1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan trc c cu giai tng xa hi d ph

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 521,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUAN TRẮC CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI ĐỂ PHỤC VỤ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN --- Tham luận tại Hội thảo “Khoa học và công nghệ - Thực trạng và yêu cầu phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long” do

Trang 1

QUAN TRẮC CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI

ĐỂ PHỤC VỤ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

-

Tham luận tại Hội thảo “Khoa học và công nghệ - Thực trạng và yêu cầu phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long” do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại tỉnh Hậu Giang ngày 9/8/2012 In trong: Bộ Khoa học và Công nghệ và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang “Báo cáo tham luận Hội thảo „Khoa học và công nghệ với sự phát triển bền vững của vùng Đồng bằng sông Cửu Long” Tháng 8/2012

GS.TS Bùi Thế Cường Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ

cuongbuithe@yahoo.com

0913-317-950

1 MỞ ĐẦU

Quan trắc là một thuật ngữ quen thuộc trong khoa học tự nhiên và công nghệ Từ điển của Nguyễn Lân giải thích quan sát là xem xét kỹ lưỡng nhằm mục đích tìm hiểu (từ gốc Hán, quan: nhìn xem; sát: xem xét); quan trắc có nghĩa là đo đạc (từ gốc Hán, quan: xem xét; trắc: đo) (Nguyễn Lân 2000, trang 1.480-1.481) Trong khoa học tự nhiên và công nghệ, một trong những thao tác cơ bản và phổ biến là đo lường một cách có hệ thống những đặc trưng cơ bản của một hiện tượng nào đó được nghiên cứu do nhu cầu của thực tiễn Chẳng hạn, đo sự thay đổi của thời tiết, đo chế độ thủy văn, đo sự thay đổi của những yếu tố cơ bản liên quan đến ô nhiễm môi trường (không khí, nước,…) Các nhà khoa học tự nhiên và các nhà làm chính sách, thậm chí người dân bình thường (chẳng hạn ngư dân với bản tin thời tiết) cũng hiểu rất rõ tầm quan trọng của những quan trắc như vậy

Thực ra đây cũng là chức năng và thao tác cơ bản và phổ biến của các ngành khoa học nghiên cứu về xã hội và con người Song, ở Việt Nam, do những lý do nào đó mà tôi chưa rõ, nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu xã hội không hiểu một cách đầy đủ

về ý nghĩa và tầm quan trọng thực tiễn cũng như học thuật của công việc này Trên thực

tế, người ta rất cần sự đo lường có hệ thống và đáng tin cậy về đủ thứ của một xã hội: cơ cấu dân số, dòng di dân, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, sự phân bố của bệnh tật trong dân cư, v.v và v.v

Trong chiến lược nghiên cứu 10 năm (2006-2015), Viện Phát triển Bền vững vùng Nam

Bộ dành sự chú trọng thích đáng của mình đến việc tổ chức những hoạt động quan trắc xã hội Trong năm 2008 và 2010, Viện đã tiến hành ba cuộc khảo sát quy mô lớn về giai tầng xã hội, phúc lợi và văn hóa trên ba khu vực của Nam Bộ: Đông Nam Bộ, TPHCM

và Đồng bằng sông Cửu Long Tổng cộng, ba cuộc khảo sát đã cử điều tra viên trực tiếp đến tận nhà phỏng vấn đại diện của 3.060 hộ gia đình tại 90 xã phường Số xã phường

Trang 2

này được chọn theo thủ tục xác suất ngẫu nhiên, vì thế có độ phân tán cao và mang tính đại diện cho vùng Nam Bộ (Trần Đan Tâm 2010) Bảng hỏi bao gồm hơn 40 câu hỏi tổng hợp (khoảng 400 câu hỏi chi tiết) Bộ số liệu của ba cuộc khảo sát này có tiềm năng lớn

về thông tin, tri thức và tư vấn chính sách

Bên cạnh ba cuộc khảo sát này, năm 2010 Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ còn tiến hành một cuộc khảo sát tương tự riêng cho tỉnh Vĩnh Long Thủ tục chọn mẫu xác suất riêng cho Vĩnh Long dẫn đến tạo ra một bộ số liệu gồm 1.050 hộ gia đình tại 30 xã phường của Vĩnh Long (Bùi Thế Cường 2011b)

Dựa trên các bộ số liệu nói trên, bài viết này nêu lên một vài kết quả về cơ cấu giai tầng

xã hội ở ba khu vực của Nam Bộ, trong đó nhấn mạnh nhiều hơn đến Đồng bằng sông Cửu Long Cuối bài viết, tác giả làm công tác tiếp thị: kiến nghị và kêu gọi các tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long dành sự quan tâm đầu tư cho loại sản phẩm quan trắc khoa học này trong những năm sắp tới

Trong bài viết này, tôi sử dụng địa danh Tây Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thay thế nhau để chỉ cùng một vùng sinh thái đã được Nhà nước quy định chính thức Tuy nhiên, địa danh Đông Nam Bộ ở đây lại không bao gồm TPHCM như quy định chính thức, do trong các cuộc khảo sát của chúng tôi đã tách TPHCM riêng để nghiên cứu Nói cách khác, trong hệ thống khảo sát định lượng và định tính ở Nam Bộ của Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ, chúng tôi phân chia thành ba vùng: Đông Nam Bộ, TPHCM và Tây Nam Bộ (hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long)

Cũng cần lưu ý rằng khảo sát ở Đông Nam Bộ, TPHCM và Vĩnh Long diễn ra trong cùng năm 2010, nhưng cuộc khảo sát ở Tây Nam Bộ diễn ra năm 2008 Do đó, so sánh ở đây cần tính đến sự khác nhau về thời gian Ngoài ra, cần lưu ý đến một hạn chế nữa của bộ

số liệu Đó là, trong khi thủ tục chọn mẫu đạt độ tin cậy cao (reliable), thì do kinh phí có hạn nên quy mô mẫu không thực sự đủ lớn, ảnh hưởng đến tính hiệu lực (valid)

2 CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI TRONG BA VÙNG THUỘC NAM BỘ

2.1 KHUNG PHÂN LOẠI CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI

Dựa trên Hệ thống danh mục nghề nghiệp của Việt Nam, các cuộc khảo sát của chúng tôi

đã đưa ra một khung gồm 10 nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp sau đây (Bùi Thế Cường và

Lê Thanh Sang 2010; Lê Thanh Sang và Nguyễn Thị Minh Châu 2012):

1 Nhóm “Lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan sự nghiệp” bao gồm những người có chức vụ quản lý ở cấp cơ sở trở lên

2 Nhóm “Quản lý công ty” bao gồm những người có chức danh trưởng phó phòng trở lên

3 Nhóm “Chuyên viên kỹ thuật bậc trung, cao”

Trang 3

4 Nhóm “Chủ tư nhân” bao gồm những người chủ các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ

5 Nhóm “Nông dân lớp trên”, bao gồm những người có nhiều ruộng đất, là lao động có

trở lên

6 Nhóm “Công nhân, thợ thủ công lành nghề” bao gồm thợ thủ công có kỹ thuật, thợ có

kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy, thiết bị

7 Nhóm “Nhân viên thương mại dịch vụ” gồm những người làm việc ăn lương trong các cơ sở thương mại, dịch vụ

8 Nhóm “Nông dân lớp giữa”, bao gồm những người có mức ruộng đất trung bình, là lao động có kỹ thuật trong nông lâm ngư nghiệp, có ruộng đất bình quân nhân khẩu

9 Nhóm “Nông dân lớp dưới”, bao gồm những người ít hoặc không có đất, là lao động

có kỹ thuật trong nông lâm ngư nghiệp, có ruộng đất bình quân nhân khẩu hộ dưới

10 Nhóm “Lao động giản đơn” gồm nông dân làm thuê ở nông thôn và lao động làm thuê

Các nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp nói trên được tập hợp vào ba giai tầng, trong đó tầng trên gồm các nhóm 1 đến 5, tầng giữa gồm các nhóm 6 đến 8, tầng dưới gồm nhóm 9 và

10 (Xem Bảng 1 Phụ Lục)

2.2 HÌNH DẠNG CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI

Bảng 2 và Bảng 3 (Phụ Lục) mô tả hình dạng cơ cấu nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp và giai tầng của 3 khu vực ở Nam Bộ Nhìn vào khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, ta thấy

cơ cấu giai tầng có hình con quay thuận (phình ở giữa, đầu trên nhỏ hơn đầu dưới): các

hộ gia đình phân bố vào tầng trên là 17%, tầng giữa 51%, tầng dưới gần 32% Đông Nam

Bộ cũng có cơ cấu xã hội theo hình dạng này Nhưng TPHCM tương phản với hai vùng nói trên Cơ cấu xã hội TPHCM có hình dạng một con quay ngược (phình ở giữa, nhưng đầu trên lớn hơn đầu dưới): tầng trên 32,2%, tầng giữa 53,4%, tầng dưới 14,4%

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhóm chuyên viên kỹ thuật, chủ tư nhân và quản lý công

ty chiếm rất ít trong cơ cấu: các nhóm này tổng cộng là 6,5% Tỷ lệ của các nhóm này ở Đông Nam Bộ cũng tương tự (6,7%) nhưng ở TPHCM lên tới 26,2%, gấp 4 lần Đây là những nhóm đại diện cho khu vực kinh doanh và công nghệ, những động lực quan trọng của phát triển và biến đổi cơ cấu xã hội

Nông dân là lực lượng đa số trong cơ cấu xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long: gần 48% (tương đương với Đông Nam Bộ) Trong đó nông dân lớp trên chiếm 7,2%, lớp giữa chiếm 21,9% và lớp dưới chiếm 18,5% Như vậy nông dân lớp giữa (đóng góp vào giai tầng giữa) và nông dân lớp dưới (tham gia vào giai tầng dưới) ở vùng này chiếm hơn

Trang 4

40% Nhóm công nhân + thợ thủ công chiếm khoảng 10% và nhóm nhân viên cũng có tỷ

lệ tương tự

Về mặt phương pháp phân tích, dựa trên khung 10 nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp và 3 giai tầng nói trên, ta có thể đưa mọi biến số đã được thu thập trong ba cuộc khảo sát nói trên vào phân tích để tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt trong những đặc trưng xã hội khác nhau giữa các nhóm và giai tầng Do khuôn khổ bài viết, dưới đây sẽ chỉ đề cập đến vấn đề thu nhập và sự thay đổi cuộc sống của các hộ gia đình trong thập niên 2000 (2001-2010)

Biểu đồ 1 Cơ cấu giai tầng ở Đông Nam Bộ, TPHCM và Tây Nam Bộ, %

Nguồn: Lê Thanh Sang và Nguyễn Thị Minh Châu 2012

2.3 THU NHẬP VÀ PHÂN PHỐI THU NHẬP

Bảng 4 và Bảng 5 (Phụ Lục) cung cấp bức tranh thu nhập và sự khác biệt thu nhập giữa các nhóm nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân thu nhập trên ba khu vực của Nam

Bộ Thu nhập bình quân nhân khẩu trong một năm của hộ gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long là 11,6 triệu đồng, trong khi đó của Đông Nam Bộ là 17,2 và của TPHCM là

28 triệu đồng Nói cách khác, so với Đồng bằng sông Cửu Long, thu nhập của hộ gia đình

ở Đông Nam Bộ gấp 1,48 lần và ở TPHCM gấp 2,4 lần

Trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, xét theo nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp, chênh lệch thu nhập giữa lao động giản đơn với nhóm có mức chênh lệch cao nhất (chủ

tư nhân) là 4,9 lần Xét theo giai tầng, tầng trên chiếm 17% dân số nhưng chiếm hữu tới 61,6% cái bánh thu nhập, tầng giữa gồm 51% dân số chiếm hữu 28,9% cái bánh thu nhập, tầng dưới chiếm 32% dân số hưởng 9,6% cái bánh thu nhập

Xét theo nhóm ngũ vị phân, 20% hộ giàu sở hữu hơn một nửa cái bánh thu nhập (52,1%), 40% dân cư thuộc nhóm giàu và khá giả sở hữu 72,3% cái bánh, 40% hộ nghèo và cận

Trang 5

nghèo chỉ có 14,2% chiếc bánh.1 Số liệu này cho thấy mức bất bình đẳng thu nhập ở Đồng bằng sông Cửu Long là cao Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, trong một xã hội, khi 40% dân cư bên dưới hưởng 17% chiếc bánh thu nhập thì xã hội ấy được xem là

có mức bất bình đẳng xã hội trung bình Khi 40% dân cư bên dưới chỉ còn hưởng 12%

Biểu đồ 2 Phân phối chiếc bánh thu nhập theo giai tầng, Tây Nam Bộ 2010, % (Chưa gia trọng lại theo tỷ lệ giai tầng trong dân cư)

Biểu đồ 3 Phân phối chiếc bánh thu nhập theo nhóm ngũ vị phân, Tây Nam Bộ 2010, %

Sử dụng hệ số Gini để phân tích mức độ bất bình đẳng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tính toán của nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số Gini cho toàn vùng là 0,469, trong

1

Nhóm ngũ vị phân (20%): tất cả các hộ gia đình được sắp xếp theo mức thu nhập từ thấp nhất đến cao nhất, sau đó dải thứ tự này được chia thành 5 nhóm đều nhau về số lượng hộ gia đình, mỗi nhóm đều có 20% số hộ gia đình

2

Cần nói thêm rằng, Ngân hàng Thế giới là cơ quan quản lý toàn cầu, chịu ảnh hưởng mạnh của chủ nghĩa tự do và không phải là cơ quan “cấp tiến” hoặc “thiên tả” Do đó, tiêu chí này chắc cũng mang tính bảo thủ, “thiên hữu”

Trang 6

đó khu vực đô thị là 0,518 và khu vực nông thôn là 0,445.1

Kết quả này xác nhận lại một lần nữa nhận xét nêu trên rằng mức bất bình đẳng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đạt tới ngưỡng cao (Bùi Thế Cường và Lê Thanh Sang 2010)

2.4 XU HƯỚNG THAY ĐỔI CUỘC SỐNG TRONG GIAI ĐOẠN 2001-2010

Cuộc khảo sát ở Đông Nam Bộ và TPHCM đưa ra tám hình thái thay đổi cuộc sống gia đình trong giai đoạn 2001-2010, yêu cầu đại diện hộ gia đình chọn hình thái phù hợp nhất với gia đình mình Tám hình thái thay đổi đó là: không thay đổi; lên xuống lên; luôn tốt dần; xuống rồi lên; luôn xuống dần; lên rồi xuống; không thay đổi sau đó đi xuống rồi giữ

ở mức thấp; không thay đổi sau đó đi lên và giữ ở mức cao Để có cái nhìn khái quát hơn,

có thể nhóm lại thành ba hình thái chính: không thay đổi, xu hướng nhìn chung thay đổi tốt lên, xu hướng nhìn chung thay đổi kém đi Đáng tiếc là cuộc khảo sát ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2008 không đưa vấn đề này vào thu thập thông tin, nên ở đây chỉ có

số liệu của tỉnh Vĩnh Long năm 2010

Bảng 6 cho thấy một bức tranh với gam màu sáng đối với Đông Nam Bộ, TPHCM và Vĩnh Long Nhìn chung, trên 50% đến trên 60% hộ gia đình trong giai đoạn 2001-2010

có sự thay đổi đi lên, khoảng dưới 1/3 không thay đổi, và dưới 15% có sự thay đổi đi xuống Tuy nhiên, những xu thế này được cơ cấu hóa rõ rệt theo nhóm xã hội-nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân (Bảng 7)

Đối với Vĩnh Long, nhìn chung, khoảng 1/3 số người trả lời cho rằng trong 10 năm qua (2001-2010) cuộc sống gia đình họ không thay đổi, hơn một nửa (51,2%) cho rằng gia đình họ đã có cuộc sống nhìn chung là đi lên, khoảng 15% nói rằng cuộc sống gia đình họ nhìn chung là có xu hướng đi xuống

Hình dạng thay đổi tích cực tăng từ 47,4% trong các hộ gia đình tầng thấp, lên 58,6% ở tầng giữa, và 64,7% ở tầng cao Đặc biệt nhóm tầng giữa có tỷ lệ cao nhất trong hình dạng tiêu cực (19,5%), so với 10% ở tầng cao và 13,7% ở tầng thấp Bức tranh tương phản đặc biệt rõ nếu phân tích sự khác biệt của 5 nhóm ngũ vị phân thu nhập Tỷ lệ hình dạng cuộc sống không thay đổi trong 10 năm 2001-2010 tăng đều từ 20% ở nhóm giàu lên tới 40% ở nhóm nghèo Tỷ lệ có hình dạng thay đổi tích cực giảm từ 70% ở nhóm giàu xuống tới 32,4% ở nhóm nghèo Tin tốt lành là ngay trong giai tầng thấp cũng có tới gần một nửa (47,4%) có sự thay đổi tích cực, trong nhóm nghèo cũng có tới 1/3 (32,4%)

có sự thay đổi tích cực trong cuộc sống của mình

1 Hệ số Gini có giá trị từ 0 đến 1 Càng gần 0 mức bất bình đẳng càng giảm, càng gần 1 mức bất bình đẳng càng cao

Trang 7

Biểu đồ 4 Sự cơ cấu hóa hình dạng thay đổi cuộc sống trong 10 năm 2001-2010 theo giai tầng, Vĩnh Long 2010, %

Biểu đồ 5 Sự cơ cấu hóa hình dạng thay đổi cuộc sống trong 10 năm 2001-2010 theo năm nhóm ngũ vị phân, Vĩnh Long 2010, %

Trang 8

3 QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2013-2015: CÓ NÊN LÀM VÀ CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC KHÔNG?

3.1 NGHIÊN CỨU CỘNG ĐỒNG: TIẾP TỤC QUAN TRẮC BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Tiếp theo những cuộc khảo sát định lượng quy mô lớn trong thời kỳ 2008-2010 như trình bày ở trên, trong hai năm 2011-2012 Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ triển khai cụm các đề tài về nghiên cứu cộng đồng Hiện nay, Viện đang tiến hành nghiên cứu tại 5

xã ở Đông Nam Bộ và 7 xã ở Đồng bằng sông Cửu Long Dự kiến, năm 2012-2013 Viện

sẽ nghiên cứu thêm 3 tới 5 xã phường của TPHCM Như vậy, ước tính trong giai đoạn 2011-2013 cụm đề tài này sẽ nghiên cứu thực địa tại khoảng 15-17 xã phường trên toàn vùng Nam Bộ

Phạm vi nội dung nghiên cứu tại các cộng đồng bao quát từ lịch sử kinh tế-xã hội đến các khía cạnh của đời sống đương đại ở cấp độ cộng đồng cũng như cấp độ gia đình Cụm đề tài nghiên cứu cộng đồng của Viện kết hợp với khảo sát định lượng nói trên nhằm xây dựng một hệ thống quan trắc biến đổi xã hội ở vùng Nam Bộ trong thời kỳ 10 năm

2006-2015

3.2 TIẾP THỊ MỘT SẢN PHẨM KHOA HỌC XÃ HỘI

Hệ thống quan trắc xã hội này sẽ trở nên đồ sộ và phong phú hơn, nếu được thực hiện ở cấp độ từng tỉnh Và sẽ là một tin vui nếu tất cả các tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long đều vui lòng cùng làm

Bài tham luận của tôi xin kết thúc bằng một kiến nghị cụ thể với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: xem xét tính cần thiết, bổ ích và khả thi của việc tiến hành một khảo sát xã hội định lượng mang tính đại diện cao và một nghiên cứu cộng đồng trong thời kỳ

2013-2015 ở tỉnh mình nhằm tạo ra một bộ số liệu quan trắc xã hội có hệ thống cho tỉnh

Chẳng hạn, tại mỗi tỉnh tiến hành khảo sát định lượng tại 30 xã phường (quy mô mẫu có thể là: 30 điểm x 30 hộ = 900 hộ hoặc 30 điểm x 60 hộ = 1.800 hộ) Trên cơ sở đó tiến hành nghiên cứu định tính cộng đồng tại 1/3 số điểm khảo sát (10 xã ấp) hoặc toàn bộ (30

xã ấp) Như thế, ta sẽ có một bộ số liệu định lượng và định tính có hệ thống

Bộ số liệu này sẽ góp phần cung cấp thêm dữ liệu xã hội đầu vào cho quá trình chuẩn bị Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh diễn ra vào năm 2015 và quá trình chuẩn bị Kế hoạch 5 năm 2016-2020

Nếu cứ 5 năm tiến hành một lần nghiên cứu lặp lại, ta sẽ có một hệ thống quan trắc quá trình biến đổi xã hội (chu kỳ lặp lại có thể ngắn hơn, chẳng hạn 3 năm một lần, nếu muốn

và nếu có nguồn lực)

Trang 9

Bộ số liệu này còn được xem là bộ hồ sơ xã hội làm cơ sở cho việc lập và thực hiện chính sách xã hội và công tác xã hội tại các xã phường được khảo sát

Dĩ nhiên, bảng hỏi của khảo sát định lượng cũng như của nghiên cứu cộng đồng có thể được xem xét lại, mở rộng hơn và điều chỉnh, để có được những chỉ số quan trắc biến đổi tốt hơn, phù hợp với yêu cầu khoa học và thực tiễn

Cần nói thêm rằng chi phí trên thực địa cho việc xây dựng bộ số liệu định lượng nói trên

đã tiêu tốn rất ít kinh phí của Nhà nước (do đơn giá lao động của Bộ Tài chính và của các tỉnh được xác định rất rẻ, thấp dưới giá trị lao động rất nhiều) Bộ số liệu mà Viện đã xây dựng nên bao gồm khoảng hơn 400 chỉ tiêu sơ cấp (từ những chỉ tiêu này có thể tạo ra hàng ngàn chỉ tiêu thứ cấp), thu thập từ 3.060 hộ gia đình tại 90 xã phường trên toàn vùng Nam bộ, chỉ tiêu tốn kinh phí Nhà nước khoảng 1 tỷ đồng cho việc thu thập số liệu trên thực địa (của Viện Khoa học xã hội Việt Nam khoảng 800 triệu đồng và của Sở Khoa học và công nghệ TPHCM khoảng 200 triệu đồng) Tổng kinh phí Sở Khoa học và công nghệ TPHCM cấp cho Đề tài này chỉ là 328 triệu, đem về bộ số liệu của 1.080 hộ gia đình sống trên 30 xã phường Tổng kinh phí Sở Khoa học và công nghệ Vĩnh Long cấp cho Đề tài loại này chỉ là 252 triệu, đem về bộ số liệu của 1.050 hộ gia đình sống trên

30 xã phường

CHÚ THÍCH: LỜI TRI ÂN

Nhân dịp này, cho phép tôi, với tư cách tác giả bài viết và người thiết kế và chỉ đạo chung các cuộc khảo sát xã hội định lượng, bày tỏ sự cảm ơn đến PGS.TS Lê Thanh Sang, ThS Nguyễn Thị Minh Châu và ThS Đào Quang Bình đã giúp đỡ tác giả xử lý số liệu sử dụng trong bài viết này Đặc biệt cảm ơn PGS.TS Lê Thanh Sang là người đóng vai trò then chốt không thể thiếu được trong việc triển khai về mặt lý thuyết, phương pháp luận và kỹ thuật cho ý tưởng nghiên cứu của tôi

Cảm ơn ThS Trần Đan Tâm đã có đóng góp rất lớn trong vai trò chỉ huy nghiên cứu thực địa tại Đông Nam Bộ, TPHCM, Tây Nam Bộ; cám ơn ThS Nguyễn Thị Minh Châu trong vai trò chỉ huy nghiên cứu thực địa tại tỉnh Vĩnh Long

Chân thành cảm ơn hàng chục điều tra viên và nhân viên dữ liệu trong và ngoài Viện, cùng hàng trăm cán bộ và hàng ngàn người dân ở địa phương và cơ sở đã nhiệt tâm tạo dựng nên bộ số liệu to lớn này

Trân trọng cảm ơn Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Sở Khoa học và công nghệ TPHCM

và Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh Long đã vui lòng tài trợ cho ý tưởng nghiên cứu của tôi

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Thế Cường 2010a Nam Bộ trong thời kỳ tiến đến 2020: Phát triển bền vững kinh

tế, xã hội và văn hóa Chuyên đề nghiên cứu tổng hợp kết quả của Chương trình đề tài cấp Bộ về Tây Nam Bộ 2006-2008 (CT06-22) và Chương trình đề tài cấp Bộ về Nam

Bộ 2009-2010 (CT09-22)

2 Bùi Thế Cường 2010b Khoa học xã hội Đồng bằng sông Cửu Long góp phần vào sự phát triển vùng giai đoạn 2011-2015 Trong: Tạp chí Khoa học xã hội Số 2/2010 Tr 3-14

3 Bùi Thế Cường 2011a Nghiên cứu xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long: Thử đề xuất một vài hướng nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2015 Tham luận tại Hội thảo

“Khoa học và công nghệ hướng tới Diễn đàn hợp tác kinh tế Đồng bằng sông Cửu

Long” do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Cà Mau tháng 9/2011

4 Bùi Thế Cường 2011b Điều tra cơ bản về cơ cấu xã hội, văn hóa và phúc lợi con người ở tỉnh Vĩnh Long Báo cáo Tổng hợp Đề tài Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh Long

5 Bùi Thế Cường 2012a Cơ cấu xã hội, lối sống và phúc lợi của cư dân TPHCM hiện nay Báo cáo Tổng hợp Đề tài Sở Khoa học và công nghệ TPHCM

6 Bùi Thế Cường 2012b Đi tìm một cách quan trắc biến đổi xã hội phục vụ quản lý

phát triển Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo “Khoa học xã hội và phát triển bền vững Đông

Nam Bộ 2012” do Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ và Ủy ban Nhân dân tỉnh

Đồng Nai phối hợp tổ chức ngày 12-13/7/2012 tại Thành phố Biên Hòa

7 Bùi Thế Cường, Lê Thanh Sang 2010 Một số vấn đề về cơ cấu xã hội và phân tầng

xã hội ở Tây Nam Bộ: Kết quả từ cuộc khảo sát định lượng năm 2008 Trong: Tạp chí Khoa học xã hội Số 3(139)/2010 Tr 35-47

8 Bùi Thế Cường, Trần Đan Tâm, Lê Thanh Sang 2009 Điều kiện sống, sử dụng thời gian rỗi, và cảm nhận của người dân về cuộc sống qua một khảo sát định lượng ở miền Tây Nam Bộ Trong: Tạp chí Khoa học xã hội Số 8(132)/2009 Tr 11-17

9 Lê Thanh Sang và Nguyễn Thị Minh Châu 2012 Cơ cấu phân tầng xã hội ở Đông Nam Bộ trong tầm nhìn so sánh với Thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ Tham

luận tại Hội thảo “Khoa học xã hội và phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ 2012”

do Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ và Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai phối hợp tổ chức ngày 12-13/7/2012 tại Thành phố Biên Hòa

10 Nguyễn Lân 2000 Từ điển từ và ngữ Việt Nam TPHCM: Nxb TPHCM

11 Trần Đan Tâm 2010 Chọn mẫu cho ba cuộc khảo sát “Cơ cấu xã hội, văn hóa và phúc lợi xã hội” tại vùng Nam Bộ Tạp chí Khoa học xã hội Số 7(143) Trang 83-91

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4 và Bảng 5 (Phụ Lục) cung cấp bức tranh thu nhập và sự khác biệt thu nhập giữa các nhóm nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân thu nhập trên ba khu vực của Nam  Bộ - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
Bảng 4 và Bảng 5 (Phụ Lục) cung cấp bức tranh thu nhập và sự khác biệt thu nhập giữa các nhóm nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân thu nhập trên ba khu vực của Nam Bộ (Trang 4)
Biểu đồ 4. Sự cơ cấu hóa hình dạng thay đổi cuộc sống trong 10 năm 2001-2010 theo giai tầng, Vĩnh Long 2010, %  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
i ểu đồ 4. Sự cơ cấu hóa hình dạng thay đổi cuộc sống trong 10 năm 2001-2010 theo giai tầng, Vĩnh Long 2010, % (Trang 7)
Biểu đồ 5. Sự cơ cấu hóa hình dạng thay đổi cuộc sống trong 10 năm 2001-2010 theo năm nhóm ngũ vị phân, Vĩnh Long 2010, %  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
i ểu đồ 5. Sự cơ cấu hóa hình dạng thay đổi cuộc sống trong 10 năm 2001-2010 theo năm nhóm ngũ vị phân, Vĩnh Long 2010, % (Trang 7)
Bảng 1. Nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp dựa trên Danh mục nghề nghiệp Việt Nam và giai tầng dựa trên nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
Bảng 1. Nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp dựa trên Danh mục nghề nghiệp Việt Nam và giai tầng dựa trên nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp (Trang 11)
Bảng 3. Phân bố hộ gia đình vào các nhóm xã hội-nghề nghiệp và giai tầng ở ba vùng thuộc Nam Bộ theo đô thị và nông thôn; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Tây Nam  Bộ 2008; %  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
Bảng 3. Phân bố hộ gia đình vào các nhóm xã hội-nghề nghiệp và giai tầng ở ba vùng thuộc Nam Bộ theo đô thị và nông thôn; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Tây Nam Bộ 2008; % (Trang 13)
Bảng 4. Thu nhập theo nhóm xã hội-nghề nghiệp ở ba vùng thuộc Nam Bộ; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Tây Nam Bộ 2008  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
Bảng 4. Thu nhập theo nhóm xã hội-nghề nghiệp ở ba vùng thuộc Nam Bộ; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Tây Nam Bộ 2008 (Trang 14)
Bảng 5. Phân chia thu nhập theo nhóm xã hội-nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân thu nhập ở ba vùng thuộc Nam Bộ; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Tây Nam  Bộ 2008; %  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
Bảng 5. Phân chia thu nhập theo nhóm xã hội-nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân thu nhập ở ba vùng thuộc Nam Bộ; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Tây Nam Bộ 2008; % (Trang 15)
Bảng 6. Hình dạng thay đổi cuộc sống của gia đình trong 10 năm qua (2001-2010) ở ba vùng thuộc Nam Bộ; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Vĩnh Long 2010, %  - Quan trc c cu giai tng xa hi d ph
Bảng 6. Hình dạng thay đổi cuộc sống của gia đình trong 10 năm qua (2001-2010) ở ba vùng thuộc Nam Bộ; Đông Nam Bộ 2010, TPHCM 2010, Vĩnh Long 2010, % (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w