp đo lường các tầng lớp xã hội

cũng có hai quy trình cơ bản tương tự như vậy (phân nhóm và xếp hạng cao thấp)

Phương pháp đo lường các tầng lớp xã hội đã được trình bày trong ba bài viết (Đỗ Thiên Kính, 2011b, 2013, 2015b) Nội dung trình bày ở đây là những điều nhấn mạnh hơn

Để biết phương pháp đo lường các tầng lớp xã hội, cần phải dựa trên các loại nguồn lợi và tài sản chủ yếu nằm bên dưới quy định, chi phối hệ thống phân tầng

Xã hội càng phát triển, các loại nguồn lợi và tài sản chủ yếu ngày càng đa dạng Đó

là do các xã hội công nghiệp càng phát triển, nhiều nguồn lực có giá trị mới xuất hiện David B Grusky đã đưa ra bảng danh mục 07 loại nguồn lực, nguồn lợi và tài sản chủ yếu (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, uy tín ) trong xã hội (Grusky, 2001:4) Trước thực tiễn phát triển của xã hội có nhiều loại nguồn lực và tài sản như thế, vậy thì sẽ dựa vào cơ sở nào để phân loại và xếp hạng các tầng lớp xã hội?

Hoặc liệu có thể vẫn tiếp tục kiên định bám giữ truyền thống là theo thuyết quy

giản (reductionism) về chỉ một loại nguồn lực và tài sản chủ yếu nhất? Đại diện cho cách tiếp cận này là K Marx đã dựa trên một nguồn lực sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX)2 Nếu như vậy, thì sẽ không “bóc tách” được một số tầng lớp khác kiểm soát các loại nguồn lực còn lại Hơn nữa, có những nguồn lực riêng rẽ mà nếu đo lường trực tiếp nó thì rất khó khăn và không khả thi trên thực tế (ví dụ như quyền

lực) Hoặc cách khác là phải tìm hướng đo lường gián tiếp, nhưng là cách đo lường

tổng hợp sao cho “quy tụ” và “hội tụ” được các loại nguồn lực, tài sản chủ yếu đồng

2 K Marx đã dựa trên một nguồn lực sở hữu TLSX dùng để phân chia và xếp hạng thành hai giai cấp đối kháng chủ yếu trong xã hội: Giai cấp tư sản có sở hữu TLSX sẽ đứng trên và bóc lột giai cấp vô sản; còn giai cấp vô sản không

sở hữu TLSX ở dưới và chịu sự bóc lột Như vậy, đối với K Marx thì cơ sở/chiều cạnh dùng để phân nhóm và xếp

hạng thành hai giai cấp được đồng nhất với nhau

Trang 24

hành với nhau để nhằm phân loại và xếp hạng các tầng lớp xã hội Tức là, sao cho

“quy tụ” và “hội tụ” được các loại tài sản, nguồn lực vào cùng mỗi tầng lớp (để tạo nên sự rõ ràng/kết tinh về địa vị – status crystallization – cho mỗi tầng lớp đó) Vậy, làm thế nào để đo lường một cách tổng hợp các loại nguồn lực và tài sản chủ yếu

cùng với nhau (đồng thời với nhau) trong mỗi tầng lớp xã hội thông qua một chỉ

báo đo lường? Tức là, thao tác hóa khái niệm để đo lường thực nghiệm các tầng lớp

xã hội như thế nào? (Giddens, 2001:287) Hoặc là, làm thế nào để nhận biết (nhận diện) được các tầng lớp trong xã hội?

Để giải quyết vấn đề đo lường tổng hợp nêu trên và trả lời những câu hỏi đặt

ra, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách đo lường được tóm tắt trong Bảng 1.2

Bảng 1 2 Tóm tắt một số cách tiếp cận đo lường các tầng lớp xã hội

Cách tiếp cận Các yếu tố đo lường (dùng để phân nhóm và/hoặc xếp hạng)

1 Vị trí trong quan hệ sản

xuất xã hội (1)

Quyền sở hữu và kiểm soát đối với TLSX, vốn tài chính; Kiểm soát đối với sức lao động (mua, bán và quản lý sức lao động); Mức độ tham gia đưa ra quyết định, quyền uy nơi làm việc, quyền lực chính trị, và mức độ độc lập, tự định hướng trong công việc

2 Địa vị kinh tế-xã hội

Trong Bảng 1.2, ba cách tiếp cận đầu tiên thuộc về phương pháp đo lường

khách quan Cách tiếp cận số 4 thuộc về phương pháp đo lường chủ quan Trong

đó, cách tiếp cận số 1 là khó áp dụng vào thực tế nhất để đo lường các tầng lớp xã hội Cách tiếp cận số 2 đã coi nhẹ yếu tố sở hữu/kiểm soát TLSX, tài sản và vị trí trong quan hệ sản xuất (so với cách tiếp cận số 1) Cách tiếp cận số 3 đã bao hàm và khắc phục/vượt qua được cả cách tiếp cận số 1 và số 2 Do đó, đa số các nhà nghiên

cứu trên thế giới đã dựa vào nghề nghiệp để đo lường giai cấp xã hội (Rothman,

2005:6) – tức là dựa vào cách tiếp cận số 3 Sở dĩ như vậy, bởi vì nghề nghiệp là điểm xuất phát hữu ích nhất để người ta có được những nguồn lợi tài chính, địa vị

xã hội và có ý nghĩa lâu dài đối với thế hệ con cái (Rothman, 2005:7) Hơn nữa, nghề nghiệp là biểu hiện và minh họa cụ thể cho lý thuyết chức năng trong việc giải thích vì sao có sự phân tầng xã hội Tức là nó trả lời câu hỏi tại sao người ta lại có được những nguồn lợi khác nhau trong hệ thống phân tầng Thậm chí, kiến thức đo lường thực nghiệm các tầng lớp xã hội qua cấu trúc nghề nghiệp còn được viết trong giáo trình xã hội học trên thế giới:

Trang 25

“Đặc trưng phổ biến của hầu hết các sơ đồ giai cấp là nó dựa trên cơ sở cấu trúc nghề nghiệp [ ] Nghề nghiệp là một trong những nhân tố then chốt nhất trong vị thế xã hội, cơ may cuộc sống và mức độ đầy đủ về vật chất của một cá nhân Các nhà khoa học xã hội sử dụng nghề nghiệp một cách rất phổ biến để làm chỉ báo của giai cấp xã hội, vì họ tin rằng các

cá nhân làm cùng một nghề có xu hướng trải nghiệm những ưu thế xã hội hoặc bất lợi ở mức

độ tương tự nhau, cùng duy trì những phong cách sống gần nhau, và cùng chia sẻ những cơ hội tương tự nhau trong cuộc sống […] Các nhà xã hội học xưa nay vẫn dùng các sơ đồ giai cấp nghề nghiệp để vẽ nên bản đồ cấu trúc giai cấp của xã hội” (Giddens, 2001:287, 305)3

Cụ thể hơn, theo hai quy trình đo lường, người ta đã phân nhóm dựa vào cấu

trúc nghề nghiệp Tức là phân tổ, phân nhóm các loại nghề nghiệp – chứ không phải dựa vào ngành kinh tế như các nhà nghiên cứu ở Việt Nam thường hiểu Tiếp theo,

họ đã xếp hạng theo tôn ti trật tự trên dưới (tức là phân tầng sau khi phân nhóm)

dựa vào địa vị KT-XH mở rộng (Tài sản/của cải, thu nhập; Giáo dục; Uy tín nghề nghiệp; Vốn văn hóa; Vốn xã hội) của mỗi nhóm nghề để tạo thành các tầng lớp trong xã hội (Đỗ Thiên Kính, 2013:97) Sở dĩ như vậy, bởi vì nghề nghiệp là nơi

“quy tụ” và “hội tụ” tương đối đầy đủ các loại nguồn lực, nguồn lợi, tài sản và vị trí

xã hội của mỗi cá nhân Nói cách khác, các loại nguồn lực, nguồn lợi, tài sản và vị trí xã hội thường gắn liền với nhau qua nghề nghiệp của mỗi cá nhân Có thể nói rằng, ba chiều cạnh kinh điển về phân tầng xã hội (kinh tế/tài sản, chính trị/quyền lực và uy tín xã hội) đều thể hiện đồng thời cùng nhau trong nghề nghiệp – theo ngôn ngữ dân gian thì đó gọi là “3 trong 1” Chính vì vậy, mà Parkin (1971:18) đã

coi cấu trúc nghề nghiệp như là “chiếc xương sống của toàn hệ thống nguồn lợi

trong xã hội phương Tây hiện đại” Hoặc là Hauser và Featherman (1977:4) cũng

cho rằng nghiên cứu “cấu trúc di động nghề nghiệp [ ] đã mang lại những thông

tin đồng thời (mặc dù là gián tiếp) về quyền lực địa vị, quyền lực kinh tế và quyền

lực chính trị” Ngay cả Duncan (1968:689-90) và Parsons (1954:326-29) cũng cho

là như vậy (trích lại từ Grusky, 2001:7 – tôi in nghiêng) Từ đây, nghề nghiệp đã thể hiện và minh họa không những cho lý thuyết chức năng, mà cả lý thuyết xung đột (tức là sự kết hợp giữa hai lý thuyết này) trong việc giải thích vì sao có phân tầng xã hội Hơn nữa, sự phân loại và xếp hạng uy tín nghề nghiệp thường có tính khả thi và

độ chính xác cao hơn so với việc thu thập những tiêu chuẩn khác vốn khó đo lường

Như vậy, đa số các nhà xã hội học quốc tế hiện nay đã lựa chọn nghề nghiệp được

hiểu như là bộ tiêu chí (chỉ báo) tổng hợp để phân loại/phân nhóm và xếp hạng các

tầng lớp trong xã hội

Ở xã hội Việt Nam truyền thống ngày xưa, cũng tồn tại cách phân chia và

xếp hạng thứ bậc cho hầu hết dân cư làng/xã theo nghề nghiệp gọi là tứ dân: Sĩ –

Nông – Công – Thương

3 Nguyên văn tiếng Anh như sau: “A common feature of most class schemes is that they are derived on the basis of the occupational structure […] occupation is one of the most critical factors in an individual’s social standing, life chances and level of material comfort Social scientists have used occupation extensively as an indicator of social class because of the belief that individuals in the same occupation tend to experience similar degrees of social advantage or disadvantage, maintain comparable lifestyles, and share similar opportunities in life […] Sociologists have traditionally used occupational class schemes to map the class structure of society.” (Giddens, 2001: 287, 305)

Trang 26

“Người ta vốn quen phân biệt bốn giai cấp hoặc đẳng cấp trong xã hội người Việt: Sĩ (nho sĩ), Nông (nông dân), Công (thợ thủ công) và Thương (người buôn bán) Đấy là một sự phân biệt hoàn toàn đại khái, phần lớn dựa trên nghề nghiệp của từng người hơn là dựa trên vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội Điều đó rất rõ nét trong làng xã người Việt, nơi mà cách phân biệt đó chẳng có giá trị gì lắm” (Nguyễn Văn Huyên, 1995:409).

Như vậy, sự phân loại các tầng lớp xã hội ở làng/xã nông thôn Việt Nam

truyền thống có thể quy giản về tiêu chí nghề nghiệp là chủ yếu Danh từ “nghề

nghiệp” trong tiếng Việt (tôi nhấn mạnh chữ “nghiệp”) như là nơi thể hiện những

cơ may và rủi ro, thành đạt và thất bại đều được “hội tụ” vào cái “nghiệp” để tạo

nên vị thế xã hội của mỗi cuộc đời một con người Như thế, tài liệu lịch sử về xã hội Việt Nam truyền thống đã thể hiện phương pháp đo lường các tầng lớp của xã hội học Thiết nghĩ rằng, những người nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay nên hội nhập với xã hội học quốc tế Điều này cũng là phù hợp với tiêu chuẩn phân chia và sắp xếp tôn ti trật tự giữa các tầng lớp trong lịch sử Việt Nam

Trên đây là những tìm hiểu về phân tầng xã hội và phương pháp đo lường chủ yếu các tầng lớp xã hội như thế nào Phương pháp đo lường chủ yếu này sẽ được áp dụng vào nghiên cứu ở Việt Nam trong Chương II

3 Di động xã hội

Sau quá trình phân nhóm và xếp hạng các tầng lớp được trình bày ở Mục 1 và Mục 2 (Chương I), ta có thể hình dung được mô hình phân tầng xã hội (tháp phân tầng) theo góc nhìn “tĩnh” Còn góc nhìn “động” về mô hình phân tầng xã hội sẽ như thế nào? Tức là, sự di động xã hội của những cá nhân giữa các tầng lớp trong

hệ thống phân tầng ra sao? Sự di động như vậy chính là con đường/phương thức làm thế nào mà người ta ở vào một địa vị KT-XH xác định Từ đây, họ sẽ giành được những nguồn lợi xã hội tương ứng Nói cách khác, góc nhìn “tĩnh” nhằm trả

lời cho câu hỏi: “Ai có được cái gì, và tại sao lại như vậy? – Who gets what, and

why”, thì góc nhìn “động” nhằm trả lời câu hỏi tiếp theo: “Ai tiến lên phía trước, và

tại sao?” (“Who gets ahead, and why?” – Kerbo, 2000:332) Như vậy, trong nghiên

cứu phân tầng, chúng ta không chỉ xem xét sự khác nhau giữa các địa vị KT-XH,

mà còn điều gì xảy ra đối với các cá nhân chiếm giữ những địa vị đó Để trả lời những câu hỏi đặt ra ở đây, ta hãy tiếp tục tìm hiểu trong Mục 3 và Mục 4 (Chương I) về di động xã hội

Di động xã hội thường là sự chuyển dịch trở thành khuôn mẫu của các cá

nhân (nhưng cũng đôi khi là cả nhóm) giữa các địa vị KT-XH khác nhau trong hệ thống phân tầng của bất kỳ xã hội nào (Scott, J., 2009:477; Kerbo, 2000:332, 355) Nói chung, người ta thường phân chia thành di động theo chiều dọc và theo chiều ngang Di động theo chiều dọc là sự chuyển dịch đi lên hoặc đi xuống trong dãy tôn

ti thứ bậc xã hội, nhưng khả năng di động đi xuống ít khi được xem xét (Persell, 1987:228) Sở dĩ như vậy, bởi vì xã hội càng công nghiệp hóa thì khả năng di động

đi lên của các cá nhân càng lớn Điều này giải thích vì sao mà các tầng lớp trung lưu càng lớn trong quá trình công nghiệp hóa (Giddens, 2001:293)

Trang 27

“Với sự xuất hiện cuộc cách mạng công nghiệp, di động đi lên trở nên dễ xảy ra hơn di động

đi xuống, bởi vì công nghiệp hóa có nghĩa là mở rộng các vị trí địa vị cao và được trả lương tốt hơn, trong khi việc làm về nông nghiệp tiếp tục co lại [ ] Sự biến đổi dần dần cơ cấu nghề nghiệp với việc mở rộng việc làm trong khu vực thư ký, kỹ thuật, chuyên môn và sự giảm

đi công việc lao động chân tay và nông nghiệp đã lý giải nhiều cho sự di động đi lên trong các xã hội công nghiệp phương Tây Ngoài những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, sự di động đi lên còn tăng lên bởi những khác biệt giai cấp trong tỷ lệ sinh Giai cấp thượng lưu và trung lưu lớp trên có xu hướng đẻ ít con hơn các gia đình giai cấp hạ lưu, do vậy có thể tạo ra những chỗ trống nghề nghiệp để các cá nhân ở địa vị thấp hơn có thể nhảy vào” (Persell, 1987:229)

Còn di động theo chiều ngang là sự dịch chuyển từ địa vị xã hội này sang địa

vị khác ngang hàng Các nhà nghiên cứu thường quan tâm đặc biệt đến di động theo chiều dọc hơn là di động theo chiều ngang, bởi vì quy mô tổng thể của di động theo chiều dọc cho ta biết được một số điều rất quan trọng về hệ thống phân tầng Chẳng hạn như, mức độ di động theo chiều dọc càng lớn, thì hệ thống phân tầng càng mở

và xã hội càng tiến gần đến sự bình đẳng về cơ hội Hoặc, xã hội trở nên bất bình đẳng hơn là do người ta dựa trên các yếu tố thuộc về trình độ, năng lực và kỹ năng

cá nhân (tức những yếu tố giành đạt được) hơn là quy gán sẵn (Kerbo, 2000:334)

Hoặc cách khác, người ta cũng phân biệt di động xã hội giữa các thế hệ và di động xã hội trong một thế hệ Di động giữa các thế hệ là sự so sánh địa vị KT-XH của cá nhân với địa vị của cha mẹ họ Tức là sự biến đổi địa vị KT-XH từ một thế

hệ này sang thế hệ tiếp theo Còn di động trong một thế hệ là sự di động đi lên hoặc

đi xuống (tức di động theo chiều dọc) của một cá nhân trải qua trong một thời kỳ dài, thậm chí trong cả cuộc đời lao động của họ Trên cơ sở phương pháp đo lường phổ biến các tầng lớp xã hội là dựa vào nghề nghiệp, cho nên các nhà nghiên cứu cũng thường khảo sát di động xã hội thông qua nghề nghiệp Công trình này (ở Chương III) cũng sẽ tập trung nghiên cứu di động theo chiều dọc trong một thế hệ qua sự thay đổi nghề nghiệp của họ (bởi vì giới hạn của nguồn số liệu quy định) Trong nghiên cứu di động xã hội, người ta thường tập trung nhiều vào nghiên cứu

các mẫu hình (patterns – các khuôn mẫu) di động theo chiều dọc đi lên hoặc đi

xuống từ một thế hệ này sang thế hệ tiếp theo trong cấu trúc nghề nghiệp Tức là, có bao nhiêu người di động đi lên hoặc đi xuống so với địa vị của cha mẹ họ, và bao nhiêu người không di động – vẫn giống với cha mẹ, hoặc gọi là kế thừa nghề nghiệp Cả hai loại di động xã hội giữa các thế hệ và di động xã hội trong một thế

hệ đều có thể cho ta biết về mức độ mở (hoặc đóng) của hệ thống phân tầng Nhưng, phần lớn các nhà nghiên cứu thường quan tâm nhiều hơn đến di động xã hội giữa các thế hệ, bởi vì tính có thể kế thừa vị thế nghề nghiệp từ cha mẹ đến con cái được xem xét như là chỉ báo then chốt của sự quy gán sẵn đối lập với sự giành đạt được như thế nào (Kerbo, 2000:335)

“Ở thế kỷ 19, những người lao động chân tay không lành nghề và nửa lành nghề, như công nhân nhà máy và nông dân có trải nghiệm một sự di động nào đó, nhưng nói chung chỉ tiến lên một hai bước trên bậc thang nghề nghiệp (Thernstrom, 1964) [ ] Các mô hình di động ở thế kỷ 20 cũng tương tự Trong một nghiên cứu đồ sộ của họ về hơn 20.000 người đàn ông và

Trang 28

cha họ, Blau và Duncan (1967) thấy rằng sự di động trong một đời và giữa các thế hệ thường xảy ra nhưng hạn chế về phạm vi Hầu hết con người có xu hướng đi lên chỉ một hay hai

bước, và hầu hết các chuyển dịch xảy ra trong nội bộ các khu vực cổ cồn trắng, cổ cồn xanh

hay nông trại hơn là giữa các khu vực nghề nghiệp đó” (Persell, 1987:229-230).

Cuối cùng, đáng chú ý nhất là các nhà nghiên cứu cũng xem xét sự phân chia

di động xã hội thành hai loại di động cấu trúc (structural mobility) và di động trao đổi/tuần hoàn (exchange mobility, circulation mobility), hoặc gọi là di động thuần (pure mobility) – tức là di động phi cấu trúc nói chung (non-structural mobility) Đây là cách phân chia gây ra nhiều tranh cãi hơn cả (Scott, J., 2009:477) Di động cấu trúc là do sự thay đổi của cấu trúc nghề nghiệp tạo ra Đó là sự chênh lệch khác nhau về cấu trúc nghề nghiệp giữa hai thời điểm diễn ra di động xã hội Còn di động tuần hoàn được giải thích như là tổng số của sự chuyển dịch cả đi lên và đi xuống đồng thời (chuyển dịch tuần hoàn) trong cấu trúc nghề nghiệp (Kerbo, 2000:339) Tức là có bao nhiêu cá nhân di động đi lên, thì cũng có bấy nhiêu cá nhân tương ứng di động đi xuống Để hiểu cụ thể hơn về di động cấu trúc và di động tuần hoàn – hai loại di động này sẽ được trình bày ở Mục 4 (Chương I) và ở

Chương III Sự phân chia di động xã hội thành hai loại như thế này là một trong

những cách xem xét nguyên nhân gây ra di động xã hội – nghĩa là trả lời một phần

câu hỏi tại sao: “Ai tiến lên phía trước, và tại sao?” nêu trên Nguyên nhân gây ra di động xã hội theo cách xem xét này sẽ được tiếp tục trình bày về lý thuyết ở Mục 4 (Chương I) và trình bày qua thực nghiệm ở Mục 2 (Chương III)

Học vấn

của bố

Học vấn của con trai

Nghề nghiệp của con trai (1962)

Nghề nghiệp

của bố

Nghề nghiệp đầu tiên của con trai

Hình 1 1 Mô hình cơ bản về quy trình phân tầng xã hội

Nguồn: Dẫn theo Grusky, 2001:394 và Kerbo, 2000:358

Cùng với di động xã hội theo chiều dọc hoặc chiều ngang, người ta cũng

thường tập trung nhiều vào nghiên cứu sự đạt được về địa vị KT-XH Nó đặt ra

câu hỏi tại sao sự di động như vậy (như trên) lại xảy ra, hay không xảy ra? Những nhân tố nào giải thích cho khuôn mẫu di động theo chiều dọc, hay không di động?

Trang 29

Nói cách khác, nghiên cứu sự đạt được về địa vị KT-XH sẽ trả lời cho câu hỏi tại

sao: “Ai tiến lên phía trước, và tại sao?” Đây cũng là một trong những cách xem xét

nguyên nhân gây ra di động xã hội Nội dung nghiên cứu này nhằm tập trung vào

khuôn mẫu của sự chuyển dịch trong cấu trúc nghề nghiệp (Kerbo, 2000:331-332, 357) Blau và Duncan (1967) đã trình bày một khuôn mẫu kinh điển sự chuyển dịch

này trong Mô hình cơ bản về quy trình phân tầng xã hội (tức là quy trình đạt được

về vị thế nghề nghiệp) ở Mỹ năm 1962 (Hình 1.1) trên cơ sở số liệu của hơn 20.000 người đàn ông và cha của họ

Trong khuôn mẫu về di động xã hội ở Hình 1.1 của Blau và Duncan, chiều các mũi tên chỉ sự tác động của nhân tố này đến nhân tố khác: (1) Học vấn của cha tác động đến nghề nghiệp của con trai thông qua học vấn của anh ta; (2) Nghề nghiệp của cha cũng tác động đến nghề nghiệp của con trai thông qua học vấn và nghề nghiệp đầu tiên của anh ta; (3) Trong bốn nhân tố, học vấn của con trai có tác động mạnh nhất đến nghề nghiệp (1962) của anh ta (4) Nhưng dù sao, bốn nhân tố cũng chỉ có thể lý giải được khoảng 43% khác biệt về vị thế nghề nghiệp của con trai (còn khoảng 57% khác biệt – hoặc nguyên nhân/điều gì gây ra vị thế nghề nghiệp của con trai – thì chưa được lý giải) (Kerbo, 2000:358) Phân tích tiếp tục cho thấy, tỉ trọng so sánh giữa tác động của học vấn con trai và tác động của nghề nghiệp bố đến nghề nghiệp của anh ta (1962) là 2,9 trên 1 Phát hiện này đã đưa Blau và Duncan đi đến kết luận rằng sự giành đạt được là quan trọng hơn sự quy gán sẵn trong việc quyết định tình trạng vị thế nghề nghiệp ở Mỹ giữa thế kỷ 20 (Scott, J., 2009:731) Như vậy, từ Hình 1.1 có thể quy giản thành hai loại nhân tố cơ bản tác động để xác định địa vị KT-XH của một cá nhân trong hệ thống phân tầng

Đó là nguồn gốc gia đình (bao gồm học vấn/giáo dục và nghề nghiệp/địa vị KT-XH của cha mẹ - như là sự biểu lộ cho địa vị quy gán sẵn đối với thế hệ con cái) và học

vấn/giáo dục của bản thân cá nhân (đặc biệt là giáo dục bậc cao - như là sự biểu lộ

cho địa vị giành đạt được của họ) Sự phân chia thành hai loại nhân tố cơ bản như

thế này nhằm minh họa và là phù hợp với nội dung lý thuyết phân tầng xã hội được trình bày ở Mục 1 (Chương I) Đó là hai phương thức đạt tới địa vị KT-XH: nhờ dựa vào địa vị quy gán sẵn và địa vị giành đạt được Hai phương thức này thường kết hợp với nhau, trong đó có phương thức nổi trội Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì địa vị giành đạt được càng nổi trội, còn địa vị quy gán sẵn sẽ

mờ dần

“Vị thế nghề nghiệp giữa các thế hệ của các cá nhân xem ra có thể được lý giải bằng hai nhân tố cơ bản – trình độ giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc cao, và nguồn gốc gia đình Bằng cách so sánh thành công tương đối của các anh em trai, Jencks và những người khác (1979) thấy rằng nguồn gốc gia đình lý giải được gần một nửa khác biệt về vị thế nghề nghiệp và khoảng 1/4 khác biệt về số tiền kiếm được hàng năm Nền tảng giáo dục có tác dụng rõ rệt đến vị thế nghề nghiệp và tiền kiếm được Giáo dục xem ra tăng số tiền kiếm được chủ yếu bằng cách mở cửa đến với các nghề nghiệp có địa vị cao (và được trả lương cao)” (Persell, 1987:230)

So sánh giữa hai loại nhân tố cơ bản nói trên cho thấy rằng, mặc dù xã hội càng công nghiệp hóa thì địa vị giành đạt được càng nổi trội hơn địa vị quy gán sẵn,

Trang 30

nhưng nguồn gốc xã hội (trong đó có nguồn gốc gia đình là quan trọng) vẫn có tác

động bền vững đến địa vị KT-XH của con cái (ở xã hội phương Tây) và tác động

đến mọi nhân tố trong quá trình đạt được về địa vị KT-XH (Hình 1.1) Có lẽ đây là

phát hiện then chốt (key finding) trong quá trình này: “Tóm lại, nguồn gốc giai cấp

xã hội không thể không liên quan [đến sự đạt được về địa vị KT-XH – Đỗ Thiên

Kính giải thích]! ” (Rothman, 2005:225) Điều này đã được Raymond Boudon

chứng minh bằng lý thuyết và bằng thực nghiệm trong công trình nổi tiếng của ông (Boudon, 1974) Đồng thời, nó cũng được thể hiện qua sự kế thừa nghề nghiệp là cao hơn ở hai tầng lớp trên đỉnh và dưới đáy của cơ cấu nghề nghiệp (tháp phân tầng xã hội) ở Mỹ Giữa hai cực (tức là các tầng lớp trung lưu) thì sự kế thừa nghề nghiệp ít hơn và sự di động giữa các thế hệ lớn hơn (Kerbo, 2000:356, 374) Điều

đó có nghĩa rằng những người sinh ra ở hai cực đỉnh và đáy tháp phân tầng thường

có xu hướng gắn liền với địa vị của cha mẹ hơn Sở dĩ như vậy, bởi vì giai cấp ở đỉnh tháp thường có sự “khép kín xã hội” cao hơn các giai cấp phía dưới để bảo vệ quyền lợi của họ và ngăn cản không giai cấp trung lưu cho xâm nhập vào giai cấp họ; còn giai cấp lao động (working class – thường dịch sang tiếng Việt là giai cấp công nhân) ở dưới đáy cũng buộc phải chịu đựng sự “khép kín xã hội” và sự bất lợi

của họ, không thể di động đi lên được (Bilton et al., 1993: 94-95)

Khuôn mẫu về di động xã hội ở Hình 1.1 chính là sự trả lời cho câu hỏi tại sao đặt ra ở trên: “Ai tiến lên phía trước, và tại sao?” Tuy nhiên, trong Hình 1.1 vẫn còn khoảng 57% khác biệt về vị thế nghề nghiệp của con trai chưa được lý giải Đồng thời, người ta cũng muốn biết học vấn và nghề nghiệp của bố tác động đến học vấn của con trai như thế nào? Và người ta cũng muốn tìm hiểu những nhân tố khác (không có trong mô hình của Blau và Duncan) lý giải vị thế nghề nghiệp và học vấn của con trai như thế nào? Để trả lời những câu hỏi này, William H Sewell

cùng với các trợ lý của ông đã đưa ra cái gọi là Mô hình Wisconsin nhằm phát triển

tiếp tục mô hình của Blau và Duncan Mô hình Wisconsin đã bổ sung thêm một vài biến số tâm lý xã hội, hoặc thái độ (như khát vọng về học vấn, nghề nghiệp, khả năng trí tuệ và thành tích học tập) nhằm lý giải đầy đủ hơn mô hình gốc của Blau và Duncan Tức là nhằm giải thích tại sao một số người lại đạt được nhiều học vấn và

vị thế nghề nghiệp cao Phát hiện quan trọng trong mô hình Wisconsin cho rằng, địa

vị KT-XH của cha mẹ có tác động đến học vấn và nghề nghiệp của con cái thông qua những nhân tố khác (đặc biệt là khát vọng về học vấn và nghề nghiệp) Như vậy, tầm quan trọng của khát vọng về học vấn và nghề nghiệp trong quy trình đạt được về địa vị KT-XH đã thể hiện ở mô hình Wisconsin Mô hình Wisconsin cũng cho thấy sự đạt được về học vấn có tác động mạnh nhất đến sự đạt được về nghề nghiệp (điều này cũng giống với mô hình của Blau và Duncan) Về tổng thể, mô hình Wisconsin lý giải được khoảng 40% khác biệt về vị thế nghề nghiệp và khoảng 57% khác biệt về học vấn đạt được (Kerbo, 2000:359-361)

Cuối cùng, từ hai mô hình nêu trên, giới xã hội học quốc tế đã trình bày tổng hợp lại chúng trong mô hình mới đầy đủ hơn (Hình 1.2)

Trang 31

g

Hình 1 2 Mô hình đạt được địa vị của di động xã hội

Nguồn: Biên tập lại từ tài liệu của Rothman, 2005:225

Trong Hình 1.2, mô hình của Blau và Duncan được thể hiện qua 5 ô in đậm nằm trên trục chính: Học vấn cha mẹ, Nghề nghiệp cha mẹ, Học vấn, Nghề nghiệp

đầu tiên, Những nghề sau Năm ô này là trục xương sống trong Hình 1.2 Nó thể

hiện cuộc đời cá nhân từ khi sinh ra, trải qua quá trình học tập và trưởng thành để đạt tới những bậc thang xã hội về sau Trong đó, nguồn gốc giai cấp xã hội của cha

mẹ luôn gắn liền theo suốt quá trình này Hai ô còn lại thuộc về mô hình Wisconsin:

Năng lực học tập, trí tuệ và Khát vọng học vấn, nghề nghiệp, v.v… Tóm tắt lại,

Hình 1.2 thể hiện ba giai đoạn của quy trình đạt được về địa vị KT-XH: (1) Giai đoạn thứ nhất: Nguồn gốc giai cấp xã hội của cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến học vấn đạt được, năng lực học tập và những khát vọng của con cái Những khát vọng và năng lực của con cái có tác động độc lập đến quá trình học tập; (2) Giai đoạn thứ hai: Nguồn gốc xã hội và trình độ học vấn có tác động đến nghề nghiệp đầu tiên; (3) Giai đoạn thứ ba: Nguồn gốc xã hội, trình độ học vấn và nghề nghiệp đầu tiên có ràng buộc chặt chẽ đến những nghề sau (Rothman, 2005:224-225) Hình

1.2 là một trong những cách xem xét tương đối đầy đủ nguyên nhân gây ra di động

xã hội

Những kết quả nghiên cứu lý thuyết, cùng thực nghiệm về di động xã hội và

mô hình về quy trình đạt được về địa vị KT-XH trình bày trên đây được đặt trong

bối cảnh rộng lớn hơn Đó là bối cảnh của mối quan hệ giữa quá trình công nghiệp hóa và phân tầng xã hội Tức là, quá trình công nghiệp hóa đã có ảnh hưởng lớn đến

hệ thống phân tầng xã hội như thế nào Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa đất nước hiện nay Chủ đề về mối quan hệ giữa quá trình công nghiệp hóa và phân tầng xã hội đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ những năm 1960~1970 cho đến tận năm 2000 (Imada,

Năng lực học tập, trí tuệ

Khát vọng học vấn, nghề nghiệp, v.v…

Trang 32

2000:51), và tiếp tục sau năm 2000 thì tôi chưa rõ Những nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới đều dựa trên các số liệu thực nghiệm và đã đưa ra một số luận điểm cơ bản (có ý nghĩa như các luận đề kinh điển – classical thesis) về mối quan hệ giữa quá trình công nghiệp hóa và phân tầng xã hội Đặc biêt, Treiman là người đã nghiên cứu và biên soạn lại các luận đề một cách có hệ thống Ông đã lập luận và dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm để đưa ra 24 luận điểm, hoặc phát biểu về chủ đề này trong một bài viết của mình (Treiman, 1970) Các luận điểm tập trung vào những lĩnh vực nghề nghiệp, giáo dục, thu nhập, di động xã hội và quy trình đạt được về địa vị, hậu quả của phân tầng Nhiều nhà xã hội học gọi đó là những luận

đề kinh điển về công nghiệp hóa (Imada, 2000:35-36) Tức là những luận đề nói về tác động của công nghiệp hóa đến hệ thống phân tầng xã hội Trong số 24 luận điểm, có vài luận điểm được thực nghiệm khẳng định là đúng Phần lớn các luận điểm còn là giả thuyết và cần được thực nghiệm kiểm tra Trên cơ sở Hình 1.1, cuốn sách này giới thiệu một số luận điểm về di động xã hội và quy trình đạt được

về địa vị KT-XH (trong bối cảnh tác động của công nghiệp hóa đến phân tầng xã hội) của Treiman đưa ra còn là giả thuyết khi ấy (Treiman, 1970:221):

“I.B.1 Xã hội càng công nghiệp hóa, thì ảnh hưởng trực tiếp của vị thế nghề nghiệp của cha lên vị thế nghề nghiệp của con trai càng giảm

I.B.2 Xã hội càng công nghiệp hóa, thì ảnh hưởng trực tiếp của sự đạt được về học vấn lên vị thế nghề nghiệp càng lớn

I.B.3 Xã hội càng công nghiệp hóa, thì ảnh hưởng của địa vị của cha mẹ lên sự đạt được về học vấn càng giảm

I.B.4 Xã hội càng công nghiệp hóa, thì tỉ lệ di động tuần hoàn càng lớn.”

Những luận điểm công nghiệp hóa của Treiman được dựa trên số liệu thực nghiệm của các nước công nghiệp vào năm 1950s~1960s Những năm tiếp theo về sau, đã có nhiều nhà xã hội học ở Nhật Bản tiếp tục kiểm chứng những luận điểm

này thông qua các cuộc khảo sát Phân tầng xã hội và Di động xã hội (gọi tắt là

SSM) Một số luận điểm tiếp tục được sự ủng hộ bằng số liệu thực nghiệm mới, một số luận điểm khác lại không được sự ủng hộ đó Luận điểm I.B.4 của Treiman cũng sẽ được kiểm chứng trong sách này (Chương III) Vấn đề đặt ra là cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển mở rộng nhằm hoàn thiện hơn những hiểu biết về tác động của công nghiệp hóa đến phân tầng xã hội trong quá trình phát triển của xã hội loài người Hy vọng rằng, các luận điểm trên đây sẽ được những người nghiên cứu ở Việt Nam kiểm chứng là rất thiết thực trong bối cảnh công nghiệp hóa đất nước hiện nay

4 Đo lường di động xã hội

Mục này nhằm tìm hiểu phương pháp đo lường sự thay đổi từ địa vị gốc ban đầu tới địa vị xã hội tại một thời điểm xác định nào đó Trước đây, chỉ số gắn kết (Index of Association) thường được sử dụng rộng rãi trong việc đo lường mức độ gắn kết về địa vị xã hội giữa hai thế hệ Sau đó, chỉ số này tỏ ra sai lệch Vì vậy, Saburo Yasuda (nhà xã hội học Nhật Bản) đã nghiên cứu ra phương pháp đo lường

Trang 33

mới được thể hiện qua chỉ số Yasuda (Yasuda Index) mang tên ông Phương pháp

đo lường di động xã hội giữa các thế hệ của Yasuda và ý nghĩa xã hội học của chúng được trình bày chi tiết trong nguồn tài liệu (Yasuda, 1964, 1971; Kosaka, 1994:54~60, 186~187) Mục này trình bày tóm tắt lại phương pháp đó từ các nguồn tài liệu này dựa trên cơ sở xuất phát từ Bảng 1.3

Bảng 1 3 Đo lường di động xã hội từ thế hệ cha sang thế hệ con

Địa vị xã hội của con

Nguồn: Biên tập lại từ (Yasuda, 1964:17; 1971:70) và (Kosaka, 1994:186)

Ta có Bảng 1.3 vuông (k  k) thể hiện mối tương quan giữa địa vị xã hội của cha và địa vị xã hội của con Công trình nghiên cứu này áp dụng Bảng 1.3 để đo lường sự di động dọc trong một thế hệ Bảng 1.3 thể hiện và biểu lộ (demonstrate)

sự biến đổi của cấu trúc xã hội trong quãng thời gian dài một thế hệ (khoảng 25 năm) Điều này đã thể hiện ý nghĩa xã hội học một cách tổng quát của Bảng 1.3 về

di động xã hội Bảng 1.3 thể hiện hai dòng di động đi ra (outflow mobility) và di động đi vào (inflow mobility) Đây là điều quan trọng khi nghiên cứu về di động xã

hội Dòng di động đi ra chính là các hàng n i. (tỉ lệ % tính theo mỗi hàng = 100%),

còn dòng di động đi vào chính là các cột n .i (tỉ lệ % tính theo mỗi cột = 100%)

Dòng di động đi ra cho thấy những người cha với địa vị xã hội của mình đã sinh ra những người con chiếm giữ các địa vị xã hội hiện tại như thế nào Tức là, dòng di động đi ra cho biết những người cha đã có bao nhiêu người con kế thừa địa vị của

họ và bao nhiêu người con khác di chuyển đến những địa vị xã hội mới (không kế thừa) Mặt khác, dòng di động đi vào xác định rõ nguồn gốc địa vị xã hội trước đây của những người con gia nhập vào các địa vị xã hội hiện tại là từ đâu Tức là, dòng

di động đi vào cho biết hiện tại có bao nhiêu người con được tuyển dụng kế thừa từ địa vị xã hội trước đây của cha mình và bao nhiêu người con còn lại được tuyển dụng từ những địa vị xã hội khác với cha mình (không kế thừa) Như vậy, tiêu điểm

chính của dòng di động đi ra là mức độ kế thừa nghề nghiệp từ cha sang con, còn tiêu điểm chính của dòng di động đi vào là mức độ gia nhập nghề nghiệp hiện tại

của con từ các nghề nghiệp trước đây của cha mình như thế nào

Trang 34

Trong Bảng 1.3, dãy số nằm trên đường chéo chính (n11 nii nkk) thể hiện sự không thay đổi về địa vị xã hội từ cha đến con Những con số còn lại nằm ở hai phía đường chéo chính thể hiện sự di động xã hội: di động đi lên (upward mobility) và di động đi xuống (downward mobility) Tổng số hai loại di động đi lên

và đi xuống chính là tổng số di động thực tế trong Bảng 1.3:

Tổng số di động thực tế = Tổng số di động đi lên + Tổng số di động đi xuống

Như vậy, tổng số di động thực tế (factual mobility, hoặc gross mobility) trong

Bảng 1.3 bằng tổng số N trừ đi tổng số địa vị không thay đổi từ cha sang con (nii), tức là trừ đi tổng dãy số nằm trên đường chéo chính từ n11 đến nkk Biểu diễn bằng công thức toán học ta có:

Tổng số di động thực tế = N — nii (1)

Khi tính toán tỉ lệ di động thực tế trong xã hội từ công thức (1), ta sẽ có:

Căn cứ vào xu hướng thay đổi của tỉ lệ di động thực tế ở công thức (2) ta có

thể biết được xã hội đó vận động như thế nào (vận động đi lên, hoặc tụt lùi, hoặc ổn định không thay đổi) Ví dụ, nếu một xã hội tất cả những người con hoàn toàn có địa vị xã hội giống hệt như những người cha của họ thì ta có thể biết rằng xã hội đó

là đóng kín một cách nghiêm ngặt về mặt cấu trúc xã hội Lúc đó, tỉ lệ di động thực

tế bằng 0 Mặt khác, nếu địa vị xã hội của những người con khác hoàn toàn với cha

của họ thì ta có thể nói rằng xã hội đó đã trải qua một cuộc cách mạng về cấu trúc

xã hội (hình ảnh ví von như là xảy ra một cuộc cách mạng xã hội) Lúc đó, tỉ lệ di động thực tế bằng 1 Điều này cũng thể hiện ý nghĩa xã hội học tiếp theo qua công thức (2) từ Bảng 1.3

Yasuda cho biết, di động thực tế của xã hội được tạo ra bởi di động của các

cá nhân Nó có thể do ba nhóm nguyên nhân: (1) Sự thay đổi khách quan về kết cấu của những tầng lớp trong xã hội; (2) Sự thay đổi về quy mô dân số trong mỗi tầng lớp xã hội khác nhau (sinh, chết, nhập cư, chuyển cư); và (3) Sự thay thế dịch chuyển lẫn nhau của những cá nhân giữa các nhóm địa vị xã hội4 Chúng ta không thể quy gán được di động của từng cá nhân vào một trong ba nhóm nhân tố kể trên

Nhưng chúng ta có thể phân tách được tổng số di động thực tế của toàn xã hội thành hai loại: (a) Di động cưỡng bức, hoặc di động cấu trúc (forced mobility, structural

mobility) được tạo ra do hai nhóm nguyên nhân đầu tiên (tức nguyên nhân thuộc về

cấu trúc); và (b) Di động thuần, hoặc di động tuần hoàn, hoặc di động trao đổi (pure

mobility, circulation mobility, exchange mobility) được tạo ra do nhóm nguyên nhân thứ ba (nguyên nhân không thuộc về cấu trúc) Đồng thời, chúng ta có thể đánh giá được phần đóng góp của mỗi loại di động chiếm bao nhiêu phần trăm (Yasuda, 1964:16) Cụ thể, biểu diễn bằng phương trình toán học ta có:

4 Nguyên nhân thứ ba này được truyền đạt chính xác hơn so với thể hiện trước đây của tác giả (Đỗ Thiên Kính, 2012:151)

N n

N ii

Trang 35

Tổng số di động thực tế5 = Tổng số di động cấu trúc + Tổng số di động tuần hoàn

Di động cấu trúc thể hiện sự thay đổi về địa vị xã hội từ thế hệ cha sang thế

hệ con do hai nhóm nguyên nhân thứ nhất và thứ hai quy định Như thế, nó cũng biểu lộ sự biến đổi cấu trúc xã hội trong quá trình phát triển Cụ thể, tổng số di động cấu trúc trong toàn xã hội là sự khác nhau của những con số thể hiện tần suất ở mép

lề của cha và con trong Bảng 1.36 Khi tính theo tỉ lệ, ta có công thức sau đây (Kosaka, 1994:187):

Ý nghĩa xã hội học của công thức (3) đã được trình bày ở đoạn trên Hoặc, từ hai nhóm nguyên nhân thứ nhất và thứ hai ta sẽ hiểu rõ hơn ý nghĩa của công thức (3)7 Cuối cùng là di động tuần hoàn ở Bảng 1.3:

Số di động tuần hoàn (cho tầng lớp i) = min(ni. , n.i) – nii (Yasuda, 1964:18)8 Hoặc, viết theo cách khác (Yasuda, 1971:91):

Số di động tuần hoàn = n.i – nii nếu ni. > n.i

Số di động tuần hoàn = ni. – nii nếu ni. < n.i

5 Từ Bảng 1.3, người ta cũng phân tách chi tiết hơn nữa rằng, tổng số di động thực tế đi ra khỏi (factual out-mobility)

hàng địa vị thứ 1 của cha bằng (=) tổng số hàng địa vị thứ 1 của cha (n 1 ) trừ đi tổng số địa vị không thay đổi từ cha sang con (n 11 ) Tức là (bằng) = n 1 – n 11 Ở các hàng địa vị khác (hàng thứ i, thứ k) cũng tương tự Khái quát lại ta

có, tổng số di động thực tế đi ra khỏi hàng thứ i (bằng) = ni – n ii (Yasuda, 1964:18; 1971:91)

Mặt khác, tổng số di động thực tế đi vào (factual in-mobility) cột địa vị thứ 1 của con bằng (=) tổng số địa vị cột thứ

1 của con (n 1 ) trừ đi tổng số địa vị không thay đổi từ cha sang con (n 11 ) Tức là (bằng) = n 1 – n 11 Ở các cột địa vị

khác (cột thứ i, thứ k) cũng tương tự Khái quát lại ta có, tổng số di động thực tế đi vào cột thứ i (bằng) = n.i – n ii (Yasuda, 1964:18; 1971:91)

6 Về đại thể, từ Bảng 1.3 di động cấu trúc được hiểu như sau: Di động cấu trúc là sự khác nhau giữa phân bố tần suất

ở mép lề của cha và con trong bảng và nó phản ánh sự thay đổi nghề nghiệp hoặc công nghiệp từ thế hệ cha sang thế

hệ con Nó thường được đo lường bởi phần trăm khác nhau giữa hai mép lề trong bảng (Kosaka, 1994:56) Từ đây, tôi suy ra công thức tính toán tỉ lệ khác nhau giữa hai mép lề trong Bảng 1.3 là = | n i – n i | / N (Kosaka, 1994:57)

7 Từ Bảng 1.3 và công thức (3), người ta cũng phân chia thành di động cấu trúc đi ra khỏi (structural out-mobility) và

di động cấu trúc đi vào trong (structural in-mobility) từng nhóm địa vị xã hội Tổng số di động cấu trúc đi ra khỏi

hàng địa vị thứ 1 của cha bằng (=) tổng số hàng địa vị thứ 1 của cha (n 1 ) trừ đi số nhỏ hơn trong hai số (n 1 ) và (n 1 ) Tức là (bằng) = n 1 – min(n 1 , n 1 ) Ở các hàng địa vị khác (hàng thứ i, thứ k) cũng tương tự Khái quát lại ta có,

tổng số di động cấu trúc đi ra khỏi hàng thứ i (bằng) = ni – min(n i , n i ) (Yasuda, 1964:18) Như vậy, nếu n i  n i (tức

biểu lộ cho sự thu hẹp tầng lớp i – Đỗ Thiên Kính giải thích thêm) thì di động cấu trúc đi ra (bằng) = ni. – n i , còn nếu

n i < n i (tức biểu lộ cho sự mở rộng tầng lớp i – Đỗ Thiên Kính giải thích thêm) thì di động cấu trúc đi ra (bằng) = ni – n i = 0 (Yasuda, 1971:91)

Mặt khác, tổng số di động cấu trúc đi vào cột địa vị thứ 1 của cha bằng (=) tổng số cột địa vị thứ 1 của cha (n.1 ) trừ đi

số nhỏ hơn trong hai số (n 1 ) và (n 1 ) Tức là (bằng) = n 1 – min(n 1 , n 1 ) Ở các cột địa vị khác (cột thứ i, thứ k)

cũng tương tự Khái quát lại ta có, tổng số di động cấu trúc đi vào cột thứ i (bằng) = n.i – min(n i , n i ) (Yasuda, 1964:18) Như vậy, nếu n i  n i thì di động cấu trúc đi vào (bằng) = n i – n i = 0 , còn nếu n i < n i thì di động cấu trúc

đi vào (bằng) = n i – n i (Yasuda, 1971:91)

Từ sự phân chia thành di động cấu trúc “đi ra” và “đi vào” trên đây, Kenji Kosaka cho biết tổng tỉ lệ di động cấu trúc

đi ra và đi vào (Bảng 1.3) đều là = ∑ | n i – n i | / N Do vậy, tổng tỉ lệ di động cấu trúc cho toàn xã hội sẽ bao gồm cả hai hướng “đi ra” và “đi vào” = ∑ | n i – n i | / 2N (Kosaka, 2004) Từ đây, tôi suy ra tỉ lệ di động cấu trúc cho phạm

trù (tầng lớp) i được đo lường bằng tỉ lệ khác nhau giữa hai mép lề trong bảng (Kosaka, 1994:72) sẽ = | ni – n i | / N

8 Từ đây, tôi suy ra tỉ lệ di động tuần hoàn (cho tầng lớp i) = [min(ni , n i ) – n ii ] / N

N

2

| n - n

| i. .i

Trang 36

Tỉ lệ di động tuần hoàn (cho toàn xã hội) được tính toán theo công thức sau

đây (Kosaka, 1994:187):

Ý nghĩa xã hội học của công thức (4) được suy ra từ nhóm nguyên nhân thứ

ba trình bày trên đây Dựa vào xu hướng thay đổi của tỉ lệ di động tuần hoàn ở công

thức (4), ta có thể biết được sự vận động của xã hội là mở (khi dãy chỉ số tăng dần), hay khép kín (khi dãy chỉ số giảm dần), và thậm chí khép kín hoàn toàn (khi di động tuần hoàn bằng 0) Yasuda đã cho biết mối quan hệ giữa di động thực tế, di

động cấu trúc và di động tuần hoàn thông qua ba nhóm nguyên nhân ở trên Người

ta cũng dễ dàng chứng tỏ rằng:

Tỉ lệ di động thực tế = Tỉ lệ di động cấu trúc + Tỉ lệ di động tuần hoàn

Hoặc là: = +

Tóm lại: Từ Bảng 1.3, Yasuda đã trình bày theo cách khác về số di động thực tế, số

di động cấu trúc và số di động tuần hoàn cho phạm trù (tầng lớp) i như sau:

Mặc dù di động xã hội được tạo ra bởi di động của các cá nhân, nhưng các

khái niệm di động thực tế, di động cấu trúc và di động tuần hoàn là những khái

niệm ở cấp độ toàn xã hội, hoặc từng nhóm địa vị xã hội, mà không phải ở cấp độ

cá nhân Trong số các công thức nêu trên, người ta thường đề cập nhiều đến công

thức (4) Sở dĩ như vậy, bởi vì từ công thức (4), người ta có thể tìm ra hệ số mở (coefficient of openness) cho toàn xã hội, hoặc cho từng nhóm/tầng lớp xã hội Hệ

số mở cho từng nhóm/tầng lớp xã hội được tính toán như sau (Yasuda, 1964:18):

N

n n

| i. .i

N

n n

n i i ii

 min( ., .) 

ii i i

ii i i

f n n

n n n

 ) , min(

) , min(

.

Trang 37

Hệ số mở cho toàn xã hội (tức là cho tổng số các nhóm địa vị xã hội) còn gọi

là chi số Yasuda tổng thể (Overall Yasuda Index), gọi tắt là chỉ số Yasuda (Yasuda

Index) sẽ là (Yasuda, 1964:18; Kosaka, 1994:187):

Trong công thức (5) và (6), fii = (ni. × n.i)/N chính là giá trị kỳ vọng (expected

value) với điều giả sử có sự độc lập thống kê Điều này có nghĩa rằng, giả sử số quan sát ở ô nii đạt tới giá trị kỳ vọng, thì ta có thể kết luận rằng những người con ở

ô đó đã di chuyển tới địa vị xã hội mới một cách độc lập hoàn toàn với địa vị xã hội

cũ của cha họ Nói cách khác, địa vị xã hội của cha đã không có tí ảnh hưởng nào

tới địa vị xã hội của con

Cả hai giá trị yii và Y đều bằng 1 khi ô thứ i và tất cả các ô nii trên đường chéo chính đạt giá trị kỳ vọng Lúc đó, di động xã hội ở Bảng 1.3 đạt tới trạng thái

gọi là di động hoàn hảo (perfect mobility) độc lập hoàn toàn với địa vị xã hội của

cha Mặt khác, cả hai giá trị yii và Y đều bằng 0 khi không có di động tuần hoàn, tức

là di động tuần hoàn bằng 0 (Yasuda, 1964:18; Kosaka, 1994:58) Đến khi ấy, di động xã hội ở Bảng 1.3 đạt tới trạng thái gọi là tình trạng xã hội khép kín hoàn toàn

(totally closed)

Một số lưu ý về phuơng pháp đo lường di động xã hội giữa các thế hệ:

(a) Thời điểm so sánh giữa các thế hệ (Yasuda, 1964:20-22)

Khi nghiên cứu di động giữa các thế hệ, việc chọn thời điểm so sánh giữa nghề nghiệp của con trai và của cha là vào khi nào? Đây là yêu cầu quan trọng về mặt phương pháp luận để tính toán chỉ số Yasuda trong Bảng 1.3 sao cho chính xác

và có ý nghĩa Trong cuộc đời của người con trai, từ khi anh ta sinh ra đến khi có nghề nghiệp để sinh sống là khoảng thời gian mà địa vị xã hội của anh ta phụ thuộc

vào địa vị xã hội của cha (hoặc địa vị mượn – borrowed status) Tại thời điểm mà

người con trai có nghề nghiệp để sinh sống là thời điểm đánh dấu sự trưởng thành của anh ta Lúc đó, người con trai đã trưởng thành và độc lập với cha của họ Khi

ấy, để xác định địa vị xã hội của người con trai thì phải dựa vào nghề nghiệp của

anh ta, mà không dựa vào địa vị của người bố nữa Đây là thời điểm có nghề nghiệp

đầu tiên (nghề nghiệp thứ nhất) của cuộc đời con người Cũng tại thời điểm này, địa

vị xã hội của bố thường có ảnh hưởng đến nghề nghiệp đầu tiên của con trai (Yasuda, 1964:20-21) Hoặc đó cũng là thời điểm ghi nhận thành quả hướng nghiệp cho con trai trong suốt quá trình sống phụ thuộc vào cha mẹ để anh ta có được nghề nghiệp đầu tiên Như vậy, nghề nghiệp đầu tiên của con trai có thể giống và cũng có thể khác với nghề nghiệp của cha tại cùng thời điểm đó Điều này đã phản ánh sự

thay đổi nghề nghiệp từ cha sang con trai Đây chính là thời điểm tốt nhất để đo

lường di động xã hội giữa các thế hệ Tức là, việc so sánh nghề nghiệp đầu tiên của người con trai với nghề nghiệp của cha tại cùng thời điểm (cùng thời điểm có nghề

nghiệp đầu tiên của người con trai) là yêu cầu quan trọng trong việc đo lường di

ii i i

f n n

n n n

) , min(

) , min(

.

Trang 38

động xã hội giữa các thế hệ Nếu thỏa mãn yêu cầu này thì phép đo lường mới thể hiện chính xác sự di động giữa các thế hệ Ngoài ra, việc chọn những thời điểm đo lường khác rất có thể dẫn đến những kết quả khác nhau và sẽ không thể hiện chính xác sự di động giữa các thế hệ Ví dụ sau khi có nghề nghiệp đầu tiên, người con trai có thể không thay đổi, hoặc tiếp tục thay đổi sang những nghề nghiệp khác

Điều này nó phản ánh sự di động nội tại trong một thế hệ (intra-generational

mobility) Tức là, sau thời điểm có nghề nghiệp đầu tiên, sự di động trong một thế

hệ đã có thể bắt đầu diễn ra Nếu đo lường di động xã hội vào thời kỳ này thì nó sẽ phản ánh sự di động nội tại trong một thế hệ, mà không thể phản ánh chính xác di động giữa các thế hệ

(b) Gia đình trong di động thế hệ (Yasuda, 1964:22-23)

Chúng ta thường xem xét di động xã hội dưới góc độ của hành vi cá nhân thuần túy, mà lại quên rằng giữa cha và con trai đều cùng thuộc một đơn vị gia đình Do vậy, các nhà xã hội học đã chỉ ra sự cần thiết phải lưu ý đến quan hệ gia đình khi nghiên cứu di động xã hội Dưới đây là trình bày cụ thể hơn

(b.1) Chọn mẫu nghiên cứu là con trai trưởng, hay là con trai thứ?

Trong một gia đình, những người con trai khác nhau sẽ kế tục nghề nghiệp của cha cũng khác nhau Trong đó, người con trai trưởng thường kế tục nghề nghiệp của cha hơn là những người con trai thứ Đặc biệt ở các nước phương Đông – nơi

có truyền thống quyền thừa kế thường dành cho người con trai trưởng – thì vấn đề con trai trưởng kế tục nghề nghiệp của cha lại càng nổi rõ Ví dụ điển hình về vấn

đề này là tầng lớp nông dân trong xã hội Nhật Bản Những hộ gia đình nông dân ở Nhật Bản thường dành cho con trai trưởng sự kế tục nghề nông của gia đình để giữ lấy quyền thừa kế đất đai là vốn quý ở Nhật Bản (Yasuda, 1964:22) Ta có thể suy

ra hai trường hợp khi nghiên cứu về di động xã hội trong tầng lớp nông dân ở Nhật

Bản như sau: (1) Trường hợp thứ nhất, nếu lấy mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm những

người con trai trưởng, thì ta sẽ quan sát thấy sự di động giữa các thế hệ rất ít xảy ra trong tầng lớp nông dân ở Nhật Bản Tức là tầng lớp nông dân ở Nhật Bản là nhóm

xã hội tương đối khép kín và có độ mở rất nhỏ, bởi vì nghề nghiệp của con trai trưởng thường giống với nghề nghiệp của cha họ (2) Trường hợp thứ hai, nếu lấy

mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm những người con trai thứ thì kết quả sẽ khác với trường hợp thứ nhất Lúc đó, ta sẽ quan sát thấy tầng lớp nông dân ở Nhật Bản không còn là nhóm xã hội khép kín như trường hợp thứ nhất nữa Cả hai trường hợp này đều phản ánh sai lệch về di động xã hội giữa các thế hệ Các cuộc điều tra thực nghiệm xã hội học khi tiến hành nghiên cứu thường không rơi vào một trong hai trường hợp kể trên Người ta thường chọn mẫu những người con trai một cách ngẫu nhiên và có thể bao gồm cả con trai trưởng cùng với con trai thứ Nêu ra hai trường hợp ở đây nhằm lưu ý đến điều này khi tiến hành nghiên cứu di động xã hội giữa các thế hệ Nếu ngẫu nhiên rơi vào một trong hai trường hợp như vậy, thì chúng ta

sẽ biết cách giải thích sự sai lệch của kết quả nghiên cứu là do đâu

(b.2) Xác định thế hệ được bắt đầu từ bố, hay là từ con trai?

Trang 39

Thứ nhất là bắt đầu từ con trai Những nghiên cứu về di động xã hội giữa các

thế hệ thường sử dụng người con trai như là xuất phát điểm (tức là dùng làm đơn vị chọn mẫu) để đi tìm thông tin về bố của anh ta Nhưng trong thực tế xã hội, một người cha lại thường có nhiều hơn một người con trai Do vậy, nếu bắt đầu từ những người con trai thì rất có thể sẽ tìm đến và trùng lặp vào cùng một người cha

của họ Như thế, số lượt người cha được gắn vào con trai sẽ nhiều hơn những người

cha trong thực tế Nói cách khác, số lượng người cha sẽ bị “phóng đại” lên, bởi vì một người cha có thể được tính “lặp lại” tới hai lần Tất nhiên, mẫu nghiên cứu thực

tế về những người con trai thì số con trai cùng chung một bố có thể là không đáng

kể Hơn nữa, nếu người ta chọn mỗi hộ gia đình một người con trai đại diện thì số

lượng người bố được tính “lặp lại” sẽ ít đi rất nhiều Thứ hai là bắt đầu từ bố Tuy

nhiên, ta có thể tránh xa trường hợp thứ nhất bằng cách xác định thế hệ được bắt đầu từ bố Tức là, đầu tiên hãy sử dụng người cha làm đơn vị chọn mẫu để đi tìm thông tin về con trai của họ Trong trường hợp này, mỗi người con trai đều có tương ứng một người cha riêng biệt Sẽ không có người bố nào được tính “lặp lại” tới hai lần Tuy nhiên, trường hợp này sẽ có những hạn chế nhất định so với trường hợp thứ nhất Dưới đây là ví dụ minh họa cho hai trường hợp nêu trên (Yasuda, 1964:22~23)

Giả sử ta có một xã hội tưởng tượng X bao gồm 3 hộ gia đình Gia đình A chỉ

có 1 con trai và anh ta kế tục theo nghề của cha Gia đình B có 2 con trai Trong đó, người con trai cả theo nghề của cha, còn người con trai thứ thì không Gia đình C có

3 người con trai Trong đó, một trong hai người con trai thứ theo nghề của cha, hai con trai còn lại thì không Tùy thuộc vào cách phân tích di động giữa các thế hệ mà

ta có những kết quả khác nhau dưới đây:

(b.2.1) Theo cách tiếp cận thông thường và phổ biến, như ở trường hợp thứ nhất là bắt đầu từ tất cả những người con trai, ta có trong xã hội X bao gồm tất cả 6 người con trai trong mẫu nghiên cứu Trong đó, có 3 con trai kế tục nghề của bố và

3 con trai còn lại thì không Như vậy, tỉ lệ kế tục nghề nghiệp là 3 con trai/tổng số 6 con trai = 50% = 0,5 Phần còn lại sẽ là 50% con trai không kế tục nghề của bố Tức

là tỉ lệ di động nghề nghiệp là 50% và tỉ lệ không di động (cố định) nghề nghiệp cũng là 50% Hoặc là dựa vào công thức (2) = (N — nii)/N, ta cũng tính được tỉ lệ

di động nghề nghiệp thực tế là: (6 – 3)/6 = 3/6 = 50% Từ đây suy ra tỉ lệ không di động thực tế cũng là 50%

(b.2.2) Theo cách tiếp cận khác, như ở trường hợp thứ hai là bắt đầu từ tất cả những người cha, ta có trong xã hội X bao gồm tất cả 3 người bố trong mẫu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu sẽ khác hẳn với mục (b.2.1) Cụ thể như sau:

- Ta có thể xem xét theo một cách nhìn và cho rằng tỉ lệ kế tục nghề nghiệp trong

xã hội X là 100%, bởi vì mỗi nghề nghiệp của một người cha đều được một người con trai kế tục

- Cũng có thể xem xét theo cách nhìn khác: Nếu bổ sung thêm tiêu chí chỉ lựa

chọn những người con trai trưởng để gắn vào 3 người cha, thì tỉ lệ kế tục nghề

Trang 40

nghiệp trong xã hội X là 2 người bố/tổng số 3 người bố được những người con trai trưởng kế tục nghề nghiệp Tỉ lệ 2/3 là 66,7% Phần còn lại sẽ là 1/3 = 33,3% người bố không được con trai trưởng kế tục nghề nghiệp Tức là tỉ lệ di động nghề nghiệp là 33,3% và tỉ lệ không di động (cố định) nghề nghiệp là 66,7% Hoặc là dựa vào công thức (2) = (N — nii)/N, ta cũng tính được tỉ lệ di động nghề nghiệp thực tế là: (3 – 2)/3 = 1/3 = 33,3% Từ đây suy ra tỉ lệ không

di động thực tế là 66,7%

- Cuối cùng là cách nhìn khác hẳn với hai trường hợp trên đây: Nếu tính toán tỉ

lệ kế tục nghề nghiệp riêng rẽ cho từng hộ gia đình, thì tỉ lệ kế tục nghề nghiệp

là 100% ở gia đình A, 50% ở gia đình B và 33,3% ở gia đình C, bởi vì ở hai gia đình B và C những người con trai chỉ kế tục một phần nghề nghiệp cha của họ

Từ đây, ta có tỉ lệ kế tục nghề nghiệp trong toàn xã hội sẽ là (100% + 50% + 33,3%)/3 = 61,1%

Trong hai cách tiếp cận kể trên (xuất phát từ cha, hoặc con), cách tiếp cận nào phản ánh sát thực tế nhất về xã hội? Điều đó sẽ phụ thuộc vào từng hoàn cảnh

xã hội cụ thể Nhưng dù sao trong trường hợp thứ hai (tức mục b.2.2), tỉ lệ kế tục nghề nghiệp theo ba cách nhìn kể trên (bằng 100%, 66,7% và 61,1%) đều lớn hơn trường hợp thứ nhất (tức mục b.2.1) bằng 50% Sở dĩ có điều này, bởi vì tỉ lệ kế tục nghề nghiệp được xác định theo phương pháp bắt đầu từ bố thường cao hơn bắt đầu

từ con trai Điều này càng thể hiện rõ hơn trong những xã hội phương Đông – nơi

có truyền thống quyền thừa kế thường dành cho người con trai trưởng (ví dụ, xã hội Nhật Bản chẳng hạn) Như vậy trong ví dụ của xã hội tưởng tượng X trên đây, việc xác định thế hệ được bắt đầu từ con trai hay là từ người bố, đã cho ta hai bức tranh khác hẳn về di động xã hội Dẫn ra hai trường hợp của việc xác định thế hệ được bắt đầu từ đâu là nhằm để lưu ý đến điều này khi tiến hành nghiên cứu di động xã hội giữa các thế hệ Trên thực tế, những nghiên cứu về di động xã hội giữa các thế

hệ thường sử dụng người con trai như là xuất phát điểm để dùng làm đơn vị chọn mẫu

Trên đây là những tìm hiểu về di động xã hội và phương pháp đo lường di động xã hội giữa các tầng lớp như thế nào Phương pháp đo lường này sẽ được áp dụng vào nghiên cứu ở Việt Nam trong Chương III

Tóm lại, dựa trên thực tế lịch sử và những trình bày lý thuyết về phân tầng xã

hội, di động xã hội, ta có thể tóm lược một số đặc trưng cơ bản và các thông số về 8

hệ thống phân tầng xã hội điển hình trong lịch sử loài người như sau:

Bảng 1 4 Các thông số và đặc trưng cơ bản về những hệ thống phân tầng xã hội

điển hình trên thế giới

Ngày đăng: 19/01/2022, 15:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w