1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiều luận Văn minh khu vực Đông Nam Á

37 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 147,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH1.1. Điều kiện tự nhiênĐông Nam Á là khu vực khá rộng với diện tích 4.494.047 km² (chiếm 10.5% diện tích Châu Á và 3% diện tích đất trên Trái Đất) trải ra trên một phần Trái Đất từ khoảng 92° đến 140° kinh Đông và từ khoảng 28° vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 15° vĩ Nam. Về mặt địa lý hành chính, Đông Nam Á hiện nay gồm có 11 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Brunei, Đông Timor với dân số khoảng hơn 556 triệu người (số liệu năm 2004).1.2. Các nhân tố ảnh hưởngDo điều kiện địa lí, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai mùa tương đổi rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng và ẩm. Vì thế Đông Nam Á còn được gọi là khu vực châu Á gió mùa. Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn như một số khu vực lục địa khác có cùng vĩ độ, nhưng nó đã trở nên xanh tốt và trù phú với những đô thị đông đúc và thịnh vượng như KualaLumpur, Singapore, Giacacta... Gió mùa kèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống và sản xuất hàng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông. Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hương của những cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương... và cây lương thực đặc trưng là lúa nước. Không chỉ đem lại thuận lợi cho con người mà những yếu tố tự nhiên tác động và tạo nên sự thất thường cho khí hậu trong vùng tuy với biên độ không lớn lắm. Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực làm thành những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển và đồng bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng. Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế xã hội trên quy mô lớn, thiếu những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển những kỹ thuật tinh tế, phức tạp. Những điều kiện đó rất thuận lợi cho cuộc sống của con người trong buổi đầu nhưng không khỏi không ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của một nền kinh tế sản xuất lớn, tạo nên một khối lượng sản phẩm lớn trong những giai đoạn phát triển sau này của khu vực. Đồng thời, sự đa dạng, đan xen của những địa bàn sinh tụ nhỏ này, đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên tính đa dạng trong văn hóa tộc người của cả khu vực và trong mỗi quốc gia.Vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là hành lang, là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải. Thậm chí cho đến gần đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là ống thông gió hay ngã tư đường. Việc đi lại bằng thuyền ở vùng Đông Nam Á đã có từ thời rất xa xưa. Có thể nói cư dân Đông Nam Á đã biết đóng bè mảng và thuyền đi biển rất sớm. Kỹ thuật hàng hải cổ đạt đến đỉnh cao vào khoảng thế kỉ V TCN khi những hình thuyền với cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi, cong lái được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn. Việc buôn bán bằng đường biển với Đông Nam Á đã khá nhộn nhịp từ thế kỉ II. Đến thế kỉ VII thì thuyền buôn Ả Rập đã thường xuyên đến vùng này để mua hương liệu, gia vị. Không phải ngẫu nhiên mà ở đây đã có mặt những nhà địa lý hay du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả phương Đông và phương Tây trong suốt chiều dài lịch sử như Ptôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tình, Pháp Hiển, Trịnh Hà, Marco Polo, Chu Đạt Quan... Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu quý giá cho đời sau. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu đã coi Đông Nam Á là một bộ phận của hệ thống mậu dịch thế giới, nối liền hai thế giới Đông Tây, có từ thời truyền bá đạo Phật, đạo Hindu cho đến tận ngày nay.Có thể thấy rằng, điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á thuận lợi cho những bước đi đầu tiên của con người.1.3. Lịch sử hình thànhÝ niệm về Đông Nam Á như một khu vực riêng biệt đã có từ lâu. Song cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng được hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn. Từ xa xưa để chỉ khu vực này, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho những mục đích riêng biệt: Người Trung Quốc xưa kia thường dùng từ “Nam Dương” để chỉ những nước nằm trong vùng biển phía Nam; Người Nhật gọi vùng này là “NanYo”; Người Ả Rập xưa gọi vùng này là “Qumr”, rồi lại gọi là “Wap Wap” và sau này chỉ gọi là “Zabag”. Còn người Ấn Độ từ xưa vẫn gọi vùng này là “Suvarnabhumi” (đất vàng) hay “Suvarnadvipa” (đảo vàng). Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ, Đông Nam Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu gia vị và những sản phẩm kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con người thành thạo và can đảm. Tên gọi “Đông Nam Á” được các nhà nghiên cứu chính trị và quân sự của Hà Lan, Anh, Mỹ đưa ra từ những năm đầu khi nổ ra Thế chiến thứ hai, nhưng chính thức đi vào lịch sử với ý nghĩa là một khu vực địa chính trị, và quân sự được bắt đầu từ khi Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Quebec lần thứ nhất vào tháng 8 năm 1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối cao quân Đồng Minh ở Đông Nam Á.Đến khoảng nửa đầu thế kỷ 15, hầu hết các quốc gia tiền thân ở Đông Nam Á đã ra đời, và bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ mà điển hình là nhà nước Đại Việt dưới triều nhà Lê. Đây là nhà nước hoàn thiện và hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á thời bấy giờ. Nhưng đến nửa đầu thế kỷ 18, các nhà nước trên bắt đầu suy yếu và rơi vào sự xâm lược hoặc lệ thuộc vào phương Tây, bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu. Sự quản lý thuộc địa có một ảnh hưởng sâu sắc với Đông Nam Á. Trong khi các cường quốc thuộc địa chiếm hầu hết các nguồn tài nguyên và thị trường rộng lớn của vùng này, thì chế độ thuộc địa cũng làm cho vùng phát triển với quy mô khác nhau. Nền kinh tế nông nghiệp thương mại, mỏ và xuất khẩu đã phát triển nhanh chóng trong giai đoạn này. Nhu cầu tăng cao về nhân công dẫn tới nhập cư hàng loạt, đặc biệt từ thị trường Ấn Độ của Anh Quốc và Trung Quốc, dẫn tới sự thay đổi lớn về nhân khẩu học. Những định chế cho một quốc gia dân tộc kiểu một nhà nước quan liêu, các toà án, phương tiện truyền thông in ấn và ở tầm hẹp hơn là giáo dục hiện đại đã gieo những hạt giống đầu tiên cho các phong trào quốc gia ở những lãnh thổ thuộc địa.Đến đầu thế kỷ 20, các phong trào dân tộc tại các quốc gia trên khu vực đã vùng dậy mạnh mẽ để giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc; đồng thời cũng từ đó ra sức xây dựng để đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. Và cũng kể từ đó khu vực này đã bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng cả về mặt quân sự cũng như kinh tế.Nhìn chung, trong suốt quá trình phát triển, khu vực Đông Nam Á đã gặp nhiều khó khăn và thử thách. Tuy nhiên với sự chung tay đồng lòng của 11 đất nước anh em đã hình thành nên một diện mạo Đông Nam Á mới. Hôm nay, thế giới biết đến khu vực Đông Nam Á hiện đại với đặc trưng ở hoạt động kinh tế diễn ra hết sức năng động, mức độ tăng trưởng kinh tế cao của hầu hết các nước thành viên và sự kết hợp bên trong chặt chẽ thông qua khu vực thương mại tự do ASEAN. Đây cũng là một khối có triển vọng thành công trong việc hội nhập ở mức cao hơn nữa vào vùng Châu Á Thái Bình Dương thông qua Hội nghị thượng đỉnh Đông Á.

Trang 1

HỌC PHẦN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

BÀI THẢO LUẬN

Trang 2

Mục lục

Mục lục 3

1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH 4

1.1 Điều kiện tự nhiên 4

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng 4

1.3 Lịch sử hình thành 5

2 CÁC THỜI KÌ PHÁT TRIỂN VĂN MINH KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 7

2.1 Thời kỳ đầu công nguyên đến thế kỉ VII 7

2.2 Thời kì từ thế kỉ VII-X 7

2.3 Thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XV 8

2.4 Thời kì từ thế XVI đến thế kỉ XIX 9

2.5 Thời kì thế kỉ XX đến nay 10

3 CÁC THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á 11

3.1 Tôn giáo và tín ngưỡng 12

3.1.1 Tín ngưỡng 12

3.1.2 Tôn giáo 16

3.2 Chữ viết 19

3.2.1 Chữ Pali-Sanskrit 19

3.2.2 Chữ Hán 21

3.2.3 Chữ Nôm 22

3.2.4 Chữ Quốc Ngữ 23

3.3 Văn học 24

3.3.1 Văn hóa dân gian 24

3.3.2 Văn học 24

3.4 Kiến trúc, điêu khắc 25

3.4.1 Kiến trúc 25

3.4.2 Điêu khắc 31

3.5 Lễ hội 34

3.5.1 Lễ hội xuống đồng (Việt Nam) 34

3.5.2 Lễ hội dựng chòi cày của người Chăm 35

3.5.3 Lễ hội té nước 35

Trang 3

3.5.4 Lễ hội ban phát giống thiêng (Campuchia) 37 Phụ lục: Tài liệu tham khảo 38

1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH

1.1 Điều kiện tự nhiên

Đông Nam Á là khu vực khá rộng với diện tích 4.494.047 km² (chiếm 10.5% diện tíchChâu Á và 3% diện tích đất trên Trái Đất) trải ra trên một phần Trái Đất từ khoảng 92°đến 140° kinh Đông và từ khoảng 28° vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 15° vĩNam Về mặt địa lý hành chính, Đông Nam Á hiện nay gồm có 11 nước: Việt Nam,Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Philippin, Brunei,Đông Timor với dân số khoảng hơn 556 triệu người (số liệu năm 2004)

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng

Do điều kiện địa lí, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên haimùa tương đổi rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng và ẩm Vì thếĐông Nam Á còn được gọi là khu vực "châu Á gió mùa" Chính gió mùa và khí hậubiển làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn như một sốkhu vực lục địa khác có cùng vĩ độ, nhưng nó đã trở nên xanh tốt và trù phú với những

đô thị đông đúc và thịnh vượng như Kuala-Lumpur, Singapore, Giacacta Gió mùakèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đờisống và sản xuất hàng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc

và chim muông Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hương của những cây gia vị, câyhương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương và câylương thực đặc trưng là lúa nước Không chỉ đem lại thuận lợi cho con người mànhững yếu tố tự nhiên tác động và tạo nên sự thất thường cho khí hậu trong vùng tuyvới biên độ không lớn lắm Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực làm thànhnhững vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển và đồng bằng, tạo nênnhững cảnh quan đa dạng Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu những không gianrộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô lớn, thiếu những điều kiện tự nhiêncho sự phát triển những kỹ thuật tinh tế, phức tạp Những điều kiện đó rất thuận lợi

Trang 4

cho cuộc sống của con người trong buổi đầu nhưng không khỏi không ảnh hưởng nhấtđịnh đến sự phát triển của một nền kinh tế sản xuất lớn, tạo nên một khối lượng sảnphẩm lớn trong những giai đoạn phát triển sau này của khu vực Đồng thời, sự đadạng, đan xen của những địa bàn sinh tụ nhỏ này, đã góp phần không nhỏ trong việctạo nên tính đa dạng trong văn hóa tộc người của cả khu vực và trong mỗi quốc gia.

Vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và TháiBình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là hành lang, là cầu nối giữa TrungQuốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải Thậm chí cho đến gần đây, một

số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là "ống thông gió" hay "ngã tư đường" Việc đilại bằng thuyền ở vùng Đông Nam Á đã có từ thời rất xa xưa Có thể nói cư dân ĐôngNam Á đã biết đóng bè mảng và thuyền đi biển rất sớm Kỹ thuật hàng hải cổ đạt đếnđỉnh cao vào khoảng thế kỉ V TCN khi những hình thuyền với cỡ dáng to lớn, kiểucong mũi, cong lái được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn Việc buôn bán bằngđường biển với Đông Nam Á đã khá nhộn nhịp từ thế kỉ II Đến thế kỉ VII thì thuyềnbuôn Ả Rập đã thường xuyên đến vùng này để mua hương liệu, gia vị Không phảingẫu nhiên mà ở đây đã có mặt những nhà địa lý hay du lịch, nhà truyền giáo hayngoại giao của cả phương Đông và phương Tây trong suốt chiều dài lịch sử nhưPtôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tình, Pháp Hiển, Trịnh Hà, Marco Polo, Chu Đạt Quan

Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu quý giá cho đời sau Cũngkhông phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu đã coi Đông Nam Á là một bộ phậncủa hệ thống mậu dịch thế giới, nối liền hai thế giới Đông Tây, có từ thời truyền báđạo Phật, đạo Hindu cho đến tận ngày nay

Có thể thấy rằng, điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á thuận lợi cho những bước điđầu tiên của con người

1.3 Lịch sử hình thành

Ý niệm về Đông Nam Á như một khu vực riêng biệt đã có từ lâu Song cùng với thờigian, khái niệm này ngày càng được hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn Từ xaxưa để chỉ khu vực này, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho những mục đíchriêng biệt: Người Trung Quốc xưa kia thường dùng từ “Nam Dương” để chỉ nhữngnước nằm trong vùng biển phía Nam; Người Nhật gọi vùng này là “NanYo”; Người ẢRập xưa gọi vùng này là “Qumr”, rồi lại gọi là “Wap - Wap” và sau này chỉ gọi là

“Zabag” Còn người Ấn Độ từ xưa vẫn gọi vùng này là “Suvarnabhumi” (đất vàng)hay “Suvarnadvipa” (đảo vàng) Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ, ĐôngNam Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu gia vị và nhữngsản phẩm kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con người thành thạo và can đảm

Trang 5

Tên gọi “Đông Nam Á” được các nhà nghiên cứu chính trị và quân sự của Hà Lan,Anh, Mỹ đưa ra từ những năm đầu khi nổ ra Thế chiến thứ hai, nhưng chính thức đivào lịch sử với ý nghĩa là một khu vực địa - chính trị, và quân sự được bắt đầu từ khiTổng thống Mỹ Franklin D Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hộinghị Quebec lần thứ nhất vào tháng 8 năm 1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối caoquân Đồng Minh ở Đông Nam Á.

Đến khoảng nửa đầu thế kỷ 15, hầu hết các quốc gia tiền thân ở Đông Nam Á đã rađời, và bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ mà điển hình là nhà nước Đại Việtdưới triều nhà Lê Đây là nhà nước hoàn thiện và hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á thờibấy giờ Nhưng đến nửa đầu thế kỷ 18, các nhà nước trên bắt đầu suy yếu và rơi vào

sự xâm lược hoặc lệ thuộc vào phương Tây, bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa châu

Âu Sự quản lý thuộc địa có một ảnh hưởng sâu sắc với Đông Nam Á Trong khi cáccường quốc thuộc địa chiếm hầu hết các nguồn tài nguyên và thị trường rộng lớn củavùng này, thì chế độ thuộc địa cũng làm cho vùng phát triển với quy mô khác nhau.Nền kinh tế nông nghiệp thương mại, mỏ và xuất khẩu đã phát triển nhanh chóng tronggiai đoạn này Nhu cầu tăng cao về nhân công dẫn tới nhập cư hàng loạt, đặc biệt từ thịtrường Ấn Độ của Anh Quốc và Trung Quốc, dẫn tới sự thay đổi lớn về nhân khẩuhọc Những định chế cho một quốc gia dân tộc kiểu một nhà nước quan liêu, các toà

án, phương tiện truyền thông in ấn và ở tầm hẹp hơn là giáo dục hiện đại đã gieonhững hạt giống đầu tiên cho các phong trào quốc gia ở những lãnh thổ thuộc địa.Đến đầu thế kỷ 20, các phong trào dân tộc tại các quốc gia trên khu vực đã vùng dậymạnh mẽ để giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc; đồng thời cũng từ đó ra sức xâydựng để đất nước ngày càng giàu mạnh hơn Và cũng kể từ đó khu vực này đã bướcvào giai đoạn phát triển nhanh chóng cả về mặt quân sự cũng như kinh tế

Nhìn chung, trong suốt quá trình phát triển, khu vực Đông Nam Á đã gặp nhiều khókhăn và thử thách Tuy nhiên với sự chung tay đồng lòng của 11 đất nước anh em đãhình thành nên một diện mạo Đông Nam Á mới Hôm nay, thế giới biết đến khu vựcĐông Nam Á hiện đại với đặc trưng ở hoạt động kinh tế diễn ra hết sức năng động,mức độ tăng trưởng kinh tế cao của hầu hết các nước thành viên và sự kết hợp bêntrong chặt chẽ thông qua khu vực thương mại tự do ASEAN Đây cũng là một khối cótriển vọng thành công trong việc hội nhập ở mức cao hơn nữa vào vùng Châu Á TháiBình Dương thông qua Hội nghị thượng đỉnh Đông Á

2 CÁC THỜI KÌ PHÁT TRIỂN VĂN MINH KHU VỰC ĐÔNG NAM Á2.1 Thời kỳ đầu công nguyên đến thế kỉ VII

Trang 6

Vào thời kỳ sơ sử, cùng với sự phát triển chung của thế giới, Đông Nam Á cũng bướcqua giai đoạn tiền sử để bắt đầu xác lập cho mình những bước đi trong nền văn hóabản địa.

Sở hữu một địa vực rộng lớn bao gồm toàn bộ khu vực nhiệt đới gió mùa ở Đông NamChâu Á, miền đất này lưu giữ trong bản thân quá trình phát triển của mình những giátrị vô cùng quý giá về thời kỳ sơ sử, thời kỳ được đánh giá là giai đoạn các nhà nướctối cổ được thành lập liên tục Những gì được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á này đãgiúp các nhà nghiên cứu phần nào định hình lại các nhà nước tối cổ mà sự tồn tại của

Lưu vực sông Iraoađi là địa bàn cư trú của người Môn, Pyu và Miến Từ thế kỉ V, ởkhu vực này đã xuất hiện những địa điểm quần cư – trung tâm Phật giáo ở Thatơn vàPrôme Đến thế kỉ VII và thế kỉ VIII các nhà sư Trung Hoa như Nghĩa Tĩnh và HuyềnTrang có nói tới một vương quốc Sri Ksetra của người Pyu ở vùng Prôme Cuối cùng,trên đảo Giava từ thế kỉ IV đã xuất hiện vương quốc Tamura ở phía Tây, còn trên đảoXumatơra có vương quốc Malayu

2.2 Thời kì từ thế kỉ VII-X

Bắt đầu từ khoảng thế kỉ VII đến thế kỉ X ở Đông Nam Á đã diễn ra quá trình hìnhthành các quốc gia “dân tộc” Trước và sau Công nguyên, lịch sử và văn hoá ĐôngNam Á đã phát sinh một chuyển biến cấp tốc Sức sinh sản ở Đông Nam Á vào thời kìsau của xã hội đồ đá mới đã có sự nâng cao từng bước một, dân số liên tục tăngtrưởng, chính điều này đã giúp hình thành các quốc gia lấy một bộ tộc tương đối đôngđúc và phát triển hơn cả làm nòng cốt

Trang 7

Sự phát triển này khiến cho Đông Nam Á đã có năng lực mở mang ra các vùng đất lưuvực sông lớn; một mặt khác là bởi vì quan hệ qua lại với phía bên ngoài đặc biệt làquan hệ qua lại với Ấn Độ và Trung Quốc đã đẩy mạnh phát triển khu vực dọc bờbiển, đã thu hút dân số tụ tập hướng về vùng đất dọc bờ biển, dưới ảnh hưởng nhân tốbên trong và ngoài đã sản sinh và phát triển các nước thời kỳ đầu Trung tâm địa vựcchủ yếu của hoạt động cư dân Đông Nam Á thời kì đầu, từ vùng núi chuyển hướng sát

bờ biển, hoặc khu vực bằng phẳng rất rộng lớn của lưu vực sông cả Thí dụ như khuvực hạ du sông Hồng, một ít khu vực trung và hạ du sông Ayeyarwaddy và khu vực hạ

du sông Mê Kông

Bên cạnh những quốc gia đã xuất hiện từ trước như Âu Lạc của người Việt, Chăm Pacủa người Chăm, đây là thời kì hình thành các vương quốc Chân Lạp của ngườiKhơme, vương quốc của người Indonesia trên đảo Xumatơra, Kalinga ở Giava

2.3 Thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XV

Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là giai đoạn xác lập và phát triển mạnh mẽ của các quốc giaphong kiến "dân tộc" ở Đông Nam Á Ở khu vực Đông Nam Á hải đảo, Inđônêxiadưới vương triều Môgiôpahit bao gồm hơn 10 nước nhỏ và đảo phụ thuộc "có sảnphẩm quý, đứng hàng thứ hai sau Arập" đã không ngừng lớn mạnh trong suốt 3 thế kỉ(XIII - XVI) Đến cuối thế kỉ XIII dòng vua Gia-va mạnh lên, đã chinh phục được Xu-ma-tơ-ra, thống nhất In-đô-nê-xi-a dưới Vương triều MôgiôpahIt hùng mạnh trong 3thế kỉ (1213- 1527), bao gồm hơn 10 nước nhỏ và đảo phụ thuộc, có “sản phẩm quý,đứng hàng thứ hai sau A-rập”

Ở Đông Nam Á lục địa ngoài bán đảo Đông Dương có quốc gia Đại Việt, Chămpa,vương quốc Campuchia từ thế kỉ IX cũng bắt đầu bước vào thời kỉ Ăngco huy hoàng

và trở thành một trong những vương quốc mạnh và ham chiến trận nhất trong khuvực Trên lưu vực sông Mê Nam, từ giữa thế kỉ IX, quốc gia Pagan ở miền Trung đãdần dần lớn mạnh lên, chinh phục các tiểu quốc khác thống nhất lãnh thổ, mở đầu choquá trình hình thành và phát triển của vương quốc Mianma

Cũng trong thế kỉ XIII, do sự tấn công của người Mông Cổ, một bộ phận người Tháivốn sinh sống ở thượng nguồn sông Mê Công đã di cư ồ ạt xuống phía Nam, định cư ởkhu vực sông Mê Nam và lập nên vương quốc Sukhôthay- tiền thân của nước TháiLan sau này Một bộ phận khác định cư ở vùng trung lưu sông Mê Công, lập nênvương quốc Lanxang (Lào) vào giữa thế kỉ XIV

Cùng với sự phát triển kinh tế thịnh vượng và với quá trình xác lập các quốc gia “dântộc”, văn hoá dân tộc cũng dần được hình thành Sau một thời gian tiếp thu và chọn

Trang 8

lọc, các dân tộc Đông Nam Á đã xây dựng nên một nền văn hoá riêng biệt đóng gópvào kho tàng văn hoá chung của loài người những giá trị tinh thần dân tộc.

2.4 Thời kì từ thế XVI đến thế kỉ XIX

Tuy nhiên, thời kì phát triển hưng thịnh của các vương quốc “dân tộc” không được lâudài Từ sau thế kỉ XV, Đông Nam Á bắt đầu bước vào thời kì suy thoái Tuy nhiên ởmỗi quốc gia, sự suy thoái diễn ra không đồng đều về thời gian

Ở Campuchia quá trình này bắt đầu sớm hơn, từ khoảng thế kỉ XIII Thêm vào đó,Vương quốc Thái thành lập vào thế kỉ XIV đã nhiều lần gây chiến với Campuchia, tànphá kinh thành Ăng-co Sau 54 lần bị người Thái xâm chiếm, năm 1432 người Khơ-

me phải bỏ kinh đô Ăng-co, lui về phía nam Biển Hồ, tức là khu vực Phnom Penhngày nay Từ đó, chính quyền phong kiến Campuchia luôn phải đối phó với nhữngcuộc tấn công từ bên ngoài và lao vào những vụ mưu sát, tranh giành địa vị lẫn nhau.Tình hình diễn biến rất phức tạp, khiến đất nước Campuchia hầu như suy kiệt khi thựcdân Pháp đến xâm lược (1863)

Chăm Pa từ thế kỉ XV, Đại Việt và Mianma muộn hơn một chút Riêng đối với Xiêm

và Lanxang, chế độ phong kiến vẫn đang tiếp tục hưng thịnh Tuy nhiên, đến thế kỉXVIII, Lan Xang suy yếu dần vì những cuộc tranh chấp ngôi báu trong hoàng tộc Saukhi Xu-li-nhạ vông xa chết, nước Lan Xang bị phân liệt thành 3 tiểu quốc đối địchnhau: Luông Pha-băng, Viêng Chăn và Chăm-pa-xắc Nhân cơ hội đó, Xiêm đã xâmchiếm và cai trị Lào Lào tiếp tục là thuộc quốc của Xiêm Tình trạng đó kéo dài đếnkhi thực dân Pháp xâm lược và biến Lào thành thuộc địa (năm 1893)

Trong thời kì này đã diễn ra các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, các cuộc khởinghĩa của nông dân chống nhà nước phong kiến liên tiếp xảy ra, chiến tranh xung độtgiữa các quốc gia diễn ra gay gắt

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng suy thoái bắt nguồn từ trong lòng của chế độ phongkiến Nền kinh tế phong kiến đã trở nên lỗi thời, không còn tiếp tục phát triển để đápứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Chính quyền chuyên chế không chăm lo tới

sự phát triển kinh tế của đất nước, nhất là thủy lợi mà chỉ tiêu hao sức người, sức củavào những cuộc chiến tranh nhằm xác định lãnh thổ và quyền lực của mình Mâu thuẫn

xã hội ngày càng trở nên gay gắt Chế độ phong kiến đã trở nên trì trệ và dần dần suythoái

Trong bối cảnh đó, sự xâm nhập của các nước tư bản phương Tây vào Đông Nam Á lànhân tố cuối cùng có ý nghĩa quyết định dẫn tới sự suy sụp của các quốc gia phong

Trang 9

kiến trong khu vực Vị trí cầu nối và nguồn tài nguyên giàu có của Đông nam Á đã thuhút sự chú ý của các nước đế quốc Chế độ chủ nghĩa thực dân đã biến các quốc giaĐông Nam Á trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nước tư bản phương Tây Từnửa đầu thế kỷ 18, các nhà nước trên bắt đầu suy yếu và rơi vào sự xâm lược hoặc lệthuộc vào phương Tây, bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu Sự quản lý thuộcđịa có một ảnh hưởng sâu sắc với Đông Nam Á.

Trong khi các cường quốc thuộc địa chiếm hầu hết các nguồn tài nguyên và thị trườngrộng lớn của vùng này, thì chế độ thuộc địa cũng làm cho vùng phát triển với quy môkhác nhau Nền kinh tế nông nghiệp thương mại, mỏ và xuất khẩu đã phát triển nhanhchóng trong giai đoạn này Nhu cầu tăng cao về nhân công dẫn tới nhập cư hàng loạt,đặc biệt từ thị trường Ấn Độ của Anh Quốc và Trung Quốc, dẫn tới sự thay đổi lớn vềnhân khẩu học Những định chế cho một quốc gia dân tộc kiểu một nhà nước quanliêu, các toà án, phương tiện truyền thông in ấn và ở tầm hẹp hơn là giáo dục hiện đại

đã gieo những hạt giống đầu tiên cho các phong trào quốc gia ở những lãnh thổ thuộcđịa

2.5 Thời kì thế kỉ XX đến nay

Đây là thời kì chuyển hoá cấp tốc từ thời kì đầu tới cận đại về phương diện lịch sửphát triển Đông Nam Á Cho tới trước chiến tranh thế giới thứ hai, ba nướcCampuchia, Lào, Việt Nam bị các đế quốc chiếm; Myanmar, Malaysia trở thành thuộcđịa của Anh; Indonesia là thuộc địa của Hà Lan; Philippines bị Tây Ban Nha và sau đóHoa Kỳ chiếm đóng Ngoại lệ, Thái Lan giữ được nền độc lập nhưng lệ thuộc phươngTây nhiều mặt Trong chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á bịphát xít Nhật xâm chiếm Bởi vì tính đa dạng về phương diện văn hoá nguyên thuỷcộng thêm các nước bị thực dân thống trị theo cách thức không giống nhau cùng vớiảnh hưởng của nhiều loại trào lưu tư tưởng vào thời kì này, văn hoá Đông Nam Á biếnhoá rất đa dạng và phức tạp thêm

Sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945) chấm dứt, ngay khi Nhật đầu hàng, các nước đếquốc trở lại xâm lược, nhân dân các nước Đông Nam Á đã nổi dậy, tiến hành khángchiến chống xâm lược, đến giữa những năm 50 của thế kỉ XX các nước Đông Nam Álần lượt giành được độc lập Cũng từ những năm 50, trong bối cảnh Chiến tranh lạnh ,

đế quốc Mĩ can thiệp vào khu vực Đông Nam Á và tiến hành xâm lược Việt Nam, Lào,Campuchia, tình hình ngày càng trở nên căng thẳng Trong khoảng thời gian này, cácquốc gia Đông Nam Á có sự phân hóa trong đường lối đối ngoại, Thái Lan và Phi-lip-pin tham gia khối quân sự SEATO do Mĩ, Anh, Pháp thành lập tháng 9-1954 nhằmngăn chặn sự ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và đẩy lùi các phong trào đấu tranh giải

Trang 10

phóng dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước,trong khi Indonesia và Myanmar thực hiện đường lối hòa bình, trung lập.

Việc các quốc gia Đông Nam Á giành được độc lập là sự biến đổi quan trọng nhất, làtiền đề cho sự phát triển, những thay đổi liên tiếp sau này Có thể nói rằng, từ đầunhững năm 90 của thế kỉ XX “ một chương mới đã mở ra trong lịch sử khu vực ĐôngNam Á” Sau khi “chiến tranh lạnh” và vấn đề Campuchia được giải quyết bằng việc

kí hiệp định Pari về Campuchia vào tháng 10-1991, tình hình khu vực được cả thiện rõrệt Tiếp đó là sự ra đời của rất nhiều tổ chức trong khu vực, từng bước tiến hành hợptác và hội nhập

Xu hướng nổi bật đầu tiên là sự mở rộng thành viên của tổ chức ASEAN Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc vào ngày 8/8/1967 với

sự tham gia của 5 nước: Indonesia, Thái Lan, Xin-ga-po, Phi-lip-pin, Malaysia Mụctiêu hoạt động của tổ chức là phát triển kinh tế và văn hóa thông qua sự hỗ trợ của cácnước thành viên trên tinh thần duy trì hòa bình và ổn định khu vực Sau đó các nướcBrunei, Việt Nam, Lào và Myanmar lần lượt tham gia tổ chức ASEAN từ 6 nước đãphát triển thành 10 nước thành viên Lần đầu tiên trong lịch sử khu vực, 10 nước ĐôngNam Á cùng đứng trong một tổ chức thống nhất Trên cơ sở đó, ASEAN chuyển trọngtâm họat động sang hợp tác kinh tế, đồng thời xây dựng một khu vực Đông Nam Áhòa bình, ổn định để cùng nhau phát triển phồn vinh Năm 1992 Đông Nam Á trởthành khu vực mậu dịch tự do (AFTA)

Đến nay các quốc gia Đông Nam Á vẫn đang không ngừng phát triển về kinh tế, chínhtrị, văn hóa và sự gắn kết giữa các quốc gia trong khu vực Hiện nay đa số các quốc giatrong khu vực theo chế độ cộng hòa, bên cạnh đó là một số quốc gia theo chính thểquân chủ lập hiến Các nước Đông Nam Á có những nét tương đồng trong nền vănhóa đậm đà bản sắc dân tộc, trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và đang cùng nhauxây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện, cùng nhau phát triển đất nước và khu vực

3 CÁC THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

Là cộng đồng các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, Đông Nam Á không những baochứa những nét tương đồng trong canh tác với hệ thống thủy lợi, mà còn có đời sốngvăn hóa tinh thần hết sức phong phú trong đó bao trùm tất cả là chu trình của đời sống nông nghiệp lúa nước Vì thế từ những truyện thần thoại đến lễ hội; từ phongtục tập quán đến âm nhạc nghệ thuật, kể cả múa hát đều ít nhiều chịu ảnh hưởng vàphản ánh đời sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước

3.1 Tôn giáo và tín ngưỡng

Trang 11

3.1.1 Tín ngưỡng

Ở giai đoạn đầu tiên khi mà nhà nước chưa ra đời thì cư dân khu vực Đông Nam Á đã dùng thuyết "vạn vật hữu linh" tức nghĩa mọi vật đều có linh hồn để chỉ tất cả những hình thức tín ngưỡng, thờ tự trước khi mà Phật giáo, Hồi giáo và Kitô giáo truyền bá tới khu vực này

3.1.1.1 Tín ngưỡng phồn thực

Từ thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở Do cuộc sống gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp trồng lúa nên bên cạnh việc sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực với nghi thức cầu mong được mùa, cầu cho các giống loàisinh sôi nảy nở (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảy nở) rất phát triển ở Đông Nam

Á Tóm gọn lại, tín ngưỡng phồn thực là một hình thức tín ngưỡng dân gian thể hiện ước vọng của người dân về sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người, về cuộc sống

ấm no, đủ đầy Nó được thể hiện dưới các hình thức mang tính phô diễn dưới dạng âm dương, đực cái Việc thờ các hình sinh thực khí của người Chăm, người Thái, người Mường và nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á rất gần với tục thờ linga của Siva giáo Trên mặt trống đồng, xen kẽ giữa các tia mặt trời là các hình tượng sinh thực khí nam

nữ cách điệu hóa những hình cóc trên mặt trống làm rõ ý nghĩa cầu mưa của những

"trống sấm" thời Đông Sơn Cụ thể hơn nữa, trên nóc thạp đồng Đào Thịnh có 4 cặp nam nữ giao phối vừa rất tự nhiên, vừa có ý nghĩa của nghi lễ phồn thực Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn

nữ (như linga, yoni) và thờ hành vi giao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam mà thôi

-Thờ sinh thực khí:

Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Ở các nước có nền nông nghiệp lúa nước như Đông Nam Á, việc thờ sinh thực khí luôn phổ biến, được xem là “biểu tượng của năng lượng thiêng sinh ra muôn loài” Bởi với người dân làm nông nghiệp, họ quan niệm việc thờ sinh thực khí sẽ đem lại sựsinh sôi nảy nở, tốt tươi cho cây cối, hoa màu giúp mùa màng bội thu Và sinh thực khíđược biểu hiện qua các biểu tượng như linga yoni, nõ nường, chày cối Nhưng khác

Trang 12

với hầu hết các nền văn hóa khác là chỉ thời sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực Việt Nam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên Ngoài ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may.

cụ là Đuống và Chày, hai vật biểu trưng cho âm và dương, sự hài hòa của trời đất.-Những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực vẫn còn hiện hữu rất rõ ràng trong đời sống của cư dân Đông Nam Á cho đến ngày nay, ví dụ như các lễ hội, phong tục cầu mưa, té nước của các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia Hay đến cả chiếc bánh tét của nhân dân miền Trung và miền Nam nước ta cũng chính là một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực

3.1.1.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:

Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Với người Việt Nam cũng như người Đông Nam Á sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, thì sự gắn bó với tự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực tư duy là lối tư duy tổng hợp và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần, tính chất âm tính củavăn hóa nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần

Và vì cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp mà là các Bà mẹ, các Mẫu

-Thờ các hiện tượng tự nhiên:

Trước hết, đó là Bà Trời, bà Đất, Bà Nước – những nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên, quan trọng nhất, thiết thân nhất đối với cuộc sống của người làm nông nghiệp lúa nước Về sau, tuy do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa gốc du mục nên có thêm

Trang 13

Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá, song tục thờ bộ ba nữ thần này vẫn lưu truyền trong dân gian dưới dạng tín ngưỡng Tam Phủ với Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ) Mẫu Thượng ngàn và Mẫu Thoải (= thủy) – cai quản ba vùng trời-đất-nước Nhiều nhà, ở góc sân vẫn có một bàn thờ lộ thiên gọi là bàn thờ Bà Thiên (hay bà Thiên Đài)

Tục thờ Mặt Trời là một tín ngưỡng bắt nguồn từ vùng nông nghiệp Đông Nam Á Không trống đồng, thạp đồng nào là không khắc hình mặt trời ở tâm

Tiếp theo trời – đất – nước là các bà Mây – Mưa – Sấm – Chớp những hiện tượng tự nhiên có vai trò hết sức to lớn trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước Đến khi đạo Phật vào Việt nam và Đông Nam Á, nhóm nữ thần Mây-Mưa-Sấm-Chớp này được nhào nặn thành hệ thống Tứ Pháp : Pháp Vân (thần Mây) thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (Thần Sấm) thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (Thần Chớp) thờ ở chùa Bà Dàn Lòng tin của nhân dân vào hệ thống Tứ Pháp mạnh đến nỗi vào thời Lí, nhiều lần triều đình đã phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long cầu đảo, thậm chí rước theo đoàn quân đi đánh giặc…Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian Thần không gian được hình dung thco nguyên lí Ngũ Hành Nương Nương Ngũ Phương chi thần coi sóc trung ương và bốn hướng; Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả đường Theo địa chí, người ta thờ thần thời gian là Thập Nhị Hành Khiển (12 vị thần, mỗi vị coi sóc một năm theo Tí, Sửu, Dần, Mão,…) Thời gian kéo dài, bảo tồn sự sống vô tận nên 12 nữ thần này đồng thời có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở – đó là Mười Hai Bà Mụ

-Thờ động vật:

Trong mảng tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên còn có việc Thờ Động vật và thực vật Trong khi nếp sống trọng sức mạnh của loại hình văn hóa gỗc du mục dẫn đến tục tôn thờ những con thú dữ (như chó sói, hổ, chim ưng, đại bàng….) thì nếp sống tình cảm, hiếu hòa của loại hình văn hóa nông nghiệp dẫn người Việt Nam và Đông Nam Á đến tục thờ các con thú hiền như hươu, nai, trâu, cóc…; riêng loại hình nông nghiệp lúa nước của ta còn thờ một số động vật sống ở nước như: chim, nước, rắn, cá sấu

Chim, rắn, cá sấu chính là những loài phổ biến hơn cả ở vùng sông nước, và do vậy, thuộc loại động vật được sùng bái hàng đầu Người Việt có câu: nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng Thiên hướng nghệ thuật của loại hình văn hóa nông nghiệp còn đẩy các con vật này lên mức biểu trưng: Tiên, Rồng Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc “họ Hồng Bàng” và là “giống Rồng Tiên” (thành ngữ: con Hồng cháu Lạc, con Rồng cháu Tiên) Hồng Bàng chính là một loài chim nước lớn (“bàng” là lớn, chữ

“hồng”(chữ Hán) ghép bởi chữ giang là sông nước và chữ điểu là chim) Tiên Rồng là

Trang 14

một cặp đôi (chỉ có dân tư duy theo lối triết lí âm dương mới có vật tổ cặp đôi), trong

đó Tiên được trừu tượng hoá từ giống chim (cho nên mẹ Âu Cơ đẻ trứng!), còn Rồng được trừu tượng hoá từ hai loại bò sát rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng nước Đông Nam Á

Hình tượng Con Rồng vốn xuất phát từ vùng Đông Nam á – đó là điều đã được giới khoa học khẳng định Nếp sống tình cảm hiếu hòa của người nông nghiệp đã biến con

cá sấu ác thành con rồng hiền, con vật phù hộ cho người dân nông nghiệp Hình cá sấu

là mô típ trang trí khá phổ biến trong các đồ đồng Đông Sơn Cá Sấu – Rồng được coi

là chúa tể cai quản vùng sông nước với tên gọi Bua Khú (Vua Sấu) ở người Mường, Long Quân, Long Vương ở người Việt Con Rồng Việt Nam mang đầy đủ hai nét đặc trưng cơ bản của tư duy nông nghiệp là tổng hợp và linh hoạt: là kết hợp của cá sấu và rắn, sinh ra từ nước và bay lên trời, bay lên trời mà không cần phải có cánh, miệng vừaphun nước vừa phun lửa Rất nhiều địa danh Việt Nam được đặt tên “rồng”: Hàm Rồng, Hàm Long, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Bạch Long Vĩ, Long Đỗ, Long Điền, Long Môn, v.v

-Thờ cây cối, đặc biệt là cây lúa:

Có thế nói tín ngưỡng hồn lúa chính là tín ngưỡng cội nguồn của các tín ngưỡng nói chung và của các lễ hội cổ truyền nói riêng Đó đồng thời cũng là cội nguồn tạo ra những sắc thái tương đồng cho các lễ hội cổ truyền trong toàn vùng Đông Nam Á

Ở Việt Nam, thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa, Người Khmer xem Mẹ lúa là một người đàn bà cưỡi trên mình cá, tay cầm bông lúa Người Mảng, Khơ mú hình dung Mẹ lúa là cô gái trong trắng xinh đẹp trú ngụ trên vạt nương Người Tagbanuwa ở Philippin cho rằng: lúa là cây thiêng, một tặng vậtcủa thần linh, và là lương thực đích thực của con người và các thần linh Ngoài ra thì đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau, Các câu chuyện về ma cây cũng khá phổ biến, nhất là chuyện hồn ma quanh quẩn bên gốc cây chỗ người chết

Trang 15

ra đời tín ngưỡng thờ cúng người đã mất và trước hết quan trọng nhất là thờ cúng ông

bà tổ tiên gia đình, dòng họ Việc thờ cố vừa có ý nghĩa nhớ về cội nguồn, biết ơn cội nguồn, thể hiện lòng ước muốn sự phù hộ độ trì cho người sống

Việc thờ cúng ngày thể hiện mối quan hệ tâm linh giữa người đang sống và người đã chết Đó là sợi dây bền vững xuất phát từ tình cảm cộng đồng, nối quá khứ với hiện tại và tương lai Vì thế, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến trong nhiều dân tộc trên thế giới, điển hình là khu vực Đông Nam Á Biểu tượng về thờ cúng tổ tiên là những hình ảnh đẹp đẽ mà con cháu nghĩ về tổ tiên và tiến hành nghi lễ linh thiêng để nói lên sự ngưỡng mộ, tôn vinh của con cháu đối với tổ tiên Tổ tiên luôn là hình ảnh của những người tài giỏi có công, có đức Nơi thờ tổ tiên thường có bài vị hoặc là ảnh.Cùng là yếu tố mang tính lễ nghi là sự thực hành của một loạt động tác của người đượcquyền thờ cúng Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ được quy định rõ quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng dân tộc Nghi lễ thờ cúng được thực hiện bởi người trưởng gia đình, dòng họ với các động tác dâng lễ vật, khấn lễ Thờ và cúng là hai yếu tố tác động qua lại, thống nhất với nhau trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Sự thờ và tôn thờ chính là nội dung còn hành động cúng là hình thức biểu hiện của nội dung thờ Ý thức tôn thờ, thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúp, tránh sựtrừng phạt của tổ tiên là nội dung cốt yếu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Nếu không

có thờ mà chỉ có cúng thì bản thân tín ngưỡng không có hồn thiêng,không có sự hấp dẫn nội tại và dễ trở nên vô vị Sự “cúng” tuy chỉ là hình thức biểu đạt , song nó tôn về

vẻ linh thiêng, huyền bí, nó chính là hương vị, màu sắc keo dính thỏa mãn niềm tin tôngiáo, đáp ứng nhu cầu của chủ thể tôn giáo

Tục thờ cúng tổ tiên dần dần được mở rộng, không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất mà còn thờ những người có công khai phá mảnh đất đã nuôi dưỡng con người hay những người đã tạo nên nghề nuôi sống con người Lúc này, tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Trong quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra liên tục thì ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập vàPhương Tây đã tác động mạnh mẽ lên những mặt của văn hóa bản địa Mặc dù vậy, dưới những tác động này tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không những không bị phai nhạt, lãng quên mà còn hết sức phong phú, đa dạng về hình thức biểu hiện lẫn nội dung và gắn bó với nhiều tôn giáo khác Chính vì vậy, thờ cúng tổ tiên luôn là một nét đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng của nhiều dân tộc Đông Nam Á

3.1.2 Tôn giáo

3.1.2.1 Ấn Độ giáo

Trang 16

Từ những thế kỉ đầu công nguyên, những tôn giáo lớn từ Ấn Độ (Phật giáo và Ấn Độgiáo) và từ Trung Quốc (Nho giáo, Đạo giáo) bắt đầu du nhập và phát huy ảnh hưởngtới đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc Đông Nam Á Rất có thể hình thức thờvua núi bắt đầu từ Phù Nam đã lan sang Giava rồi được các vua chúa Khơme thờiĂngco, phát triển lên thành một tôn giáo Thần Vua với những nghi thức và kiến trúcthật uy nghi hùng tráng.

Các tôn giáo Ấn Độ là Phật giáo và cũng có vai trò rất to lớn đối với người Chăm Nhưng tôn giáo được thịnh hành nhất là Siva giáo Người Chăm thờ thần Siva chủ yếu dưới dạng Siva - linga - biểu tượng cho sức mạnh sinh thành của vũ trụ, cho uy lực củavương quyền

Như nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á, ban đầu người Khơme cũng tiếp nhận cả hai tôn giáo của Ấn Độ Nhưng rồi họ kết hợp nhiều yếu tố khác nhau lại thành hình tượngtôn giáo mới là Hari Hara - một hình tượng kết hợp cả Siva và Visnu Từ thời

Jayavarman II (802 - 850) bắt đầu áp dụng một tôn giáo mới: thờ thần - vua Để làm việc này, đức vua đã cho đón Hiranyadama - một pháp sư Bàlamôn về kinh đô dạy kinh và giúp làm lễ thần - vua Theo đó, đức vua nhận từ tay thầy Bàlamôn chủ lễ một linh tượng linga để đưa vào thờ ở trong tháp chính giữa hoàng cung Từ đó, linh tượng linga tượng trưng cho vương quyền và cũng từ đó mỗi vị vua thời Ăngco đều phải có trách nhiệm xây dựng cho mình một đền núi để đặt linga của vương triều Vì thế ở đây

đã mọc lên những đền - núi kì vĩ tượng trưng cho vinh quang chói ngời của thời đại Ăngco

3.1.2.2 Phật giáo

Phật giáo vào Campuchia ngay từ buổi đầu cùng với Ấn Độ giáo Trong suốt thời kì Ăngco, Phật giáo tồn tại song song với tôn giáo thần - vua Bắt đầu từ thời JayavarmanVII (1181 - 1219) đạo Phật mới hoàn toàn thay thế Ấn Độ giáo và trở thành quốc giáo của người Khơme Từ đó Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn giáo của cả tầng lớp quý tộc lẫn dân chúng

Phật giáo cũng đã có mặt ở Mianma, Thái Lan, Malaixia từ rất sớm Theo nguồn dữ liệu cổ của Xri Lanca - cuốn Maha Vamsa và bút tích số 13 của vua Asôka thì sau khi định đô ở Pataliputra, Asôka đã phái 9 đoàn truyền giáo ra nước ngoài, trong đó có một đoàn gồm 3 cao tăng đã tới vùng đất vàng (Suvacnabumi) ở phía Đông Vào những thế kỉ đầu công nguyên, hai thành phố Thatơn và Prôme đã là những trung tâm Phật giáo nổi tiếng.Tại đây người ta đã tìm thấy những kiến trúc Xtupa bằng đá, tượng Phật A di đà và Quan thế âm Bồ Tát, cả một "cuốn sách" gồm 20 tờ "giấy" bằng vàng

Trang 17

khắc các đoạn kinh Phật thuộc phái Tiểu thừa và hàng trăm bảng tạ lễ bằng đất nung

có khắc những đoạn kinh Xanxcrit thuộc phái Đại thừa

Cho đến thế kỉ IX suy yếu dần và đến đầu thế kỉ XI, bắt đầu từ thời Pagan, Phật giáo lại hưng thịnh và trở thành quốc giáo của Mianma Thời kì Pagan là thời kì xây dựng các công trình tôn giáo vĩ đại có một không hai trong lịch sử với 13000 công trình kiếnthức cho đến nay còn khoảng 5000 chùa tháp Không phải ngẫu nhiên Myanmar được mệnh danh là đất nước Chùa Vàng

Ở miền Trung Thái Lan đặc biệt là ở Nakhon Pathom đã phát hiện được nhiều di tích phật giáo cổ như các bánh xe luân hồi bằng đá, các tấm thờ có hình Phật bằng đất nung Ngoài ra các hình Phật còn tìm thấy ở Nakhon Rachasima (Còrạt), ở Sungai Kolôc (Narathivat) đều thuộc phong cách Amaravati của Ấn Độ (thế kỉ I - III) Điều

đó chứng tỏ Phật giáo Tiểu thừa đã có mặt ở Thái Lan rất sớm, ít nhất cũng từ những thế kỉ đầu của công nguyên

Trong khi đó ở vùng ven biển phía Nam bên bờ Vịnh Thái Lan là nơi truyền bá của Phật giáo Đại thừa Theo một số nguồn sử liệu vào năm 417, một đoàn truyền giáo củavua Kusana do cao tăng Kushưhara dẫn đầu đã đến Xumatơra rồi sang Giava và ngượclên Campuchia Sau đó vào thế kỉ VII một cao tăng Ấn Độ là Đhamapala đã đến Xumatơra Ông là người đặt nền móng cho Phật giáo Đại thừa - một dòng tại vùng quần đảo Inđônêxia Từ đầu thế kỉ VII cả một vùng rộng lớn bao gồm Xumatơra, Giava, Boócnêô, một phần bán đảo Mã Lai và vùng duyên hải Nam Thái Lan đều thuộc quyền cai trị của vương quốc Sơrivijaya Trong suốt 4 thế kỉ tồn tại, Sơrivijaya

là một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất ở Đông Nam Á

Phật giáo được truyền bá vào Lào từ khoảng thế kỉ VII - VIII, nhưng chỉ đến thời Pha Ngừm nó mới chính thức trở thành quốc giáo của vương quốc Lanxang

và sự lớn mạnh của các Hồi quốc ở khu vực này Dần dần hồi giáo được truyền bá vào

Trang 18

các nước trong khu vực, ngày nay ở Đông Nam Á, đạo Hồi có khoảng trên 165 triệu tín đồ và con số đó đang không ngừng tăng lên.

3.1.2.3 Kitô giáo

Từ khi người phương Tây bắt đầu có mặt ở Đông Nam Á, Đạo Kitô cũng theo họ và dần dần thâm nhập vào khu vực này.Đạo Kitô đã xuất hiện ở Việt Nam ngay từ thế kỉ XVI Những nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam là nhưng giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, sau đó là người Pháp Ở Campuchia cũng tương tự ; trong khi

đó Kitô giáo vào Lào khá muộn từ thế kỉ XIX do những giáo sĩ người Pháp và sau đó

là người Mỹ đem tới

3.2 Chữ viết

Chữ viết xuất hiện ở ĐNA khá sớm, khoảng đầu công nguyên Ban đầu, hệ thống chữviết của các quốc gia ĐNA được sử dụng dựa vào các chữ viết cổ của Ấn Độ (chữPhạn, Sanskrit, chữ Pali) và Trung Quốc (chữ Hán) Tuy nhiên, dù sao chữ Sanskrithay chữ Pali, chữ Hán không chỉ là văn tự mà còn là ngoại ngữ, ngôn ngữ bác học cầncho việc viết văn bia hay bày tỏ ý nguyện với thần thánh, chỉ hợp với một số ít ngườitrong xã hội Do đó, các học giả đã cải biên mẫu tự Sanskrit, mẫu tự Hán xây dựngmột hệ thống chữ viết để ghi ngôn ngữ bản địa của mình Từ thế kỉ IV đến thế kỉ VII,lần lượt ra đời các chữ viết cổ riêng của các dân tộc ĐNA như: chữ Chăm cổ, Khmer

cổ, Môn cổ, Pyu cổ, Mã Lai cổ, Miến cổ, Nôm của Việt Nam Đến thế kỉ XIII, cáchình thức cổ nhất của chữ Thái cũng ra đời Chữ Ấn Độ cổ hay chữ Hán cổ vẫn đượcdùng song hành đến khoảng thế kỉ X trở đi mới được thay thế dần bằng chữ cổ bản địa.Ngày nay, các quốc gia ở ĐNA đều sử dụng các dạng chữ Viết theo mẫu tự Latinh

Ngày đăng: 18/01/2022, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w