1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phuc li xa hi va cong tac xa hi vi

7 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 257,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một mảng hiện thực xã hội, phúc lợi xã hội có thể được xem xét như là một hệ thống hay một thiết chế, mà chức năng xã hội của nó là đảm bảo những nhu cầu xã hội thiết yếu của các tầng

Trang 1

phúc lợi xã hội và công tác xã hội ở việt nam

Bùi Thế Cường

Khái niệm phúc lợi xã hội

Thuật ngữ phúc lợi xã hội đã được sử dụng từ vài chục năm qua ở Việt Nam với những phạm vi khác nhau Từ những năm 60, thuật ngữ này sử dụng ở miền Bắc để chỉ những chế độ chính sách áp dụng cho cán bộ công nhân viên nhà nước (chẳng hạn, quỹ phúc lợi xã hội xí nghiệp), đây là một thực tế vẫn tồn tại đến ngày nay Đôi khi cũng thấy thuật ngữ "phúc lợi hợp tác xã" khi nói đến những chế độ chính sách cho xã viên các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, cũng như những thành viên gia đình ăn theo Sau này, người ta sử dụng một số thuật ngữ khác, như an toàn xã hội, bảo đảm xã hội, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội,

Là một mảng hiện thực xã hội, phúc lợi xã hội có thể được xem xét như là một hệ thống hay một thiết chế, mà chức năng xã hội của nó là đảm bảo những nhu cầu xã hội thiết yếu của các tầng lớp dân cư theo những điều kiện của cấu trúc xã hội Như vậy, nội dung của phúc lợi xã hội tùy thuộc vào phạm vi những nhu cầu thiết yếu xã hội, đồng thời việc xác định những nhu cầu này do cấu trúc xã hội quy định Thông thường, phạm vi các nhu cầu xã hội cơ bản này liên quan đến nhu cầu về lương thực thực phẩm, việc làm và phát triển nghề nghiệp, thu nhập, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và học tập Với chức năng như vậy, phúc lợi xã hội có vai trò lớn trong việc khắc phục khác biệt xã hội, tăng cường liên kết xã hội và đảm bảo ổn định chính trị-xã hội (Harol L Wilensky & Charles N Lebeaux, 1965; International Labour Conference, 1993; Manfred G Schmidt, 1988)

Phúc lợi xã hội thường được phân tích từ bốn tiếp cận dưới đây:

• Chính trị học phúc lợi xã hội (khía cạnh quyền lực và chính sách)

• Kinh tế học phúc lợi xã hội (khía cạnh kết quả và hiệu quả của phúc lợi xã hội về mặt kinh tế và tài chính)

• Xã hội học phúc lợi xã hội (nghĩa hẹp: khía cạnh nhân khẩu, xã hội và văn hóa của các nhóm xã hội tham gia vào hệ thống phúc lợi xã hội)

• Quản lý phúc lợi xã hội (khía cạnh quản lý, tổ chức và hành chính)

Để kết nối bốn tiếp cận này cần có một tiếp cận chung (xã hội học phúc lợi xã hội hiểu

Bài viết trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ năm 2000 của Viện Xã hội học “Phúc lợi xã hội Việt Nam: hiện trạng và xu hướng” (VNSW 2000)

Trang 2

theo nghĩa rộng) Giống như việc nghiên cứu mọi hệ thống xã hội, phương thức hay là cái cách thức tổng quát mà hệ thống này thực hiện chức năng xã hội của nó là một điểm quan trọng của nghiên cứu, vì nó đem lại chìa khóa để hiểu sự vận hành cụ thể của hệ thống

Đổi mới và phúc lợi xã hội

Trong những năm 90, xã hội Việt Nam thay đổi mạnh mẽ về cấu trúc xã hội và văn hóa, do quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn mang nặng tính nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Ba thiết chế trụ cột trong một nhà nước hiện đại là chính trị, kinh tế và phúc lợi xã hội Hệ thống phúc lợi xã hội có vai trò thiết yếu vì nó nhằm đảm bảo các nhu cầu xã hội cơ bản của các tầng lớp dân cư và hình thành nên những quan hệ xã hội Với chức năng như vậy, phúc lợi xã hội có tác động lớn trong việc giảm khác biệt xã hội và tăng cường liên kết xã hội (International Labour Conference, 1993)

Kinh nghiệm những năm đầu Đổi Mới cho thấy, trong những năm 1988-1993 việc duy trì ở mức cao ngân sách nhà nước dành cho phúc lợi xã hội đã góp phần vào việc chuyển đổi thành công nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang thị trường trong giai đoạn đầu tiên của nó (The World Bank, 1995) Kinh nghiệm gần đây chỉ ra rằng hệ thống phúc lợi xã hội sẽ tiếp tục có vai trò ngày càng tăng khi tiến trình Đổi Mới

đi vào chiều sâu

Chương trình nghị sự lĩnh vực phúc lợi xã hội của nhà nước đang đặt ra một loạt những vấn đề bức xúc cần có những giải pháp vừa cơ bản vừa cấp bách Chẳng hạn, cuộc Điều tra hộ gia đình đa mục tiêu do Tổng cục thống kê tiến hành trong thời kỳ 1994-1997 cho thấy khoảng cách chênh lệch giàu nghèo không thu hẹp mà đang tăng lên Năm 1994, mức chênh lệch giữa 20% hộ giàu nhất và 20% hộ nghèo nhất là 6,5 lần Mức chênh lệch này là 7,3 lần vào năm 1996 20% hộ giàu nhất chiếm 47%, trong khi 20% hộ nghèo nhất chỉ chiếm có 6,4% tổng thu nhập năm 1996 (Tổng cục thống kê, 1998).1 Trong khi mức chi phúc lợi xã hội là khá lớn, việc phân tích cơ cấu chi xã hội do Ngân hàng Thế giới tiến hành đi đến nhận xét chính sách xã hội của Việt Nam chưa thật sự cho người nghèo (non pro-poor The World Bank, 1995; Ngân hàng thế giới, 1999; David Preston, 1999)

Nghiên cứu phúc lợi xã hội

Trong 15 năm Đổi Mới, cùng với sự bùng nổ của nghiên cứu khoa học xã hội, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống phúc lợi xã hội

ở cấp quốc gia, trong thời kỳ 1991-1995 đã có Chương trình nghiên cứu quốc gia

KX-04 về hệ thống chính sách xã hội và quản lý xã hội

Một phần đáng kể trong các mối quan tâm của các cơ quan hợp tác quốc tế đa phương

và song phương (UNDP, UNICEF, Ngân hàng Thế giới, các NGO quốc tế, ) là phúc lợi xã hội Do đó, trong khu vực này đã tiến hành nghiên cứu và công bố hàng loạt những công trình liên quan đến các vấn đề nghèo khổ, bảo đảm xã hội, các nhóm xã hội thiệt thòi, v.v

Nhiều công trình và báo cáo về các khía cạnh khác nhau của phúc lợi xã hội đã được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có chức năng trong lĩnh vực này như Quốc hội, Bộ Y tế,

Bộ Giáo dục, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em, ủy

1 Số liệu cuộc Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 1998 cũng đưa ra những chỉ số tương tự (Tổng cục thống kê, 1999)

Trang 3

ban Dân tộc Miền núi, ủy ban Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình,

Hiện nay đã chín muồi một nhu cầu hệ thống hóa lại khối lượng tài liệu phong phú đã tích lũy được trong thời kỳ Đổi mới, trên cơ sở một lý thuyết nhất định về phúc lợi xã hội, nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp cho việc định hình một hệ thống phúc lợi xã hội mới

Sơ đồ 1: Ba mô hình phúc lợi xã hội ở Việt Nam

Phúc lợi xã hội truyền

thống

• Gia đình

• Gia đình mở rộng, họ hàng

• Cộng đồng (hàng xóm, làng xã, các hiệp hội,

tổ chức tôn giáo, v.v )

• Nhà nước

• Phúc lợi xã hội làng xã: gia đình và gia đình mở rộng đóng vai trò đầu tiên, nhưng dòng họ và các thiết chế cộng đồng có vai trò rất quan trọng

• Nhà nước đưa ra khuôn khổ luật pháp và các

điều chỉnh đối với phúc lợi xã hội làng xã

Phúc lợi xã hội dựa

trên nền kinh tế kế

hoạch hóa xã hội

chủ nghĩa

(từ cuối những năm

1950 ở miền Bắc và

từ cuối những năm

1970 trên cả nước

đến cuối những năm

1980)

• Nhà nước

• Cơ quan/xí nghiệp nhà nước

• Hợp tác xã

• Đoàn thể quần chúng

• Cộng đồng

• Tổ chức quốc tế

• Bảo đảm xã hội toàn dân thông qua việc gắn người dân vào hệ thống phúc lợi xã hội khu vực nhà nước và tập thể

• Phát triển bảo hiểm xã hội cho người lao động trong khu vực nhà nước và một hệ thống bảo

đảm xã hội cho khu vực tập thể, đặc biệt ở nông thôn

• Nhấn mạnh vào kế hoạch hóa và quản lý của nhà nước trung ương đối với phúc lợi xã hội

Phúc lợi xã hội dựa

trên nền kinh tế thị

trường định hướng xã

hội chủ nghĩa

(từ cuối những năm

1980 đến nay)

• Nhà nước

• Tổ chức kinh doanh/đơn vị cơ quan nhà nước và không nhà nước

• Đoàn thể quần chúng

• Gia đình

• Cộng đồng

• Xã hội dân sự

• Cá nhân

• Tổ chức quốc tế

• Nhà nước đóng vai trò nòng cốt, đồng thời thu hút và phát huy sự tham gia của mọi thành phần, lĩnh vực vào phúc lợi xã hội

• Thừa nhận và nâng cao vai trò của khu vực tư nhân

• Tăng cường vai trò của nhà nước địa phương

• Đề cao vai trò của hộ gia đình

• Mở rộng bảo đảm xã hội và bảo hiểm xã hội cho toàn dân, cho mọi khu vực xã hội

• Tăng cường tự chủ kinh tế và hành chính cho các tổ chức bảo hiểm xã hội nhà nước

• Mở rộng giúp đỡ quốc tế

Nguồn: Bui The Cuong, Truong Si Anh, Daniel Goodkind, John Knodel and Jed Friedman Vietnamese Elderly Amidst Transformations in Social Welfare Policy PSC Reports 1999

Ba mô hình phúc lợi xã hội

Sơ đồ 1 mô tả ba kiểu phúc lợi xã hội mà Việt Nam đã và đang trải qua Tôi tạm gọi ba kiểu này là phúc lợi xã hội truyền thống, phúc lợi xã hội của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa tập trung và phúc lợi xã hội của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cột 2 trình bày những thiết chế (tác viên) cơ bản tham gia vào việc vận hành hệ thống phúc lợi xã hội Cột 3 thể hiện những đặc điểm (nguyên tắc) vận hành chính của mỗi hệ thống

Ba kiểu phúc lợi xã hội nêu trên trước hết là các mô hình được trừu tượng hóa từ thực

tế Về mặt lịch sử, chúng lần lượt thay thế nhau theo thời gian Tuy nhiên, thực tế hiện nay

là sự pha trộn, kết hợp theo những cách thức khác nhau của cả ba kiểu phúc lợi xã hội đó

Trang 4

Hiện trạng phúc lợi xã hội

Dựa trên những quan sát và nghiên cứu trong thời gian qua, dưới đây tôi thử đưa ra

15 nhận xét có tính chất như là những giả thuyết liên quan đến hiện trạng của phúc lợi xã hội nước ta trong những năm 90 Các giả thuyết này cần được kiểm chứng bởi những nghiên cứu thực nghiệm thích hợp

1 Thực tế phúc lợi xã hội hiện đại ở Việt Nam thời gian qua đã trải qua ba mô hình phúc lợi xã hội được mô tả trong sơ đồ 1 Quá trình này không dẫn đến việc thay thế nhau hoàn toàn, mà mô hình ở giai đoạn trước còn bảo lưu nhiều đặc điểm trong giai đoạn sau, dẫn

đến một sự kết hợp, pha trộn của cả ba mô hình trong thời điểm hiện nay Kiểu quá độ trên

đã giúp cho nhà nước và xã hội Việt Nam trải qua (khắc phục) một cách thành công nhiều biến cố (khó khăn) lịch sử như chiến tranh, khủng hoảng, cấm vận, chuyển đổi mô hình kinh tế-xã hội Nhưng bên cạnh đó, chính kiểu quá độ này cũng tạo ra những khó khăn và thách thức rất lớn mà hệ thống phúc lợi xã hội đang phải đương đầu

Liên quan đến những giả thuyết trên, nổi lên một thực trạng là còn thiếu những công trình nghiên cứu phúc lợi xã hội cơ bản nhằm phân tích lĩnh vực này từ góc độ lý thuyết để xác định kiểu hệ thống phúc lợi xã hội hiện nay ở nước ta, cũng như góp phần định hình lại

hệ thống này trên một cơ sở lý thuyết nhất định

2 Những năm 1990 được đánh dấu như là một thời kỳ phát triển nhanh chóng khuôn khổ pháp lý và chính sách cho lĩnh vực phúc lợi xã hội dựa trên thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

3 Phúc lợi xã hội là một lĩnh vực được nhà nước quan tâm đầu tư cao so với nhiều nước có trình độ kinh tế tương tự, song kết quả và hiệu quả đầu tư còn là một vấn đề bức xúc

Đặc biệt khía cạnh kinh tế học phúc lợi xã hội rất bị xem nhẹ

4 Đang nổi lên những trở ngại căn bản trong một số thành tố cơ bản của hệ thống phúc lợi xã hội, trước hết trong bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội trong y tế, và phúc lợi xã hội trong giáo dục Một điểm chung của những trở ngại này là nhiều mặt trong hệ thống phúc lợi xã hội đã thị trường hóa mà thiếu một khung khổ quản lý chính thức có hiệu quả Điều này thể hiện rõ trong lĩnh vực phúc lợi xã hội y tế và giáo dục

5 Phúc lợi xã hội dân sự (không phải truyền thống) đã phát triển mạnh, nhưng khung khổ thể chế và quản lý cho khu vực này còn đi chậm hơn sự phát triển của nó khiến cho không giải phóng được mọi tiềm năng của khu vực này

6 Phúc lợi xã hội trong khu vực sản xuất kinh doanh (nhà nước và phi nhà nước) chưa

được cấu trúc lại một cách căn bản, dẫn đến một mặt còn thiếu nhiều chính sách phúc lợi cần thiết, mặt khác nhiều chính sách phúc lợi gây cản trở cho tăng trưởng và hiệu quả kinh tế Vấn

đề thất nghiệp, thất nghiệp trá hình, thừa nhân công trong các tổ chức, năng suất lao động thấp, thiếu các chế độ bảo vệ xã hội cho người làm công, là những ví dụ nổi bật

7 Còn thiếu những chính sách phúc lợi xã hội có hệ thống cho một số lĩnh vực quan trọng, chẳng hạn phúc lợi xã hội trong hệ thống tư pháp (tòa án, nhà tù, nhà giáo dưỡng, nhà tập trung, )

8 Đa dạng hóa phúc lợi xã hội theo tất cả mọi nghĩa (khu vực, vùng, phương cách, )

đã mở rộng nhanh chóng trong những năm 1990, đáp ứng được nhu cầu phúc lợi xã hội ngày càng cao của dân cư Nhưng nó cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý phúc lợi xã

Trang 5

hội nhà nước Công tác quản lý này đang đi rất chậm so với nhu cầu

9 Đang diễn ra quá trình phi tập trung hóa hệ thống quản lý phúc lợi xã hội Tuy nhiên quá trình này còn thiếu những khung khổ thể chế, chính sách và quản lý có hiệu quả

10 Nghiên cứu và đào tạo cán bộ phúc lợi xã hội (bao gồm cán bộ công tác xã hội và người làm chính sách xã hội) đã được thúc đẩy trong những năm 1990 Tuy nhiên, tình trạng nghiên cứu và đào tạo còn rất lỗi thời về mặt lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật Mặc dù đã xuất hiện trong thực tế, song vẫn còn thiếu một sự nhân rộng đối với hình mẫu nhà nghiên cứu phúc lợi xã hội chuyên nghiệp cũng như người cán bộ phúc lợi xã hội hiện đại Còn rất ít những giáo trình tốt, những công trình nghiên cứu cơ bản về phúc lợi xã hội

Truyền thống công tác xã hội đa dạng

Trong bài này tôi hiểu công tác xã hội là làm việc với lĩnh vực phúc lợi xã hội hiểu theo nghĩa rộng Công tác xã hội Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều nguồn gốc hợp thành, như: truyền thống giúp đỡ lẫn nhau được quy định trong hệ thống gia đình và thân tộc, trong nền văn hóa làng; các giá trị và chuẩn mực của Nho giáo, Phật giáo và Thiên chúa giáo; công tác xã hội trong hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa; công tác xã hội theo mô hình của các nước công nghiệp phát triển

Đổi Mới mở ra một thời kỳ cho công tác xã hội với những thách thức và cơ hội mới Nảy sinh những vấn đề xã hội từ lâu chưa được biết đến với những quy mô như ngày nay Hình thành khuôn khổ thể chế mới cho hoạt động công tác xã hội, như việc xuất hiện những chủ thể công tác xã hội mới (chẳng hạn, khu vực công tác xã hội ngoài nhà nước), phân bố lại cấu trúc các vai trò công tác xã hội Xuất hiện những tiếp cận, nguyên lý và phương pháp công tác xã hội mới Thực tế chuyển đổi hiện nay ở Việt Nam có lẽ là một trong những không gian thử nghiệm lý thú nhất cho công tác xã hội với tính cách là một chính trị, một khoa học, một nghệ thuật

Đóng góp vừa qua của công tác xã hội

Công tác xã hội đã có đóng góp như thế nào trong quá trình chuyển đổi vừa qua? Cho

đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách hệ thống để có cơ sở khoa học cho câu trả lời Nhưng hàng loạt những nghiên cứu lượng giá đối với các chương trình hay

dự án cụ thể đã vẽ nên một bức tranh với nhiều điểm sáng, có thể tóm tắt như sau:

1 Chính sách nhà nước coi trọng lĩnh vực xã hội đã dẫn đến việc phát triển một loạt các chương trình xã hội lớn ở các cấp hành chính khác nhau Điều này tác động một cách quyết định đến việc cải thiện hoàn cảnh xã hội cho đông đảo quần chúng ở mọi vùng đất nước cũng như cho những nhóm xã hội chịu thiệt thòi Bằng chứng rõ rệt là mức nghèo khổ đã giảm từ khoảng một nửa số hộ gia đình xuống còn 30-35% trong thời kỳ 1993-1998, dựa trên

số liệu hai cuộc khảo sát mức sống dân cư Hầu như không có nước nào trên thế giới đạt được mức độ và tốc độ giảm nghèo thành công như vậy trong thập niên 90

2 Các đoàn thể quần chúng, vốn được nhà nước hỗ trợ mạnh mẽ và có hệ thống tổ chức từ trung ương đến cơ sở, lại có bề dày kinh nghiệm công tác quần chúng, đã có nhiều cố gắng nhằm khắc phục nhược điểm, đổi mới phương thức hoạt động của mình thích hợp với tình hình mới

3 Khuôn khổ chính sách do Đổi Mới đem lại đã tạo nên một lĩnh vực hoạt động công tác xã hội phong phú mới, bên cạnh các cơ quan và đoàn thể chính thức Đó là hoạt

Trang 6

động của các tổ chức công tác xã hội được thành lập bởi những người tình nguyện, như các

tổ chức giúp đỡ trẻ em, người già, người khuyết tật, người có công với nước, v.v

4 Với chính sách mở cửa, giúp đỡ quốc tế đạt tới một giai đoạn mới Hàng trăm tổ chức quốc tế đã tiến hành những chương trình công tác xã hội nhằm giúp đỡ nhà nước và nhân dân ta phát triển Qua việc cùng tham gia vào các chương trình giúp đỡ quốc tế này, nhiều cán bộ chúng ta có dịp làm quen với những phương pháp công tác xã hội mới mà kinh nghiệm thế giới đã đúc kết

Những tồn tại trong công tác xã hội

Phần trên, mới chỉ nói đến mặt tích cực của công tác xã hội Để suy nghĩ cho giai đoạn tới, cần trở lại với những vấn đề đang tồn tại Trong hiểu biết của mình, tôi thấy có 5 điểm cần chú ý:

1 Chưa có sự tương xứng giữa đầu tư của nhà nước và xã hội cho các chương trình công tác xã hội với kết quả thu được Nhiều đồng tiền đưa vào lĩnh vực xã hội còn bị kém hiệu quả, vì ba điều căn bản: (a) Nó không đến đầy đủ với người cần được giúp đỡ, (b) Không phải mọi lúc mọi nơi nó đều được giao cho những người có năng lục nhất, có thẩm quyền nhất trong những người có chức năng làm công việc giúp đỡ, (c) Nó không được giám sát tốt

Tôi cho rằng đây là điều đáng lo ngại Khi đang ốm nặng, bạn có mong được điều trị bởi những người thầy thuốc xuất sắc nhất không? Khi người thân của bạn đang ốm đau, mà bạn thì có quyền, có khả năng, bạn có tìm cách cử người thầy thuốc giỏi nhất đến không? Và với đồng tiền bạn chắt chiu, bạn có muốn mua được thứ thuốc tốt nhất không, mua được dịch

vụ chất lượng nhất không? Câu trả lời là hiển nhiên Vậy tại sao trong lĩnh vực của chúng ta hiện nay, lĩnh vực có thể ví như là “chữa bệnh cho xã hội”, không phải lúc nào những người công tác xã hội giỏi nhất cũng được lựa chọn cho những công việc xã hội quan trọng nhất, liên quan đến sức khỏe xã hội của đất nước, của người dân? Và không phải lúc nào người dân cũng nhận được thuốc thật, chưa nói đến thuốc có chất lượng cao nhất Ví dụ về điều này có thể tìm thấy hàng ngày trên báo chí

2 Các cơ quan nhà nước và đoàn thể quần chúng đã có nhiều nỗ lực để khắc phục lối hoạt động công tác xã hội theo kiểu quan liêu hành chính xơ cứng trước kia, nhằm thích ứng với tình hình mới Tuy nhiên, những nỗ lực này vẫn còn xa mới tương xứng với yêu cầu Và cho dù hệ thống này có thể đạt được “công suất” cao nhất, thì bản thân nó cũng không đủ khả năng đảm đương toàn bộ quy mô các vấn đề xã hội to lớn và phức tạp hiện nay Cần mở rộng hơn nữa lĩnh vực những tổ chức và những người làm công tác xã hội

Vào năm 1994, trong bài viết “Nghiên cứu thực nghiệm chính sách xã hội”, tôi nêu lên nhận xét: cho đến nay, chưa có một khuôn khổ pháp lý đầy đủ và có hệ thống cho hoạt động công tác xã hội Ngay cả khi đã có một khuôn khổ pháp lý đúng đắn, thì cũng cần thay đổi rất nhiều về mặt thái độ và ứng xử trong thực tế đối với khu vực công tác xã hội ngoài nhà nước,

để tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động của khu vực này Vẫn còn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa những tổ chức và cán bộ công tác xã hội “chính thống” nhà nước với ngoài nhà nước, giữa các nhà công tác xã hội “nước ngoài” (có nhiều tiền) với các nhà công tác xã hội trong nước Điều nói trên cách đây sáu năm hình như vẫn còn đúng cho đến ngày hôm nay

3 Dĩ nhiên, thực tế hoạt động công tác xã hội cũng đã tạo nên một mạng lưới các quan hệ công việc, hiểu biết và trao đổi thông tin giữa các tổ chức và những người làm công tác xã hội Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến nay đây mới chỉ là một mạng lưới tự phát, bó

Trang 7

hẹp Đã đến lúc cần xây dựng mạng lưới rộng lớn hơn nữa, mang tính tổ chức hơn, có khả năng đem lại nhiều điều bổ ích hơn cho công tác xã hội

4 Những người làm công tác xã hội chuyên nghiệp ở nước ta hiện nay rất đông đảo

Và cũng giống như trên thế giới, họ là lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực này Tuy nhiên, một trong những nhược điểm căn bản là họ còn chưa được trang bị một cách có hệ thống kiến thức

và kỹ năng công tác xã hội hiện đại, và nếu có được trang bị rồi thì khi trở về thực tế họ cũng không hoặc không có khả năng sử dụng, do có quá nhiều trở ngại về mặt thiết chế và tổ chức

Tương đương với quy mô to lớn của lĩnh vực công tác xã hội, chúng ta cũng đã có một tập hợp không nhỏ các cơ sở đào tạo về công tác xã hội hay có liên quan mật thiết đến đào tạo công tác xã hội Tuy nhiên, ở phần lớn các cơ sở này, chất lượng đào tạo còn rất yếu, cách giảng dạy cũ kỹ so với sự phát triển chung của công tác xã hội hiện đại trên thế giới Nguyên nhân do thiếu nhân lực tốt và do công tác tổ chức kém, đặc biệt là công tác tổ chức ở cấp trung mô Điều thứ hai là nguyên nhân chủ chốt Tôi cho rằng nếu được tập hợp, chúng ta chắc chắn có được một đội ngũ cán bộ giảng dạy công tác xã hội cho cấp đại học mà trình độ tương đương với khu vực

5 Tóm tắt lại, những người làm công tác xã hội hôm nay cần những điều sau đây: (a) Một khuôn khổ thể chế thích hợp, chặt chẽ và đồng thời rộng mở Và khuôn khổ thể chế này không chỉ nằm trên giấy hay trong các cuộc hội nghị, mà cần được thực hiện trong thực tế; (b) Một mạng lưới hợp tác rộng rãi giữa những tổ chức và những người làm công tác xã hội; (c) Một chương trình quốc gia dài hạn về đào tạo công tác xã hội, đặc biệt các hình thức đào tạo cơ bản

tài liệu tham khảo

1 Bui The Cuong, Truong Si Anh, Daniel Goodkind, John Knodel and Jed Friedman Vietnamese Elderly Admist Transformations in Social Welfare Policy PSC Reports 1999

2 Bùi Thế Cường Nghiên cứu thực nghiệm chính sách xã hội Trong: Tương Lai (Chủ biên) Xã hội học từ nhiều hướng tiếp cận Hà Nội, 1994

3 David Preston Social Safety Nets in Viet Nam International Labour Organisation October, 1999

4 Harol L Wilensky & Charles N Lebeaux Industrial Society and Social Welfare The Free Press New York, 1965

5 International Labour Conference, 80 th Session Social Insurance and Social Protection Report of the Director-General (Part I) Geneva, 1993

6 Manfred G Schmidt Sozialpolitik Historische Entwicklung and Internationaler Vergleich Leske + Budrich Opladen, 1988

7 Ngân hàng thế giới, Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 14-15/12/1999 Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000: tấn công nghèo đói

8 Paul E Weinberger Perspectives on Social Welfare: An Introductory Anthology Macmillan

Publishing Co., Inc New York, 1974

9 Tổng cục thống kê Điều tra hộ gia đình đa mục tiêu Hà Nội, 1998

10 Tổng cục thống kê/VIE/95/043 Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998 Hà Nội, 8/1999

11 The World Bank Viet Nam: Poverty and Assessment Washington D.C 1995

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Ba mô hình phúc lợi xã hội ở Việt Nam - Phuc li xa hi va cong tac xa hi  vi
Sơ đồ 1 Ba mô hình phúc lợi xã hội ở Việt Nam (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w