Hiện nay XNM là một trong những vấn đề lớn của ĐBSCL nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng phải gánh chịu, do mực nước biển dâng NBD trong quá trình BĐKH toàn cầu và lưu lượng nước từ thư
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 6
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
2.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1.Trên thế giới 7
2.2.Ở Việt Nam 7
3.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 11
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
4.1.Phương pháp thu thập thông tin 11
4.2.Phương pháp phân tích, tổng hợp 11
4.3.Phương pháp bản đồ (Mapinfo) 11
4.4.Phương pháp nghiên cứu thực địa 11
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1.Cơ sở lí luận 13
1.1.1.Biến đổi khí hậu 13
1.1.2.Xâm nhập mặn 15
1.3 Khái niệm nông nghiệp 18
1.2.Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1.Tình hình xâm nhập mặn ở ĐBSCL 19
1.2.2.Xu hướng xâm nhập ở ĐBSCL 20
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN Ở TỈNH TRÀ VINH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 21
2.1 Khái quát về tỉnhTrà Vinh 21
2.1.1 Vị trí địa lí 21
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 23
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31
2.2 Tình hình xâm nhập mặn 36
2.2.1 Hiện trạng xâm nhập mặn 36
2.2.2 Nguyên nhân xâm nhập mặn 45
Trang 22.2.3 Xu hướng xâm nhập mặn 53
2.3 Tác động của xâm nhập mặn đến ngành nông nghiệp 53
2.3.1 Tác động tiêu cực 53
2.3.2 Tác động tích cực 64
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ VỚI XÂM NHẬP MẶN 66
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 66
3.1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 66
3.1.2 Các Nghị quyết của tỉnh 67
3.2 Đề xuất các biện pháp ứng phó với xâm nhập mặn 68
3.2.1 Xây dựng chế độ đóng, mở cửa hợp lý cống thủy lợi 68
3.2.2 Đầu tư, xây dựng, bổ sung hệ thống thủy lợi 68
3.2.3 Kiểm soát việc khai thác nước ngầm 70
3.2.4 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng thích ứng với vùng đất bị nhiễm mặn 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 KẾT LUẬN 74
2 KIẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số và số đơn vị hành chính huyện/thành
phố thuộc tỉnh Trà Vinh 21
Bảng 2.2: Nhiệt độ trung bình một số năm tại trạm Càng Long - Trà Vinh 24
Bảng 2.3: Tổng lượng mưa một số năm tại trạm Càng Long - Trà Vinh 25
Bảng 2.4: Biên độ triều lớn nhất qua các năm tại trạm Trà Vinh 27
Bảng 2.5: Chiều dài xâm nhập mặn trung bình nhiều năm trên sông Cổ Chiên và sông Hậu (từ tháng 2 đến tháng 5) 40
Bảng 2.6: Thời gian xuất hiện và kết thúc XNM tại cống Láng Thé qua các năm 41
Bảng 2.7: Lưu lượng trung bình tháng (m3/s) tại các trạm thủy văn 51
Bảng 2.8: Biên độ triều trên Tiền và sông Hậu (tháng 6/1978) 52
Bảng 2.9: Biên độ triều tại Trà Vinh qua các năm (2000-2012) 52
Bảng 2.10: Diện tích đất NN và đất phi NN tỉnh Trà Vinh 2000-2012 55
Bảng 2.11: Diện tích một số cây trồng chính tỉnh Trà Vinh (2000-2012) 57
Bảng 2.12: Diện tích gieo trồng lúa tỉnh Trà Vinh (2000-2012) 58
Bảng 2.13: Diện tích và cơ cấu lúa cả năm phân theo huyện/thành Trà Vinh 2012 59
Bảng 2.14: Diện tích và cơ cấu vụ lúa phân theo huyện/thành Trà Vinh 2012 60
Bảng 2.15: Diện tích nuôi trồng thủy sản qua các năm 63
Bảng 2.16: Sản lượng một số cây trồng qua các năm (2000-2012) 64
Trang 4DANH MỤC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu – sinh thái – tài nguyên – di dân 14
Hình 1.2: Mô hình hiện tượng XNM từ biển vào lòng sông vùng cửa sông 16
Hình 1.3: Hình dạng đường nêm mặn vùng tiếp giáp dòng triều và dòng sông 17
Hình 1.4: Phân bố vận tốc theo chiều sâu dòng sông chịu ảnh hưởng thủy triều 18
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh 22
Hình 2.2: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Trà Vinh năm 2005 và 2011 29
Hình 2.3: Diễn biến độ mặn tại các trạm đo qua các năm 38
Hình 2.4: Lược đồ đường đẳng mặn địa phận tỉnh Trà Vinh năm 2013 39
Hình 2.5: Lược đồ đường đẳng mặn 4g/l địa phận tỉnh Trà Vinh 2004-2011 40
Hình 2.6: Diễn biến độ mặn năm 2006 và 2010 tại cống Mỹ Văn 42
Hình 2.7: Diễn biến độ mặn năm 2006 và 2010 tại cống Cần Chông 42
Hình 2.8: Diễn biến độ mặn năm 2006 và 2010 tại cống Vĩnh Bình 43
Hình 2.9: Lượng mưa trung bình tháng tại trạm Càng Long (2007-2013) 45
Hình 2.10: Số giờ chiếu nắng tại trạm Càng Long (2009-2013) 46
Hình 2.11: Tỷ lệ dòng chảy của Biển Hồ (trạm Prekdam) so với dòng chảy vào đầu châu thổ Mê Kông (trạm Kratie) trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm thời kì 1961-1972 48
Hình 2.12: Lưu lượng trung bình tại trạm Paskse-Lào (1986-2005) 49
Hình 2.13: Lưu lượng trung bình tại Kratie-Campuchia (1986-2000) 49
Hình 2.14: Biểu đồ mực nước tại trạm Prekdam những năm gần đây 50
Hình 2.15: Lưu lượng trung bình tháng (m3/s) tại các trạm thủy văn 51
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long NBD: Nước biển dâng
NN : Nông nghiệp NTTS: Nuôi trồng thủy sản XNM: Xâm nhập mặn
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Biến đổi khí hậu (BĐKH) nói chung và xâm nhập mặn (XNM) nói riêng là những thách thức lớn, đe dọa đến nền kinh tế nhất là ngành nông nghiệp (NN) Việt Nam hiện vẫn là quốc gia NN nên một khi có nhân tố tác động đến ngành NN thì sẽ làm cho nền kinh tế gặp những khó khăn nhất định, trong đó mối lo ngại về BĐKH đang thể hiện ngày càng rõ ở nước ta với hiện tượng XNM Như vậy các biện pháp đưa ra nhằm hạn chế BĐKH và XNM là rất quan trọng Trong tương lai nước ta cần có những biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế hiện tương XNM thiết thực nhất mà vẫn phát triển NN hiện đại, đặc biệt là hai vùng NN phát triển nhất nước ta là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đồng bằng sông Hồng
Hiện nay XNM là một trong những vấn đề lớn của ĐBSCL nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng phải gánh chịu, do mực nước biển dâng (NBD) trong quá trình BĐKH toàn cầu và lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về ngày càng suy giảm tạo điều kiện cho XNM đã tiến sâu vào ở nhiều tỉnh ĐBSCL, làm hàng nghìn hécta đất NN bị thoái hóa nặng làm ảnh hưởng đến diện tích và năng suất các cây trồng, vật nuôi
Trà Vinh là một tỉnh ven biển chịu tác động của XNM lớn trong vùng ĐBSCL Cho đến thời điểm hiện tại XNM đã lấn sâu trong đất liền lên đến gần 65 km Như vậy diện tích đất bị nhiễm mặn của tỉnh lớn, đó là thách thức đối với sản xuất NN Trà Vinh hiện nay Hậu quả của XNM thật khó lường chúng làm các hệ thống thủy lợi ngăn mặn, thoát nước bị phá vỡ, diện tích XNM mở rộng đồng thời thu hẹp đi phần diện tích nước ngọt nhất là vào mùa khô, làm đất đai bị nhiễm mặn gây khó khăn trong ngành NN của tỉnh Trà Vinh
Chính vì vậy cần có những đánh giá về tác động của XNM, từ đó có những giải pháp ứng phó thích hợp để phát triển nền NN Trà Vinh bền vững nhất
Trong bối cảnh tác động của XNM đến ngànhNN tỉnh Trà Vinh như trên, nhóm
chúng tôi đã chọn đề tài: “Tình hình xâm nhập mặn ở tỉnh Trà Vinh – ảnh hưởng của
nó đến sản xuất nông nghiệp và giải pháp ứng phó” để nghiên cứu
Trang 72 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Trên thế giới
Ảnh hưởng của tình trạng đất nhiễm mặn do nước biển xâm nhập cũng là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã có thời gian nghiên cứu đã rất lâu, trong đó điển hình là có các nhà khoa học như Mahmoud A Abdelfattah, Shabbir A Shahid, Yasser R Othman, Ahmed Eldiery, Luis A Garcia và Robin M Reich
Trong hoạt động NN, nghiên cứu ước tính độ mặn của đất trong cánh đồng ngô cũng được ba nhà khoa học Ahmed Eldiery, Luis A Garcia và Robin M Reich tiến hành thực hiện Bằng công cụ là dữ liệu viễn thám và GIS, kết hợp mẫu đất thực đo Các nhà khoa học đã thành lập được bản đồ thể hiện mức độ mặn của đất dựa trên sự thay đổi sinh trưởng của cây ngô dưới tác động của độ mặn gia tăng trong đất Từ đó kịp thời có các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại đến nông nghiệp ở mức thấp nhất[6]
Nhóm ba nhà khoa học Mahmoud A Abdelfattah, Shabbir A Shahid và Yasser R Othman đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS (Hệ thống thông tin địa lý)
và Viễn thám vào xây dựng mô hình thành lập bản đồ đất nhiễm mặn tại Abu Dhabi, Ả Rập Sử dụng sản phẩm viễn thám mà cụ thể là ảnh Landsat - 7 ETM và mẫu đất thu thập dùng để xây dựng song song hai mô hình Kết quả so sánh thực tế có độ tin cậy là 91,2%, cho thấy khả năng ứng dụng kết hợp GIS và Viễn thám cho hiệu quả rất cao[6]
2.2 Ở Việt Nam
XNM là một vấn đề lớn do nhiều nguyên nhân gây nên trong đó có sự góp phần làm nghiêm trọnghơn là do BĐKH Để nghiên cứu chặt chẽ về vấn đề XNM của Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng trong đó có tỉnh Trà Vinh, thì ngoài việc nghiên cứu về XNM thì cũng cần quan tâm đến vấn đề BĐKH toàn cầu
BĐKH không chỉ là mối lo của Việt Nam mà cũng là của thế giới Tính riêng tại Việt Nam thì vùng ĐBSCL đã thu hút khá nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này
Trang 8Nhóm tác giả Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục, Phạm Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Lan, Vũ Vân Thăng thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã trình bày những diễn biến và tác động của BĐKH trong những
năm qua của Việt Nam thông qua bài báo cáo là “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam”
Tác giả Lê Quang Trí thuộc Viện Nghiên cứu BĐKH, Đại học Cần Thơ đã đưa ra những giải pháp thiết thực về thích ứng của BĐKH vào kinh tế xã hội thông qua bài
báo cáo “Phương pháp lồng ghép biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương”
Bài báo “Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng lên tính đa dạng sinh học và xu thế di dân vùng ven biển bán đảo Cà Mau” của GS Lê Anh Tuấn thuộc Viện
Nghiên cứu BĐKH, Đại học Cần Thơ
Trong “Đồng bằng sông Cửu Long biến đổi khí hậu và an ninh lương thực” của
PGS Nguyễn Kim Hồng và Nguyễn Thị Bé Ba của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh có trình bày về những vấn đề của BĐKH ở Việt Nam và ĐBSCL có những tác động ngày càng lớn cho quá trình sản xuất NN và vấn đề an ninh lương thực khi hiện trạng BĐKH ngày càng biểu hiện rõ và đã tác động đến ngành NN ngày càng lớn
Thời gian gần đây mặn có tác động to lớn và nghiêm trọng hơn nên nhiều nhà nghiên cứu, đã tiến hành vào cuộc để nghiên cứu đánh giá những tình hình XNM cụ thể ở những địa phương khác nhau của cả nước, nơi có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn
Từ những cuộc điều tra nhỏ hay nghiên cứu của các chuyên gia đều cho những giải pháp cụ thể để hạn chế tối thiểu những tổn thất của XNM gây ra
Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam,đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về vấn đề XNM ở ĐBSCL Theo định kì hàng
tháng thì viện có “Báo cáo về dự báo cũng như về hiện trạng XNM ở ĐBSCL”, và các
nhà khoa học luôn đưa những giải pháp cụ thể cho số định kì báo cáo, tùy theo độ mặn
và diễn biến
Trang 9Ở mỗi địa phương cụ thể theo cấp tỉnh thì theo định kì hàng tuần cũng có những cuộc điều tra về XNM bằng cách đo độ mặn trên địa bàn của tỉnh nhằm có những giải pháp cụ thể về việc xuống giống cây trồng và vật nuôi để tránh những tác động của độ mặn Những địa phương đã thực hiện trong thời gian qua như các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung tâm khí tượng thủy văn của các tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liệu, Cà Mau, Kiên Giang
Từ năm 2000 đến này GS Lê Sâm thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam đã có
nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về vấn đề này trong đó như là “Xâm nhập mặn Đồng bằng Sông Cửu Long, 2000, 2003, 2007, 2008, 2011” GS Lê Sâm là nhà khoa
học đi đầu về lĩnh vực XNM, các bài báo của ông đều được đánh giá rất cao về thực tiễn trong sản xuất NN của các tỉnh ĐBSCL Bài báo của ông thường nói lên diễn biến mặn tại bốn vùng XNM chính của ĐBSCL là hai sông Vàm Cỏ, cửa sông Cửu Long, bán đảo Cà Mau và ven biển Tây Từ những diễn biến đó ông nêu lên những giải pháp
cụ thể cho hoạt động sản xuất trong đó chính là ngành NN
Nhóm nghiên cứu của Trần Quốc Đạt, Nguyễn Hiếu Trung và Kanchit
Likitdecharote có công trình “Mô phỏng xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động mực nước biển dâng và sự suy giảm lưu lượng từ thượng nguồn” đăng
trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Đây là công trình nghiên cứu về dự báo về XNM Các tác giả dựa vào những cách tính toán và các kịch bản của NBD của
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã mô phỏng lại diễn biến XNM khi NBD 30cm và 70cm và thiết lập những bản đồ mô phỏng cho từng giả thiết khi NBD theo từng thời
kì Báo cáo này giúp cho các địa phương có nguy cơ cao về tác động của XNM kịp thời đưa ra những giải pháp lâu dài nhằm khắc phục và ứng phó với XNM trong thời gian tới
Báo cáo “Mặn xâm nhập mùa khô các năm 2011-2013 ở ĐBSCL và công tác dự báo mặn của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ” củaTrần Đình Phương, Hoàng Lê Nhung và báo cáo “Diễn biến mặn ở ĐBSCL” của Trần Thanh Xuân, Hoàng
Minh Tuyển, Lương Hữu Dũng, Ngô Thị Thủy,Tuyển tập báo cáo khoa học của Hội thảo khoa học Quốc gia về Khí tượng Thủy văn, Môi trường và BĐKH lần thứ XVI
Trang 102013 Hai bài báo cáo này đều là đề tài nói về diễn biến XNM tại các trạm đo chính của hệ thống sông Cửu Long
Ngoài ra, còn có các bài báo hay công trình khác như “Nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông MêKông trong những năm gần đây” của Lê Thị Thúy Vân, Nguyễn Ngọc thuộc Trường Đại học khoa học Tự nhiên
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài đã xác định được những nguyên nhân chính gây ra và làm cho XNM diễn biến phức tập trong thời gian qua
Riêng tại Trà Vinh có những đề tài đã được công bố như đề tài “Nước mặn trên sông Cổ Chiên và giải pháp khai thác nước ngọt phục vụ cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Trà Vinh” của Đặng Hòa Vĩnh, Phạm Thị Bích Thục đăng trên Tạp chí các khoa học về Trái Đất Công trình “Tác động của thay đổi chế độ thủy văn lên việc sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Cầu Kè, Tiểu Cần và Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh” của
Phạm Đăng Trí, Võ Thị Phương Linh, Nguyễn Hiếu Trung đăng trên Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ
Hai đề tài là “Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp tỉnh Trà Vinh” và
“Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp tỉnh Tiền Giang” của Trần
Văn Thương đăng trên kỉ yếu hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học thuộc Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Đó là những công trình nghiên cứu mang lại ý nghĩa lớn
Do ảnh hưởng của XNM ngày càng lớn nên cũng đã lôi cuốn không chỉ các nhà chuyên gia khoa học mà hiện nay nhiều nhà khoa học trẻ cũng bắt đầu tham gia nghiên cứu về vần đề này đặc biệt là sinh viên thuộc các chuyên ngành như Địa lí tự nhiên, môi trường, nông nghiệp, thủy lợi, địa chất…
Nhìn chung vấn đề BĐKH nói chung và XNM nói riêng đượcnhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn trên nhiều khía cạnh khác nhau, tuy vậy hiện tại ít có đề tài nào nghiên cứu thực tế về tình hình XNM và xác định rõ những ảnh hưởng của nó đến sản xuất NN trong thời gian dài để đưa ra các giải pháp phòng chống phù hợp với đặc điểmcủa tỉnh Trà Vinh
Trang 113 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu thực trạng XNM và tác động của chúng đến ngành NN ở tỉnh Trà Vinh Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp ứng phó với XNMnhằm phát triểnngành NN tỉnh Trà Vinh tốt hơn trong xu hướng BĐKH
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Các nguồn tài liệu có vai trò quan trọng trong nghiên cứu đề tài Chúng tôi đã thu thậptừ nhiều nguồncác tài liệu liên quan đến đề tài: các sách báo, tạp chí khoa học, các bản đồ,
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp khá quan trọng và được sử dụng để phân tích tài liệu, số liệu
đã tìm được và tổng hợp hóa những tài liệu, thông tin đã thu thập được
4.3 Phương pháp bản đồ (Mapinfo)
Chúng tôi đã biên tậplược đồXNM tỉnh Trà Vinh dựa trên bản đồ XNM của vùng ĐBSCLtheo cấp tỉnh để có cái nhìn tổng quan về tình hình XNM về mặt không gian Chúng tôi đã sử dụng phần mềm Mapinfo 10.5 để thiết lập bản đồ như bản đồ hành chính, biên tập bản đồ ranh giới đường đẳng mặn 4 g/l giai đoạn 2004-2011, biên tập lược đồ XNM năm 2013
4.4 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Phương pháp nghiên cứu thực địa là phương pháp truyền thống và cơ bản trong nghiên cứu chuyên ngành Địa Lý Chúng tôi đã tiến hành các đợt đi thực tế tại Trà Vinh ở những huyện chịu ảnh hưởng mạnh của XNM như huyện Duyên Hải, Trà Cú, Châu Thành, Tiểu Cần để thu thập thông tin về hiện trạng XNM Thông qua quan sát thực tế, chúng tôi còn có điều kiện để kiểm chứng những tài liệu đã thu thập được Đợt một chúng tôi đi vào tháng 12/2014 tại ba địa điểm là Cống Láng Thé (huyện Càng Long), cống Cầu Quan (huyện Tiểu Cần) và cánh đồng lúa ở xã Hưng Mỹ (huyện Châu Thành) Chúng tôi đi vào thời gian này vì ở đây đã bước vào mùa khô, XNM bắt đầu có những ảnh hưởng đến việc sản xuất lúa
Đợt hai chúng tôi đi vào tháng 2/2015 cũng ba địa điểm là Cống Láng Thé (huyện Càng Long), cống Cầu Quan (huyện Tiểu Cần) và tại các địa phương nuôi tôm công
Trang 12nghiệp (huyện Cầu Ngang và Duyên Hải) Tháng 2 là tháng cao điểm mùa khô nên XNM mạnh, độ mặn lớn
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu:
Tình hình XNM ở tỉnh Trà Vinh
Phân tích tác động của XNM đến nền sản xuất NN của tỉnh Trà Vinh, đề xuất các
biện pháp ứng phó với XNM ở tỉnh Trà Vinh
Trang 13người”
1.1.1.2 Nguyên nhân
Nguyên nhân chính của BĐKH toàn cầu là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các khí nhà kính Hiện trạng phát thải quá nhiều chất khí như CO2, CH4, N2O, CFCs, vào bầu khí quyển gây nên hiệu ứng nhà kính, tạo nên hiện tượng nóng lên toàn cầu qua các biểu hiện như: sự gia tăng băng tan ở hai cực trái đất và ở các vùng núi cao; sự chuyển dịch bất thường các khối không khí toàn cầu gây nên các thay đổi thời tiết khác thường và làm xáo trộn cán cân tuần hoàn nước Nước biển và đại dương đang
mở rộng và dâng cao
Theo IPCC (2007) BĐKH là những thay đổi thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những thay đổi về tự nhiên và những biến đổi do con người tạo ra BĐKH xuất phát từ mất cân bằng năng lượng của Trái Đất do thay đổi nồng độ của các khí nhà
kính, bụi của khí quyển và lượng bức xạ Mặt Trời
1.1.1.3 Biểu hiện
Sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt Trái Đất hay còn gọi là hiện tượng nóng lên toàn cầu, đây là biểu hiện chính của BĐKH hiện nay, chủ yếu do con người đã thải ra ngoài không khí hàng loạt các chất khi gây nên hiện tượng nhà kính toàn cầu
Nước biển dâng cao do băng tan dẫn đến ngập úng ở vùng trũng thấp
Trang 14Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của
con người và các sinh vật trên Trái Đất
Sự dịch chuyển của các đới khí hậu đang tồn tại đến các vùng khác nhau trên thế giới, dẫn đến nguy cơ de dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt
động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thủy quyển, sinh quyển và thạch quyển
1.1.1.4 Tác động
BĐKH không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tình trạng cung cấp lương thực toàn cầu, vấn đề di cư và đe
dọa nền hòa bình, an ninh thế giới
Theo Tiến Sĩ Lê Anh Tuấn thuộc Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, Đại học Cần Thơ thì quá trình tác động của BĐKH toàn cầu và những hậu quả của nó có thể được
sơ đồ hóa:
Nguồn: [7]
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu – sinh thái – tài nguyên – di dân
Trang 15Như vậy, BĐKH đe dọa làm đói nghèo trầm trọng hơn và cuộc sống của nhóm người chưa được quan tâm và dễ bị tổn thương ngày càng khó khăn Các vấn đề do BĐKH gây ra như thiên tai xảy ra thường xuyên hơn, khan hiếm nước ngọt, mất đi nguồn nước tan chảy từ băng dành cho tưới tiêu NN, những thay đổi sẽ dẫn tới sự khan hiếm lương thực và có cả những đe dọa về sức khỏe Khí hậu thay đổi dẫn tới môi trường bị ngập lụt, khô cằn và không thể sinh sống được, dẫn đến tình trạng di cư quy
mô lớn dường như tăng lên
Việt Nam là một trong năm nước đang phát triển chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH toàn cầu.Một trong những khó khăn nhất của BĐKH chúng ta phải đối mặt
là quá trình NBD và hiện tượng XNM ở vùng ven biển, trong đó chịu ảnh hưởng lớn
nhất là ĐBSCL
ĐBSCL nằm trong danh sách các vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH nhất là NBD gây ngập úng ở những vùng trũng thấp và hiện tượng XNM ở vùng ven biển phía Đông và Tây Theo công bố của Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường,
Bộ Tài nguyên và Môi trường, số đo các trạm quan trắc từ Bắc vào Nam và từ tư liệu
vệ tinh trong 50 năm qua cho thấy trung bình mỗi năm NBD 3mm
Nếu mực nước cứ tiếp tục dâng và mặt khác ta thấy ĐBSCL có ba mặt tiếp giáp biển chịu ảnh hưởng sâu sắc của thủy triều Biển Đông thì tình hình XNM ở ĐBSCL chịu ảnh hưởng lớn, trong đó khu vực NN bị ảnh hưởng nhiều nhất sẽ đe dọa nghiêm
trọng an ninh lương thực quốc gia
1.1.2 Xâm nhập mặn
1.1.2.1 Khái niệm
Xâm nhập mặn là hiện tượng diễn ra ở vùng cửa sông đổ ra biển hoặc ở đồng bằng ven biển, khi nước biển xâm nhập vào khối nước ngọt của vùng cửa sông hoặc các tầng nước dưới đất Thường người ta sử dụng đơn vị để đo độ mặn là phần nghìn (‰)
hoặc g/l
Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng XNM từ biển vào sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa kiệt Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm thấp,
Trang 16thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm nước sông bị nhiễm
mặn.Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng (hình 1.2)
Nguồn: [7]
Hình 1.2: Mô hình hiện tượng XNM từ biển vào lòng sông vùng cửa sông
Theo GS Lê Sâm thì độ mặn có thể sử dụng những bậc thang tổng quát sau:
Trang 17Mức độ XNM vào sâu trong nội đồng nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau:
Lượng nước từ thượng nguồn đổ về: Lưu lượng càng giảm, nước mặn càng tiến
sâu vào đất liền
Biên độ triều vùng cửa sông: Vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng lấn sâu
vào
Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự XNM
Các yếu tố khí tượng: Gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa ít sẽ là
tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa
Hoạt động kinh tế của con người: Việc lấy nước nhiều vào mùa khô (cả nước mặt
và nước ngầm) sẽ làm mặn đi vào đất liền nhiều hơn
Do sự khác biệt về tỷ trọng giữa nước biển và nước sông nên khi sóng triều truyền vào cửa sông sẽ có dạng hình nêm, thường gọi là nêm mặn Khi triều lên, nêm mặn sẽ
di chuyển vào sông làm nước sông bị dồn ép dòng nước ngọt từ nguồn chảy ra biển, gây hiện tượng nước dâng ngược về hướng thượng lưu.Ngược lại, khi triều rút đường nêm mặn sẽ rút nhanh về hướng biển, cộng thêm sức đẩy của nước ngọt từ thượng lưu làm dòng triều rút gia tăng vận tốc (hình 1.3)
Nguồn: [7]
Hình 1.3: Hình dạng đường nêm mặn vùng tiếp giáp dòng triều và dòng sông
Trang 18Tùy theo vào sự tương tác giữa năng lượng dòng triều và dòng chảy nước ngọt từ thượng lưu làm hình dạng đường nêm mặn không cố định mà luôn thay đổi, có hình dạng khác nhau Nếu có thêm tác nhân là gió trên mặt nước, trên đường nêm mặn có thể có thêm lưỡi mặn trên đường nêm mặn Ngay tại vị trí có đường nêm mặn, ở các vị trí khác nhau, chất lượng nước (mặn lạt) cũng khác nhau Khi đó lưu lượng vùng cửa
biển, cần lưu ý là dòng chảy có thể có 2 chiều ngược chiều nhau (hình1.4)
Như vậy, NN là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc việc ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật gặp nhiều khó khăn khó khăn Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán đã có từ hàng nghìn năm nay
Trang 19Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất NN thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
NN thuần nông hay NN sinh nhai là lĩnh vực sản xuất NN có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong NN sinh nhai
Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất NN được chuyên môn hóa trong tất
cả các khâu sản xuất NN, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm NN NN chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất NN chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để
có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình xâm nhập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Diện tích đất mặn ở ĐBSCL hiện nay là trên 0,75 triệu ha XNM ở ĐBSCL những năm gần đây trở nên găy gắt hơn và ngày càng ảnh đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL, đặc biệt là các tỉnh ven biển, đường ranh giới XNM ngày càng
lùi sâu vào trong đất liền
Đầu mùa khô năm 2013, lượng nước từ thượng nguồn sông MêKông về khá nhỏ nên XNM sớm và sâu Trong tháng 2, độ mặn các trạm đều cao hơn cùng kỳ các năm gần đây, đặc biệt trên hệ thống sông Cửu Long, độ mặn cao nhất tháng 2 ở mức cao
nhất trong chuỗi số liệu nhiều năm cùng thời kỳ 1995-2010
Trên sông Tiền tại trạm Hòa Bình độ mặn cao nhất tháng 2 là 13,7 g/l cao hơn năm 2012 là 8,2g/l; tại trạm An Định là 3,7 g/l (năm 2012 chưa mặn); trạm Hương Mỹ
Trang 20(S.Cổ Chiên) là 10,8 g/l (năm 2012 là 0,6g/l); tại trạm Trà Vinh (S Cổ Chiên) là 12,8
g/l cao hơn cùng kỳ năm 2012 9,0 g/l…[8]
Trên sông Hậu, độ mặn cao nhất tháng 2 tại trạm Trà Kha là 16,2 g/l (năm 2012 là 8,6 g/l), tại trạm Đại Ngãi là 8,4 g/l (2012 là 2,0 g/l) Các trạm nội đồng cũng ở mức
khá cao, cao hơn năm 2012 và ở mức xấp xỉ năm 2011[8]
Hệ thống sông Vàm Cỏ, độ mặn cao nhất tháng 2 tại các trạm Tân An, Bến Lức ở
mức xấp xỉ cùng kỳ năm 2012
Trên hệ thống sông Vàm Cỏ và vùng bán đảo Cà Mau độ mặn đặc biệt tăng cao vào những ngày đầu tháng 4, tại Tân An, Bến Lức cao hơn cùng kỳ năm 2012 từ 3,5 – 4,0 g/l Tại Tuyên Nhơn (S Vàm Cỏ Tây) cách cửa biển 120 km đã có xuất hiện mặn
ở mức 0,3 g/l; tại Phước Long, Cà Mau cao hơn cùng kỳ các năm 2011, 2012 từ 15g/l
10-Ranh mặn 4g/l trên sông Vàm Cỏ xâm nhập sâu từ 65-70km tính từ cửa sông
Ranh mặn 4g/l trên sông Tiền, sông Hậu XNM sâu nhất khoảng 40-50km tính từ
cửa sông
Ranh mặn 4g/l trên sông Cái Lớn XNM sâu nhất khoảng 50 km tính từ cửa sông
1.2.2 Xu hướng xâm nhập ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trong tương lai, cùng với sự gia tăng của mực NBD trong quá trình BĐKH toàn cầu, XNM sâu hơn vào trong sông
Trang 21CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN Ở TỈNH TRÀ VINH VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 2.1 Khái quát về tỉnhTrà Vinh
2.1.1 Vị trí địa lí
Trà Vinh là tỉnh đồng bằng ven biển phía Nam, thuộc vùng ĐBSCL Tỉnh Trà Vinh nằm trong tọa độ địa lí: từ 9031’5’’ đến 10004’5’’ vĩ độ Bắc và 105057’16’’ đến
106036’04’’ kinh độ Đông, có diện tích tự nhiên 2.341,2 km2 (chiếm 0,69% diện tích
cả nước, chiếm 5,72% diện tích ĐBSCL) [5] Theo hồ sơ địa giới 364/CT, ranh giới hành chính của tỉnh phía Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre thông qua sông Cổ Chiên, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng thông qua sông Hậu, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long và phía Nam và Đông nam tiếp giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số và số đơn vị hành chính huyện/thành
Trang 22Nguồn: [Tác giả thành lập bằng Mapinfo 10.5] Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh
Trang 23Dân số toàn tỉnh Trà Vinh năm 2012 khoảng 1.015,3 nghìn người, mật độ dân số trung bình 434 người/km2 [5] Tỉnh hiện có 8 đơn vị hành chính trực thuộc gồm tỉnh lị
là thành phố Trà Vinh và các huyện Càng Long, Cầu Kè, Tiểu Cần, Châu Thành, Cầu Ngang, Trà Cú, Duyên Hải Tổng số đơn vị hành chính cấp xã, phường và thị trấn là
tích sông
Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, thuộc vùng đồng bằng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, chịu sự tương tác của sông và biển đã hình thành các giồng cát hình vòng cung nối tiếp nhau có hướng song song với
bờ biển, càng về phía biển, các giồng cát càng cao và rộng lớn Địa hình tỉnh Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển chịu ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và
biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát
Nhìn chung trong toàn tỉnh, các huyện phía bắc có địa hình bằng phẳng hơn so với các huyện phía Nam Dọc theo hai bờ sông thường có địa hình cao và thấp dần về phía nội đồng Vùng nội đồng tương đối bằng phẳng, nhưng bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, trong đó có những ô trũng cục bộ Khu vực ven biển có địa
hình dạng sóng với nhiều giồng cát hình cánh cung, độ cao từ 3m đến 5m
Cao trình phổ biến từ 0,1 - 1,0m chiếm 66% diện tích tự nhiên Chạy dọc ven sông
Cổ Chiên và sông Hậu địa hình thường cao và sâu vào nội đồng bị các giồng cát chia cắt tạo nên các vùng trũng cục bộ Do sự chia cắt bởi các giồng cát, hệ thống trục lộ và
kênh rạch chằng chịt tạo nên địa hình toàn vùng khá phức tạp
Nhìn chung cao trình của tỉnh Trà Vinh được thể hiện như sau:
Địa hình cao nhất trên 4m gồm đỉnh các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long
Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải)
Trang 24Địa hình thấp nhất dưới 0,4m tập trung tại các cánh đồng trũng ở xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên (Trà Cú); Thanh Mỹ (Châu Thành); Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp
Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải)
Địa hình cao nhất trên 4m gồm đỉnh các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang), Ngọc Biên (Trà Cú), Long Hữu (Duyên Hải) Địa hình thấp nhất dưới 0,4m tập trung tại các cánh đồng trũng ở Tập Sơn, Ngãi Xuyên (Trà Cú), Thanh
Mỹ, cánh đồng Ôcàđa (Châu Thành), Mỹ Hoà, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang), Long
Vĩnh (Duyên Hải)
Bên cạnh địa hình đất liền thì trên các nhánh sông còn có hệ thống các cồn nhỏ (dân địa phương gọi là các cù lao) như: Cù Lao Hòa Minh, Long Hòa (Châu Thành),
cù lao Tân Quy (Cầu Kè), cù lao Long Trị (thành phố Trà Vinh)
Như vậy, địa hình của vùng khá thấp nên sẽ chịu ảnh hưởng của thủy triều, XNM
do NBD rất lớn
2.1.2.2 Khí hậu
Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu gió mùa cận xích đạo, chịu ảnh hưởng của biển, quanh năm nóng, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào Trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau
Nhiệt độ:Nền nhiệt cao và ổn định qua các năm, trung bình từ 26,7 – 27,2°C, tổng
tích ôn lớn (trên 9.800°C/năm) Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm chênh lệch không lớn, nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4 và thấp nhất thường vào
Trang 25Giờ nắng: Tổng lượng bức xạ trung bình tương đối cao trong năm đạt 150-
160kcal/cm2/năm; tổng số giờ nắng bình quân trong năm đạt 2.304 giờ, cao nhất
thường vào tháng 3, tháng 4 và thấp nhất thường vào tháng 9 trong năm
Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình nhiều năm khoảng 84% (cao nhất vào mùa mưa 85-87%, thấp nhất vào mùa khô 77-81%)
Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình qua nhiều năm khoảng 1.745 mm, phân
bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa cao nhất vào tháng 10 và thấp nhất vào tháng 2, 3 trong năm Lượng mưa phân bố tương đối đều theo không gian và
có xu hướng giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Trong giai đoạn 2000 – 2012
lượng mưa có xu hướng giảm khoảng 40mm
Bảng 2.3: Tổng lượng mưa một số năm tại trạm Càng Long - Trà Vinh
Lượng mưa (mm) 1.705 1.641 1.794 1.488 1.897 1.745
Nguồn:[5] Gió: Trà Vinh chịu ảnh hưởng của gió mùa nhiệt đới ven biển gồm hai hướng gió chính sau:
Gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10 với tốc độ gió 3-4 m/s, gió mùa Tây Nam đến sớm hay muộn ảnh hưởng đến việc đến sớm hay muộn của những cơn
mưa đầu mùa
Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với tốc độ gió 2-3
m/s thường gọi là mùa “gió chướng”có hướng song song với các cửa sông lớn đã góp
phần đưa nước mặn từ biển Đông xâm nhập sâu vào các sông rạch trong các tháng
mùa khô
Trà Vinh ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ Tuy nhiên hàng năm hạn hán thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ 10 đến 18 ngày, trong đó các huyện như Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ khoảng tháng 6 và tháng 7 là quan trọng trong khi các huyện còn lại như
Trang 26Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ nhưng tháng 7 và 8 thường nghiêm trọng hơn Trở ngại đáng kể trong NN là vào mùa khô, lượng nước từ thượng nguồn
đổ vềgiảm nhiều và gió chướng mạnh đưa nước biển sâu vào nội địa, làm ảnh hưởng đến năng suấtcây trồng đối với các huyện gần phía biển và ven biển.Nhưng trở ngại này, trong những nămgần đây đã khắc phục được phần nào nhờ vào sự chuyển dịch cơ
cấu cây trồng – vật nuôi phù hợp
Trong những năm gần đây Trà Vinh cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của sự BĐKH toàn cầu nên thời tiết luôn có những biến đổi thất thường khó có thể dự đoán chính xác được, sự ấm dần lên của khí hậu cũng làm cho gia tăng tình hình dịch bệnh, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của nhiều hộ sản xuất trong tỉnh Do đó, để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành trong tương lai thì đòi hỏi sự đóng góp rất
lớn của các nhà làm công tác dự báo, để tránh những thiệt hại đáng tiếc có thể xãy ra 2.1.2.3 Thủy văn
Trên địa bàn tỉnh có 2 hệ thống sông lớn chảy qua là sông Cổ Chiên và sông Hậu
đổ ra biển Đông qua 2 cửa Cung Hầu và Định An Ngoài ra, tỉnh còn có các sông, kênh rạch nội đồng khá phát triển với tổng chiều dài 578 km và 1.876 km kênh cấp I,
II tạo nên mạng lưới phân bố khắp bề mặt tỉnh
Các hệ thống kênh trục nội đồng chính bao gồm hệ thống kênh ngang: Láng Thé, Trà Vinh, Bãi Vàng, Bến Chùa, Cần Chông, Trà Cú, Tổng Long, Láng Sắc (Nguyễn
Văn Pho),… và hệ thống kênh trục dọc: Kênh Trà Ngoa, kênh 3/2 - Thống Nhất
Nhìn chung, mật độ kênh trục phân bố khá đều trong tỉnh từ 4 - 10 m/ha Đối với mật độ kênh nội đồng, Trà Vinh có mật độ còn thấp (< 50% so với yêu cầu sản xuất) Huyện có mật độ kênh cao nhất của toàn tỉnh là Tiểu Cần (45m/ha); thấp nhất là
Duyên Hải, Trà Cú, Cầu Ngang (18 – 28 m/ha)
Chế độ thủy văn
Tỉnh Trà Vinh chịu ảnh hưởng của chế độ triều Biển Đông với đặc trưng bán nhật triều không đều, mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống.Thủy triều thông qua các cửa sông rạch đi vào nội đồng Vào mùa khô, trước khi có dự án Nam Măng Thít
có đến 90% diện tích đất tự nhiên bị nhiễm mặn với nồng độ mặn 4g/l, thời gian nhiễm
Trang 27mặn từ 2 - 6 tháng Sau khi dự án nam Măng Thít hoàn thành tình hình XNM được cải thiện, hiện nay nước mặn chủ yếu xâm nhập vào nội đồng qua các cửa Cần Chông và
Láng Thé
Tỉnh Trà Vinh ít bị ngập úng do ảnh hưởng lũ từ thượng nguồn sông MêKông nhưng lại bị ngập úng cục bộ do mưa với cường độ cao tại các vùng có địa hình thấp với mức ngập chủ yếu là 0,4 - 0,6m và chiếm 44,8% diện tích tự nhiên ở các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú Tuy nhiên mức độ ngập chỉ xảy ra trong thời gian
ngắn (3-5 ngày)
Thủy triều là tác nhân đưa XNM vào sâu trong nội đồng, làm thay đổi chất lượng nước theo hướng gia tăng độ mặn, nên cần có biện pháp kiểm soát hữu hiệu để tận dụng tối đa mặt hữu ích và giảm thiểu ảnh hưởng xấu do thủy triều gây nên, đảm bảo
sản xuất phát triển ổn định và có hiệu quả
Biên độ triều
Biên độ triều lớn nhất cũng ngày càng tăng do lưu lượng nước đổ về ngày càng giảm, mực nước biển ngày càng tăng, gió chướng thổi ngày càng mạnh (bảng 2.4) Các
trạm càng gần biển thì độ mặn càng cao và thời gian mặn càng kéo dài
Bảng 2.4: Biên độ triều lớn nhất qua các năm tại trạm Trà Vinh
Nguồn: [10]
Ngoài ra, Trà Vinh còn có nguồn nước ngầm khá dồi dào Nước ngầm của tỉnh có
ở 5 tầng Tầng ở trên nguồn nước bị nhiễm mặn, 3 tầng tiếp theo ở giữa nguồn nước phong phú và chất lượng khá hơn và cuối cùng là tầng Mioxene ở sâu nhất Đối với khu vực ven biển nước dưới đất tồn tại ở 2 dạng: Nước ngầm tầng nông nằm dưới các giồng cát, chủ yếu là tích tụ nước mưa tại chỗ có độ sâu dưới 100 m, trữ lượng ít Và Nước ở tầng sâu trên 100 m (tầng Pleitocene), nước tương đối phong phú, đủ dùng cho sinh hoạt và đời sống dân cư tại chỗ Khả năng khai thác 97.000 m3/ngày Nước dưới đất hiện tại mới khai thác sử dụng cho sinh hoạt của một số khu vực thuộc thành phố Trà Vinh và một số huyện Trong tương lai cần được nghiên cứu khai thác phục vụ
Trang 28nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là cho sinh hoạt và sản xuất NN vùng
nhiễm mặn
2.1.2.4 Thổ nhưỡng
Theo kết quả khảo sát và lập bản đồ đất vùng Nam Măng Thít (tỷ lệ 1/25.000) thuộc Chương trình Đất Cửu Long, năm 1992 thì có thể chia đất của tỉnh thành 3 nhóm chính với 13 loại đất Cụ thể gồm:
Đất cát giồng có 01 loại: diện tích 15.169,34 ha, chiếm 6,62% diện tích tự nhiên Đất phù sa có 5 loại: diện tích 132.983,44 ha, chiếm 58,00% diện tích tự nhiên Đất phèn có 7 loại: diện tích 55.719,38 ha, chiếm 24,30% diện tích tự nhiên, được chia làm 2 phân nhóm: Đất phèn tiềm tàng có 4 loại, diện tích là 42.984,95 ha; Đất phèn phát triển có 3 loại, diện tích là 12.734,43 ha
Phần còn lại là hồ ao, sông, kênh, rạch với diện tích 30243 ha, chiếm 11,08% diện tích tự nhiên
Hiện trạng sử dụng đất
Theo cuộc điều tra hiện trạng sử dụng đất tỉnh Trà Vinh năm 2010, tổng diện tích
tự nhiên toàn tỉnh là 234.116ha chiếm 5,84% diện tích tự nhiên của vùng ĐBSCL và chiếm 0,7% tổng diện tích tự nhiên cả nước Trong số 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố thì huyện Duyên Hải có diện tích tự nhiên lớn nhất 42.006,98ha, chiếm 17,94% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; thành phố Trà Vinh có diện tích nhỏ nhất 6.816,2ha, chiếm 2,91% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Bình quân diện tích tự nhiên trên
đầu người là 0,23 ha/người
Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất năm 2005 (hình 2.2): đất NN có 194.707,16ha chiếm 86,91%, trong đó đất sử dụng chuyên cho nuôi thủy sản là 29.185,99 ha chiếm 13,03%; đất phi NN chiếm 9,46% tương đương 21.192,78ha; đất chưa sử dụng chiếm
3,63% tương đương 8.123,93ha
Hiện trạng (phụ lục 1) và cơ cấu sử dụng đất năm 2010 (hình 2.2): đất NN có 185.869ha chiếm 79,39%, trong đó đất sử dụng chuyên cho nuôi thủy sản là 29.685ha
Trang 29suối và mặt nước chuyên dùng là 29.128,42ha chiếm 12,44%; đất chưa sử dụng chiếm 0,41% tương đương 901ha
Từ năm 2005 - 2011, diện tích đất NN có xu hướng biến động do thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nội bộ quỹ đất NN đồng thời có sự chuyển đổi sang đất phi
NN nhằm xây các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công trình phúc lợi công cộng, công trình phục vụ sản xuất kinh doanh phi NN, đất an ninh quốc phòng, nhà ở…
Ngoài ra, quỹ đất chưa sử sụng được đưa vào phát triển mục đích phi nông nghiệp
bờ biển tại các huyện: Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú với các loại cây như: bần, đước, mắm, dừa nước, chà là,…đất bãi bồi: 1.138 ha Theo kết quả khảo sát và nghiên cứu: Khu hệ thực vật rừng ngập mặn vùng Duyên Hải có 132 loài thuộc 105 chi họ thực vật Như vậy khu hệ thực vật rừng ngập mặn tương đối phong phú về thành phần loài
và thể hiện là một khu hệ đặc trưng rừng ngập mặn nhiệt đới Đông Nam Á
Tuy nhiên, do quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là NTTS đem lại giá trị kinh tế rất lớn cho người dân nên trong thời gian gần đây quá trình chuyển mục đích sử dụng
Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng
Trang 30đất ngập mặn sang diện tích nuôi thủy sản tương đối lớn nên diện tích rừng ngập mặn
đã giảm đi so với thời gian trước
Hệ sinh thái rừng ngập mặn của tỉnh mang đặc trưng của vùng ven biển và khá phong phú với khá nhiều loài bao gồm: Giun nhiều tơ (Polychaeta) 20 loài, Lớp chân bụng (Gastropoda) 26 loài, Lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia) 22 loài, Chân đầu
(Cephalopoda) 4 loài
Giáp xác (tôm, moi) trên 50 loài, Giáp xác (cua, còng) trên 30 loài Khu hệ cá biển/lợ ở vùng sinh thái rừng ngập mặn có trên 200 loài Ngoài ra, vùng biển Trà Vinh
còn có nguồn lợi thủy sản,hệ thống sinh vật biển khá phong phú, đa dạng
2.1.2.6 Tài nguyên khoáng sản
Về mặt địa chất, toàn bộ tỉnh là trầm tích trẻ có nguồn gốc phù sa sông biển, do đó
khoáng sản của tỉnh chỉ có sét gạch ngói và một ít cát xây dựng
Cát: Có 2 loại, là cát giồng và cát sông Cát giồng được phân bố thành giồng cao
3-3,5m có dạng gần vòng cung song song với bờ biển, dài 5 - 10 km, rộng 50-70m Mỏ cát ở khu vực Phước Thiện (Duyên Hải), trữ lượng khoảng 810.000 m3, hiện đã được khai thác phục vụ cho xây dựng (san lấp mặt bằng) Cát sông: Qua thăm dò sơ bộ đoạn sông Cổ Chiên giáp thành phố Trà Vinh, huyện Càng Long, cồn cát nổi lên ở đây với trữ lượng nhỏ, chất lượng đạt yêu cầu san lấp trong xây dựng, có thể khai thác khoảng 30.000 m3/năm Ở sông Hậu cồn nổi lên hầu hết là bùn, chỉ có khu vực ấp Hòa Lạc, xã Hòa Tân có cát, trữ lượng có thể khai thác 30.000 m3/năm
Sét gạch: Ngói tập trung chủ yếu ở Phước Hưng (Trà Cú), Mỹ Chánh, Tầm
Phương (Châu Thành) và Tân An (Càng Long) với trữ lượng khoảng 45,6 triệu m3
Mỏ nước: Khoáng phân bố ở địa bàn xã Long Toàn, huyện Duyên Hải, có thành
phần Bicacbonat Natri (NaCO3) khá cao, đạt tiêu chuẩn khoáng cấp quốc gia, với nhiệt
độ 38,50C và khả năng cho phép khai thác khoảng 2.400 m3/ngày
Trang 312.1.3 Đặc điểm kinh tế-xã hội
2.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 (theo giá so sánh 2010) ước thực hiện 19.980 tỷ đồng, tăng 8,5% so với năm 2012, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 10.434 tỷ đồng, tăng 4,9%; đóng góp 2,7 % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 3.847 tỷ đồng, tăng 4,1%, đóng góp 0,8%; khu vực dịch vụ đạt 5.698 tỷ đồng, tăng 19,3%, đóng góp 5% Tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 23.008 tỷ đồng, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 48,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 15,3%; khu vực dịch vụ chiếm 36,3% [4]
2.1.3.2 Các ngành kinh tế
a Nông nghiệp
Giá trị sản xuất ngành NN đạt 11.135 tỷ đồng (theo giá hiện hành) năm 2013 Cụ
thể tình hình sản xuất các ngành:
Về trồng trọt: Sản xuất lúa, diện tích gieo trồng 235,5 nghìn ha, sản lượng trên
1,28triệu tấn, năng suất bình quân 5,4 tấn/ha, giảm 1,18 tấn/ha so với năm 2012 Cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày, diện tích gieo trồng trên 56.227ha (đạt 101,07% kế hoạch), tăng 2.968ha so với năm 2013; sản lượng tăng 36.982tấn so với năm 2013 [4] Trong năm 2013, mặc dù diện tích trồng màu giảm do người dân chuyển đổi diện tích màu sang trồng lúa và cây lâu năm, nhưng do các hộ nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sử dụng nhiều giống mới cho năng suất cao, khả năng kháng sâu bệnh tốt nên sản lượng và năng suất nhiều loại cây tăng so với năm 2012, trong đó: sản lượng bắp (ngô) ước đạt 28,3 nghìn tấn, tăng 7,93% (năng suất tăng 1,59%); mía 726,9 nghìn ha, tăng 5,1% (năng suất tăng 3,27%); lác (cói) 26,3 nghìn tấn, tăng 28,02% (năng suất tăng 10,13%); đậu phộng (lạc) 23,2 nghìn tấn, tăng 5,18% (năng suất tăng 5,65%); đậu các loại 1,1 nghìn tấn, tăng 5,81% (năng suất tăng 24,84%) Tuy nhiên, một số cây màu bị ảnh hưởng của thời tiết xấu và một số loại bệnh trên cây trồng như kháng thư, vàng lá, nấm mốc… nên sản lượng và năng suất giảm, như: khoai lang ước đạt 25,6 nghìn tấn, giảm 11,32% (năng suất giảm 2,05%); khoai mì (sắn) 16,1 nghìn
Trang 32tấn, giảm 4,37% (năng suất giảm 1,77%) ; rau các loại 629,7 nghìn tấn, giảm 5,3% (năng suất giảm 0,41%) [4]
Chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong năm nay gặp khó khăn do chi phí đầu
vào tăng cao nhưng giá thịt tăng giảm không ổn định, hơn nữa ảnh hưởng của thời tiết nên các hộ chăn nuôi không mạnh dạn đầu tư phát triển đàn
Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/10/2013, đàn trâu cả tỉnh có 1.326 con, giảm 17,07% so với cùng thời điểm năm 2012; đàn bò có 131,4 nghìn con, tăng 7,52%; đàn heo có 376,7 nghìn con, giảm 14,04%; đàn gia cầm có 5,3 triệu con, giảm 5,09% Kết quả điều tra cho thấy đàn trâu giảm chủ yếu do hiện nay việc sửdụng trâu trong sản xuất nông nghiệp rất ít, phần lớn chỉ được nông dân sử dụng đểlưu giống Riêng đàn
bò tăng do trong năm giá bò hơi tăng khá cao, hơn nữa nông dân tận dụng bờ ao, vườn cây lâu năm trồng cỏ tạo nguồn thức ăn để đầu tư nuôi bò vỗ béo để tăng thu nhập cho gia đình [4]
Đàn heo giảm do chi phí đầu vào tăng cao nhất là giá thức ăn, giá bán heo hơi lại tăng giảm thất thường làm cho người nuôi không có lãi dẫn đến những hộ nuôi heo với qui mô lớn giảm Vấn đề đô thị hoá mạnh cũng làm ảnh hưởng đến tình hình chăn nuôi heo của tỉnh vì nông dân sợ ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường Một số huyện giảm nhiều như: Duyên Hải giảm 33,24%; Châu Thành giảm 32,42%; Cầu Kè 22,09% [4] Chăn nuôi gia cầm cũng giảm do thời tiết diễn biến phức tạp nắng mưa thất thường đã làm cho gà bị dịch bệnh chết khá nhiều; môi trường chăn nuôi đặc biệt là đàn vịt chạy đồng ngày càng thu hẹp; lượng thức ăn tận dụng như cua, ốc ngày càng ít, người nuôi phải bổ sung thức ăn tổng hợp nên giá thành chăn nuôi cao, trong khi đó giá thịt vịt hơi rẻ nên đã ảnh hưởng đến việc chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh
Sản lượng thịt hơi của đàn gia súc giảm so với năm 2012, trong đó sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước tính đạt 61,1 nghìn tấn, giảm 1,13%; thịt bò 6,3 nghìn tấn, giảm 12,33%; thịt trâu 0,12 nghìn tấn, giảm 16,81% Ngược lại sản lượng thịt hơi và sản lượng trứng của đàn gia cầm tăng so với cùng kỳ, năm 2013 sản lượng thịt gia cầm ước đạt 11,3 nghìn tấn, tăng 4,1%, sản lượng trứng ước đạt 145,6 triệu quả, tăng 12,77% [4]
Trang 33Lâm nghiệp: Trồng 330 ha rừng tập trung, khoanh bảo vệ 316ha; chăm sóc rừng
trồng 295 ha; khoanh nuôi tái sinh 65ha, nâng tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 3,4% (tính theo diện tích tự nhiên) Thực hiện tuần tra bảo vệ rừng, phát hiện và xử lý 9 trường
hợp vi phạm
Ngư nghiệp: Tổng sản lượng thủy sản ước 177.941 tấn (đạt 103,06% kế hoạch),
tăng 15.421 tấn so với năm 2013 Trong đó: sản lượng nuôi 99.550 tấn, tăng 11.413 tấn (đạt 102,79% kế hoạch); sản lượng khai thác 78.390 tấn, tăng 4.008 tấn (đạt 103,42%
kế hoạch) [4]
Diện tích NTTS năm 2013 đạt 29,4 nghìn ha, giảm 15,61% so với năm 2012, trong
đó diện tích nuôi tôm sú là 20,4 nghìn ha, giảm 13,18%; diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 2,3 nghìn ha, gấp 4,3 lần; diện tích nuôi cá tra 84 ha, giảm 44,09%; diện tích nuôi cá lóc (cá quả) là 353 ha, gấp 2,4 lần Sản lượng thủy sản rồng năm nay ước tính đạt 88,4 nghìn tấn, tăng 22,36% so với năm 2012, trong đó cá đạt 59,8 nghìn tấn, tăng 11,13%; tôm đạt 20,6 nghìn tấn tăng 82,95%
Kinh tế trang trại: Theo số liệu tổng hợp điều tra trang trại tính đến thời điểm
01/7/2013, toàn tỉnh có 70 trang trại, tăng 7 trang trại so cùng kỳ năm 2012, trong đó:
có 5 trang trại trồng trọt (trồng cây cam sành), giảm 1 trang trại; 19 trang trại chăn nuôi (chăn nuôi heo), tăng 9 trang trại; 4 5 trang trại thủy sản (Nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng), giảm 1 trang trại và 1 trang trại tổng hợp Số lượng trang trại tăng so với cùng kỳ năm trước do giá heo hơi có chiều hướng tăng, những hộ chăn nuôi với quy mô lớn tiếp tục sản xuất
b Công nghiệp và xây dựng
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 ước đạt 3520 tỷ đồng (theo giá hiện hành ước tính) Dự ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 12/2013 tăng 6,35% so với tháng trước Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,19%; ngành chế biến, chế tạo tăng 6,84%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 1,29%; ngành cung cấp nước, hoạt động và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,62% So với tháng 12 năm 2012, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 0,05% Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2013 ước tính tăng 5,98% so với năm 2012 Trong đó: ngành công nghiệp
Trang 34khai khoáng tăng 23,95%, chủ yếu tăng ở ngành khai thác muối; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,35%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 9,95%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,48% Sản xuất công nghiệp năm 2013 tăng thấp do ngành chế biến thủy sản năm nay thiếu nguyên liệu và thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, mặt khác do tình hình kinh tế gặp khó khăn, sức mua trong dân
không cao nên các cơ sỏ chỉ hoạt động cầm chừng vì vậy tốc độ phát triển chậm [4]
Một số ngành có chỉ số tăng cao như: sản xuất trang phục tăng 24,26%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu, tăng 17,76%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 15,12%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 14,68%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 13,82%, tăng chủ yếu ngành sản xuất giày dép và các bộ phận của giày dép bằng da Các ngành có tốc độ tăng khá là: sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 11,55%; khai thác, xử lý và cung cấp nước, tăng 10,15% Một số ngành có tốc đột ăng thấp hoặc giảm như: Dệt tăng 2,9%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,24%
[4]
Năm 2013 phát triển 2.295km đường dây trung thế, 3.365km đường dây hạ thế, 2.670 trạm biến thế (dung lượng 285.040 kVA) và 4.719 hộ sử dụng điện,đến cuối năm 2013 toàn tỉnh có 258.677 hộ sử dụng điện, đạt tỷ lệ 98,04%, điện thương phẩm
630 triệu Kwh [4]
c Dịch vụ
Thị trường hàng hóa ổn định, sức mua được cải thiện; tổ chức nhiều chuyến bán hàng lưu động, phiên chợ hàng Việt về nông thôn; hỗ trợ doanh nghiệp tìm cơ hội phát triển thị trường Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ, tiêu dùng theo giá hiện hành năm 2013 ước tính đạt 14.334 tỷ đồng, tăng 8,75% so với năm 2012 Trong tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay, kinh doanh thương nghiệp đạt 9.414 tỷ đồng, chiếm 65,67% tổng mức, tăng 12,89% do tình hình giá cả năm nay
ổn định hơn so với năm trước nên ngành thương nghiệp bán lẻ đã được cải thiện Doanh thu khách sạn, nhà hàng ước đạt 2.789 tỷ đồng, chiếm 19,46% tổng mức, tăng 0,19% Doanh thu dịch vụ ước đạt 2.126 tỷđồng, chiếm 14,83%, tăng 3,71% Doanh
Trang 35thu du lịch đạt 5,49 tỷ đồng, chiếm 0,04% tổng mức và giảm 35,94% so với năm trước
Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 303,2 triệu USD, tăng 3,5% so với năm
2012, bao gồm: khu vực kinh tếtrong nước ước đạt 130,5 triệu USD, giảm 4,08%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 172,7 nghìn USD, tăng 10,07% [4]
2.1.3.3 Dân số, lao động
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2013 ước tính 1.015,3nghìn người với khoảng 258.200 hộ, qui mô dân số 3,95 người/hộ; trong đó nữ chiếm 50,75% tổng dân số; dân
số nông thôn chiếm 83,68%; dân tộc Khmer là 322,8 nghìn người, chiếm 31,62% Tốc
độ tăng dân số chung năm 2013 là 0,54%; tỷ suất sinh thô là 15,5‰; tỷ suất chết thô 4,935‰; tốc độ tăng tự nhiên của dân số 10,57 ‰; tỷ lệ di cư thuần ước -5,175‰ [4] Lực lượng lao động năm 2013 ước tính 621,5 nghìn người, chiếm 60,88% tổng dân số, tăng 0,52% so với năm 2012, trong đó lao động nữ là 296 nghìn người, chiếm 47,63% trong tổng số lực lượng lao động, tăng 0,46% so với năm 2012; lao động nông thôn là 525,8 nghìn người, chiếm 84,11%, tăng 0,49% Số lao động đang làm việc trong năm 2013 ước tính là 598,2 nghìn người, chiếm 58,6% tổng dân số, tăng 0,91%, trong đó lao động đang làm việc khu vực kinh tế nhà nước là 36,5 nghìn người, chiếm 6,11% trong tổng số lao động đang làm việc, tăng 0,94% so với năm 2012; khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 541,4 nghìn người, chiếm 90,5%, tăng 0,78%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 20,3 nghìn người, chiếm 3,39%,tăng 4,53% [4]
2.1.3.4 Công tác giảm nghèo
Trong năm 2013, cấp 356.926 thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng hộ nghèo và người dân tộc thiểu số, với tổng số tiền 200,03 tỷ đồng và 48.114 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo với tổng số tiền 285,78 tỷ đồng; xây dựng và triển khai kế hoạch điều tra và
rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2013 để làm cơ sở dữ liệu thực hiện chính sách giảm nghèo năm 2014 [4]
Trang 362.2 Tình hình xâm nhập mặn
2.2.1 Hiện trạng xâm nhập mặn
Sông MêKông chảy vào Việt Nam theo hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu, qua ngã ba sông Vàm Nao có sự phân phối lại dòng chảy từ sông Tiền sang sông Hậu Xuôi về phía hạ lưu tại Trà Vinh sông Tiền và sông Hậu phân nhánh rồi đổ ra biển trên các cửa sông là Cửa Đại, Cửa Tiểu, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định
An và Trần Đề Như vậy Trà Vinh nằm giữa hai nhánh là sông Tiền (đoạn qua Trà Vinh còn có tên là sông Cổ Chiên) thông với Biển Đông qua cửa Cung Hầu và nhánh sông Hậu thông qua biển qua cửa Định An
Trà Vinh là một tỉnh thuộc phần hạ lưu châu thổ sông MêKông với diện tích tự nhiên 2.341,2 km2
Do tiếp giáp với Biển Đông và trong điều kiện địa hình khá bằng phẳng và thấp, mạng lưới sông, kênh rạch chằng chịt nên nước mặn theo thủy triều từ biển xâm nhập vào trong sông và nội đồng, làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của người dân trong tỉnh
Biển Đông là biển nhiệt đới nên độ mặn tương đối lớn Vùng biển thuộc địa phận nước ta độ mặn trong khoảng 32 – 33g/l (‰) riêng độ mặn trên vùng biển trước cửa sông Cửu Long thay đổi trong khoảng 30 – 33g/l, tại các cửa sông do tiếp nhận nguồn nước ngọt nên độ mặn được pha loãng Độ mặn trong vùng ven biển và các cửa sông tại Trà Vinh hàng ngày diễn biến theo chu kỳ của thủy triều Biển Đông (bán nhật triều) có hai đỉnh mặn và hai chân mặn, độ mặn cao nhất tương ứng với đỉnh triều, chân triều khoảng 2 – 3 giờ
Trên cơ sở phân tích số liệu đo mặn thu thập được tại các trạm đo mặn cơ bản do Viện khoa học thủy lợi Miền Nam, Đài khí tượng thủy văn khu vực phía Nam và một
số trạm đo mặn do một số ngành và địa phương quản lý, đồng thời tham khảo kết quả nghiên cứu, đánh giá diễn biến mặn của một số đề tài nghiên cứu khoa học và dự án trong thời gian qua, bài báo giới thiệu một cách khái quát tình hình XNM ở Trà Vinh qua thời gian gần đây
Hiện nay, XNM vào nội đồng ở tỉnh Trà Vinh chủ yếu qua các cửa Cung Hầu và Định An Sự XNM vào trong sông, kênh, rạch và nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các yếu tố thủy văn, thủy lực, lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về, thủy triều,
Trang 37nhiệt độ nước, đặc điểm thủy lực lòng dẫn, độ mặn nước biển và nước sông, các yếu tố địa hình (lòng sông, cửa sông, kênh, rạch ), các yếu tố khí tượng (mưa, bốc hơi, sóng, gió, nhiệt độ không khí ), hoạt động của con người: các công trình xây dựng trên sông (đập dâng, cống lấy nước, ngăn mặn ), khai thác, sử dụng nước Do các yếu tố ảnh hưởng này luôn biến đổi nên sự XNM trong sông ngòi, kênh rạch vùng ven biển luôn luôn biến đổi theo thời gian và không gian
2.2.1.1 Diễn biến theo thời gian
Trà Vinh nằm trong điều kiện chung của khí hậu Nam bộ là mưa kéo dài từ tháng
5 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Mùa mưa, do lượng nước từ thượng nguồn đổ về nhiều làm cho nước biển bị nước sông “ngọt hóa” nên nước thủy triều không có điều kiện XNM sâu vào đất liền Ngược lại vào mùa khô, do lượng nước từ thượng nguồn về giảm mạnh nên nước mặn theo thủy triều có điều kiện XNM sâu trong mạng lưới sông ngòi, kênh rạch và đồng ruộng vùng ven biển Như vậy, sự biến đổi của độ mặn theo thời gian phụ thuộc chủ yếu vào lượng nước từ thượng nguồn đổ về, thủy triều từ biển xâm nhập vào Hàng năm, về cơ bản, mặn biến đổi theo thời gian tương ứng với chế độ của dòng chảy sông
XNM sâu nhất xảy ra vào thời kỳ nước sông cạn kiệt nhất và thủy triều mạnh nhất
Ở ĐBSCL, các tháng 2 - 4 là giai đoạn nước sông ngòi kênh rạch cạn kiệt nên XNM mạnh và sâu nhất Vào giai đoạn này, nước sông cạn kiệt không chỉ do lượng nước từ thượng lưu chảy về nhỏ mà còn có thể do lấy nước sử dụng cho các nhu cầu, nhất là cho tưới Thủy triều đưa nước biển vào trong sông nên độ mặn cũng như ranh giới XNM biến đổi theo từng con triều, đặc biệt là vào giai đoạn nước sông cạn kiệt trong mùa cạn Sự biến đổi trong ngày của độ mặn phụ thuộc chủ yếu vào sự biến đổi của thủy triều và do đó, chế độ mặn phụ thuộc chủ yếu vào chế độ triều Biển Đông (bán nhật triều)
a Độ mặn qua các năm
Đầu mùa khô năm 2013, lượng nước từ thượng nguồn sông MêKông về khá nhỏ nên XNM sớm và sâu Trong tháng 2, độ mặn các trạm đều cao hơn cùng kỳ các năm gần đây, độ mặn cao nhất tháng 2 ở mức cao nhất trong chuỗi số liệu nhiều năm cùng thời kỳ 1995-2010 Trên sông Tiền tại trạm Hương Mỹ (sông Cổ Chiên) là 10,8 g/l
Trang 38(năm 2012 là 0,6g/l), tại trạm Trà Vinh (sông Cổ Chiên) là 12,8 g/l cao hơn cùng kỳ năm 2012 9,0 g/l Trên sông Hậu, độ mặn cao nhất tháng 2 tại trạm Trà Kha là 16,2 g/l (năm 2012 là 8,6 g/l), 13,4 g/l còn các trạm nội đồng cũng ở mức khá cao, cao hơn năm 2012 và ở mức xấp xỉ năm 2011 [8]
Qua hình 2.3 cho thấy độ mặn cao nhất tại các trạm đo đều có xu hướng biến động
độ mặn trong giai đoạn 1995-2013, trong đó chỉ có tại trạm Trà Vinh đã tăng 1,6 g/l, còn các tại trạm Trà Khà và Cầu Quan đều giảm tương ứng là 6,6 và 2,6 g/l Tuy nhiên, độ mặn biến động không đều nhau giữa các trạm và có xu hướng tăng trở lại trong thời gian 2012-2013
Nguyên nhân dẫn đến nước mặn cao nhất chủ yếu tập trung vào những tháng này
là do mùa khô, sông ngòi bị kiệt nước kết hợp với hạn hán kéo dài và gió chướng hoạt động mạnh Còn những tháng sau đó do sông ngòi được cung cấp nước từ thượng
Trang 39nguồn đổ về và bắt đầu có mưa đầu mùa nên nước mặn có sự dịch chuyển về phía hạ lưu
c Nước mặn lấn sâu vào nội đồng
Trong tháng 2 năm 2013, độ mặn các trạm đều cao hơn cùng kỳ các năm gần đây, đặc biệt trên hệ thống sông Cổ Chiên và sông Hậu lượng nước đổ về thấp hơn trung bình mọi năm
Đến đầu tháng 4 năm 2013: Ranh mặn 4g/l trên sông Tiền, xâm nhập sâu nhất 50km tính từ cửa sông, trên sông Hậu xâm nhập sâu nhất khoảng 40-50km tính từ cửa
Nguồn: [Tác giả biên tập dựa vào nguồn 8,12]
Hình 2.4: Lược đồ đường đẳng mặn địa phận tỉnh Trà Vinh năm 2013
Trang 40Nguồn: [Tác giả biên tập dựa vào nguồn 8,12]
Hình 2.5: Lược đồ đường đẳng mặn 4g/l địa phận tỉnh Trà Vinh 2004-2011
Trong thời kì 2004-2013, đường đẳng mặn 4 g/l có sự thay đổi, từ 2004-2013 nước mặn 4 g/l tác động như hoàn toàn diện tích của tỉnh (trừ một số xã huyện Cầu Kè) và
có xu hướng dịch chuyển về phía thượng nguồn Tuy nhiên sự thay đổi đó không quá lớn (hình 2.4 và 2.5)
Chiều dài XNM trung bình nhiều năm tương ứng với độ mặn 1 g/l và 4 g/l
từ tháng 2 đến tháng 5 tại sông Cổ Chiên và sông Hậu được thể hiện ở bảng 2.5
Bảng 2.5: Chiều dài xâm nhập mặn trung bình nhiều năm trên sông Cổ Chiên