LỜI MỞ ĐẦUTrong thế giới bao la rộng lớn xung quanh chúng ta, có vô vàn sự vật, hiện tượng phong và đa dạng. Tuy nhiên, dù có phong phú và đa dạng đến đâu thì chúng cũng đều sẽ được xem xét dưới những phạm trù nhất định, được tuân theo những quy luật chung. Có rất nhiều quan điểm triết học về các cặp phạm trù cũng như là các quy luật, thế nhưng chỉ có quan điểm triết học của Mác – Lênin là đúng và đầy đủ nhất: có 6 cặp phạm trù (cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện tượng) và 3 quy luật (quy luật lượng chất, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập và cuối cùng là quy luật phủ định của phủ định). Tiếp sau đây, em xin được trình bày những hiểu biết của bản thân về 6 cặp phạm trù và quy luật lượng chất cũng như cách vận dụng chúng vào trong quá trình học tập, phát triển và thực tiễn đời sống của mình.Sau một thời gian dài, bài làm của em đã hoàn thành một cách đầy đủ nhất những khía cạnh liên quan đến đề bài. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên em được bài một bài tập lớn nên sẽ không thể tránh khỏi có những thiếu sót. Chính vì vậy, em rất mong nhận được những lời góp ý của cô và chỉnh sửa bài làm một cách hoàn hảo nhất. Em xin chân thành cảm ơnI. Nội dungTrước khi đi vào tìm hiểu các cặp phạm trù triết học, ta cùng điểm qua định nghĩa về phạm trù triết học.Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất cả các đối tượng hiện thực. Sau đây là những cặp phạm trù cơ bản.1.Sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vậtI.1. Cái riêng và cái chungKhái niệm:Cái riêng (cái đặc thù) là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng riêng lẻ nhất định.Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác.Cái chung (cái phổ biến) là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một sự vật, một hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác.Mối liên hệ biện chứng giữa cái riêng – chung – đơn nhất:Cái chung, cái riêng và cái đơn nhất cùng tồn tại trong sự vật, hiện tượng, là một chỉnh thể. Cái chung giúp tìm hiểu sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng; cái riêng giúp sự vật, hiện tượng trở nên phong phú, đa dạng hơn; cái đơn nhất giúp tạo sự khác biệt giữa các sự vật, hiện tượng.Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, không tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng. Trong một cái riêng bao gồm cả cái chung và cái đơn nhất.Trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại, nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, nếu cái đơn nhất có lợi thì tạo điều kiện để nó chuyển hóa thành cái chung và ngược lại, nếu cái chung không còn là cái phù hợp thì tác động để cái chung chuyển hóa thành cái riêng.Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:Em sẽ vận dụng cặp phạm trù cái riêng và cái chung vào kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả. Trong quá trình học tập thì sinh viên như chúng em thường xuyên phải kết hợp để làm việc nhóm. Vậy thì đầu tiên khi được sắp xếp vào một nhóm, em sẽ cần phải tìm ra một cái điểm chung của mọi người trong một nhóm, ví dụ như là tất cả các bạn trong nhóm đều có niềm yêu thích môn Triết học và có mục tiêu là hoàn thành xuất sắc bài tập nhóm được giao, từ đó mọi người có thể bắt đầu trò chuyện những vấn đề xoay quanh để làm quen và hòa nhập hơn với nhau. Thế nhưng để có thể hoàn thành tốt mục tiêu đề ra thì còn cần dựa vào kĩ năng, khả năng riêng biệt của từng bạn như tìm kiếm thông tin, thiết kế slide, thuyết trình,… rồi sau đó kết hợp lại tạo nên thành phẩm tốt nhất. Nếu trong nhóm mọi người chỉ toàn có thế mạnh về tìm kiếm thông tin thì kết quả sẽ không được như mong đợi. Qua đó, em biết rằng bản thân mình phải không ngừng trau dồi thêm kĩ năng, kiến thức, có được sự thể hiện đơn nhất của mình để trở nên tốt hơn và thành công trong tương lai.1.2. Nguyên nhân và kết quảKhái niệm:Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định.Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên.Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả.Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động. Trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định. Nhưng bản thân điều kiện không phải nguyên nhân.Tính chất của mối liên hệ nhân – quả:Tính khách quan: Mối liên hệ nhân – quả là vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn con người.Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng có mối liên hệ nhân quả.Tính tất yếu: nguyên nhân như nhau, trong những điều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau. Nguyên nhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả gây ra càng giống nhau.Mối quan hệ biện chứng giữa nhân và quả: Quan hệ khởi nguyên: nhân sinh ra quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả về thời gian. Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả.+ Để nhân tạo quả thì cần có điều kiện tương ứng+ Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra chứ không chỉ một nguyên nhân nào cả. Quan hệ phức tạp:+ Nhân tạo ra quả, quả tác động trở lại nhân+ Một nhân tạo ra nhiều quả, một quả do nhiều nhân tạo nên+ Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau.Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:Trong việc học tập, cặp phạm trù nhân – quả sẽ được em vận dụng vào việc học từ vựng tiếng anh như sau: Em muốn đạt được kết quả là sau 2 tháng có thể đạt được trình độ C1 là biết 8000 từ tiếng anh, vì vậy nên tích tiểu thành đại, mỗi ngày em cần học 130 từ mới trong suốt 2 tháng. Và nếu trong quá trình học từ em tìm ra được phương pháp học hiệu quả đối với bản thân thì việc có được 8000 còn sớm hơn thời gian 2 tháng vì đây là tác động cùng chiều tạo ra kết quả một cách nhanh chón hơn. Ngược lại, nếu trong thời gian 2 tháng này, em không đều đặn học từ hoặc cảm thấy chán và bỏ dở giữa chừng thì kết quả mang lại sẽ rất tệ.1.3. Tất nhiên và ngẫu nhiênKhái niệm: Tất nhiên là phạm trù triết học chỉ cái do nguyên nhân chủ yếu bên trong sự vật quy định và trong những điều kiện nhất định, nó nhất định phải xảy ra như thế chứ không thể khác được.Ngẫu nhiên là phạm trù triết học chỉ cái không phải do bản chất kết cấu bên trong sự vật, mà do những nguyên nhân bên ngoài sự vật, do sự ngẫu hợp của những hoàn cảnh bên ngoài sự vật quyết định, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này hoặc thế khác.Mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên:Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức cua con người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật.Cái tất nhiên có vai trò chi phối đối với sự vận động, phát triển của sự vật, cái ngẫu nhiên làm cho sự vật phát triển nhanh hơn hoặc chậm lại.Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau, không có tất nhiên cũng như ngẫu nhiên thuần túy tách rời nhau.Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau:+ Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình, xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên; thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Cái ngẫu nhiên lại là hình thức biển hiện của tất nhiên, bổ sung cho cái tất nhiên. Bất cứ cái ngẫu nhiên nào cũng thể hiện phần nào đó của cái tất nhiên.+ Không có tất nhiên thuần túy tách rời cái ngẫu nhiên, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần túy tách rời cái tất nhiên.Tất nhiên và ngẫu nhiên trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hóa cho nhau.Cái này, trong mối quan hệ này được coi là tất nhiên thì trong mói quan hệ khác rất có thể được coi là ngẫu nhiên.Ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cũng chỉ là tương đối.Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:Em sẽ tập quan sát, tìm ra những cái tất nhiên trong cái ngẫu nhiên, dùng tất nhiên để quy định ngẫu nhiên, giảm thiểu những ngẫu nhiên đem lại bất lợi cho bản thân. Ví dụ như muốn có điểm thi cuối kì tốt, em cần phải siêng năng, chăm chỉ nghe giảng, làm bài tập ở nhà, chú ý nghe giảng và đấy là điều tất nhiên, nhưng đến ngày thi em lại ngủ quên hoặc ốm thì đấy là điều ngẫu nhiên. Tuy nhiên thì em có thể giảm thiểu xác suất bị ốm bằng việc ăn uống, ngủ nghỉ điều độ trước ngày thi hoặc tối có thể nhờ bố, mẹ sáng gọi dậy sớm để đi thi. Hoặc khi tham gia giao thông, có rất nhiều khả năng em sẽ ngẫu nhiên bị tai nạn nhưng em có thể giảm thiểu rủi ro bằng việc đội mũ bảo hiểm và chấp hành đầy đủ luật an toàn giao thông. Em sẽ có áp dụng cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên để có cái nhìn đa chiều hơn về mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, không đánh đồng cái tuyệt đối với tất nhiên, phủ định với ngẫu nhiên.1.4. Nội dung và hình thứcKhái niệm:Nội dung là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, các quá trình tạo nên sự vật.Hình thức là phạm trù triết học chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật.Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức:Giữa nội dung và hình thức có sự thống nhất hữu cơ với nhauKhông có hình thức nào không chứa nội dung và ngược lại. Nội dung nào sẽ có hình thức tương đó.Các yếu tố tạo thành sự vật vừa góp phần tạo nên nội dung vừa tham gia tạo nên hình thức.Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vậtNội dung biến đổi nhanh, hình thức thường biến đổi chậm hơn nội dung. Do vậy, hình thức khi ấy sẽ trở nên lạc hậu so với nội dung và kìm hãm nội dung phát triển. Hình thức sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung.Mặc dù bị quy định bởi nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung nên có thể tác động trở lại nội dung. Một nội dung có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau. Hình thức cũng có tác động đối với nội dung, nhất là khi hình thức mới ra đời, theo hướng hoặc là tạo điều kiện, hoặc kìm hãm nội dung phát triển.Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:Đầu tiên là về việc nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Em sẽ cân nhắc và suy nghĩ kĩ trước khi đưa ra một quan điểm với sự vật, hiện tượng xung quanh. Chẳng hạn như khi nhìn thấy một bạn xỏ khuyên mũi, khuyên tai, xăm hình kín cánh tay và nhuộm tóc màu nổi thì những hình thức bên ngoài đó không thể hiện tính cách bên trong của bạn là một người hòa đồng và dễ gần. Hay như một bạn sinh viên trông ngu ngơ, đần độn lại có thể là một người học rất giỏi. Hoặc ví dụ như đọc một cuốn sách, một nghiên cứu em cần phải nhìn vào nội dung mà đánh giá chứ không thể nào nhìn vào cái bìa sách, cái hình thức bên ngoài để đánh giá được. Nhưng ngược lại, việc có một hình thức bên ngoài tốt, phần hình ảnh đẹp, minh họa được cho nội dung thì cuốn sách đó có thể thu hút được sự chú ý của độc giả, từ đó mới có thể tìm hiểu sâu hơn về nội dung bên trong nó.Hoặc ngoài ra thì hình thức cũng có thể quyết định một phần nội dung. Em có thể lấy ví dụ như là nếu người khác thấy phòng ốc của em luộm thuộm, bừa bộn, quần áo vứt lăn lốc thì họ không thể nói rằng em là một người sống sạch sẽ được. Từ đó em có thể thay đổi, có những suy nghĩ và hành động sâu hơn, kĩ càng hơn để bản thân phát triển một cách tốt nhất.
Trang 1BÀI TẬP LỚN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề bài: Vận dụng sáng tạo 6 cặp phạm trù và quy luật lượng chất trong quá trình học tập và phát triển bản thân.
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu _1
I Nội dung _2
1 Sáu cặp phạm trù cơ bản của phép duy vật biện chứng và vận
dụng 2 1.1 Cái riêng và cái chung 2 1.2 Nguyên nhân và kết quả _4 1.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên _6 1.4 Nội dung và hình thức 7 1.5 Bản chất và hiện tượng 9 1.6 Khả năng và hiện thực _10
2 Quy luật lượng – chất và vận dụng 11 2.1 Khái niệm về lượng _11 2.2 Khái niệm về chất 11 2.3 Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về
chất _11
II Kết luận _14
Trang 3Tài liệu tham khảo _14
Đề bài: Vận dụng sáng tạo 6 cặp phạm trù và quy luật lượng chất trong quá trình
học tập và phát triển bản thân của em
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế giới bao la rộng lớn xung quanh chúng ta, có vô vàn sự vật, hiện tượng phong và đa dạng Tuy nhiên, dù có phong phú và đa dạng đến đâu thì chúng cũng đều sẽ được xem xét dưới những phạm trù nhất định, được tuân theo những quy luật chung Có rất nhiều quan điểm triết học về các cặp phạm trù cũng như là các quy luật, thế nhưng chỉ có quan điểm triết học của Mác – Lênin
là đúng và đầy đủ nhất: có 6 cặp phạm trù (cái riêng và cái chung, nguyên nhân
và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện tượng) và 3 quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập và cuối cùng là quy luật phủ định của phủ định) Tiếp sau đây, em xin được trình bày những hiểu biết của bản thân
về 6 cặp phạm trù và quy luật lượng - chất cũng như cách vận dụng chúng vào trong quá trình học tập, phát triển và thực tiễn đời sống của mình
Sau một thời gian dài, bài làm của em đã hoàn thành một cách đầy đủ nhất những khía cạnh liên quan đến đề bài Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên em được
Trang 4bài một bài tập lớn nên sẽ không thể tránh khỏi có những thiếu sót Chính vì vậy,
em rất mong nhận được những lời góp ý của cô và chỉnh sửa bài làm một cách hoàn hảo nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
I Nội dung
Trước khi đi vào tìm hiểu các cặp phạm trù triết học, ta cùng điểm qua định nghĩa về phạm trù triết học
Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là
những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất
cả các đối tượng hiện thực Sau đây là những cặp phạm trù cơ bản
1 Sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
I.1 Cái riêng và cái chung
*Khái niệm:
Cái riêng (cái đặc thù) là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện
tượng riêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét, những mặt, những
thuộc tính chỉ có ở một sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác
Cái chung (cái phổ biến) là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những
thuộc tính không những có ở một sự vật, một hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác
Trang 5*Mối liên hệ biện chứng giữa cái riêng – chung – đơn nhất:
Cái chung, cái riêng và cái đơn nhất cùng tồn tại trong sự vật, hiện tượng, là một chỉnh thể Cái chung giúp tìm hiểu sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng; cái riêng giúp sự vật, hiện tượng trở nên phong phú, đa dạng hơn; cái đơn nhất giúp tạo sự khác biệt giữa các sự vật, hiện tượng
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, không tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng Trong một cái riêng bao gồm cả cái chung và cái đơn nhất
Trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại, nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, nếu cái đơn nhất có lợi thì tạo điều kiện để nó chuyển hóa thành cái chung và ngược lại, nếu cái chung không còn là cái phù hợp thì tác động để cái chung chuyển hóa thành cái riêng
*Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:
Em sẽ vận dụng cặp phạm trù cái riêng và cái chung vào kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả Trong quá trình học tập thì sinh viên như chúng em thường xuyên phải kết hợp để làm việc nhóm Vậy thì đầu tiên khi được sắp xếp vào một nhóm, em
sẽ cần phải tìm ra một cái điểm chung của mọi người trong một nhóm, ví dụ như
là tất cả các bạn trong nhóm đều có niềm yêu thích môn Triết học và có mục tiêu là hoàn thành xuất sắc bài tập nhóm được giao, từ đó mọi người có thể bắt đầu trò chuyện những vấn đề xoay quanh để làm quen và hòa nhập hơn với nhau Thế nhưng để có thể hoàn thành tốt mục tiêu đề ra thì còn cần dựa vào kĩ năng, khả năng riêng biệt của từng bạn như tìm kiếm thông tin, thiết kế slide, thuyết trình,… rồi sau đó kết hợp lại tạo nên thành phẩm tốt nhất Nếu trong nhóm mọi người chỉ toàn có thế mạnh về tìm kiếm thông tin thì kết quả sẽ không được như mong đợi Qua đó, em biết rằng bản thân mình phải không ngừng trau dồi thêm kĩ năng, kiến thức, có được sự thể hiện đơn nhất của mình
để trở nên tốt hơn và thành công trong tương lai
Trang 61.2 Nguyên nhân và kết quả
*Khái niệm:
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu
tố mang tính nguyên nhân gây nên
Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân
nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả
Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động Trên cơ sở
đó gây ra một biến đổi nhất định Nhưng bản thân điều kiện không phải nguyên nhân
*Tính chất của mối liên hệ nhân – quả:
Tính khách quan: Mối liên hệ nhân – quả là vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn con người
Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng có mối liên hệ nhân quả
Tính tất yếu: nguyên nhân như nhau, trong những điều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau Nguyên nhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả gây ra càng giống nhau
*Mối quan hệ biện chứng giữa nhân và quả:
- Quan hệ khởi nguyên: nhân sinh ra quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả về thời gian Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả
+ Để nhân tạo quả thì cần có điều kiện tương ứng
+ Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra chứ không chỉ một nguyên nhân nào cả
- Quan hệ phức tạp:
Trang 7+ Nhân tạo ra quả, quả tác động trở lại nhân
+ Một nhân tạo ra nhiều quả, một quả do nhiều nhân tạo nên
+ Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau
*Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:
Trong việc học tập, cặp phạm trù nhân – quả sẽ được em vận dụng vào việc học
từ vựng tiếng anh như sau: Em muốn đạt được kết quả là sau 2 tháng có thể đạt được trình độ C1 là biết 8000 từ tiếng anh, vì vậy nên tích tiểu thành đại, mỗi ngày em cần học 130 từ mới trong suốt 2 tháng Và nếu trong quá trình học từ
em tìm ra được phương pháp học hiệu quả đối với bản thân thì việc có được
8000 còn sớm hơn thời gian 2 tháng vì đây là tác động cùng chiều tạo ra kết quả một cách nhanh chón hơn Ngược lại, nếu trong thời gian 2 tháng này, em không đều đặn học từ hoặc cảm thấy chán và bỏ dở giữa chừng thì kết quả mang lại sẽ rất tệ
1.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên
*Khái niệm:
Tất nhiên là phạm trù triết học chỉ cái do nguyên nhân chủ yếu bên trong sự vật
quy định và trong những điều kiện nhất định, nó nhất định phải xảy ra như thế chứ không thể khác được
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học chỉ cái không phải do bản chất kết cấu bên
trong sự vật, mà do những nguyên nhân bên ngoài sự vật, do sự ngẫu hợp của những hoàn cảnh bên ngoài sự vật quyết định, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này hoặc thế khác
*Mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên:
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức cua con
người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật
Trang 8- Cái tất nhiên có vai trò chi phối đối với sự vận động, phát triển của sự vật, cái ngẫu nhiên làm cho sự vật phát triển nhanh hơn hoặc chậm lại
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau, không có
tất nhiên cũng như ngẫu nhiên thuần túy tách rời nhau
- Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau:
+ Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình, xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên; thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên Cái ngẫu nhiên lại là hình thức biển hiện của tất nhiên, bổ sung cho cái tất nhiên Bất cứ cái ngẫu nhiên nào cũng thể hiện phần nào đó của cái tất nhiên
+ Không có tất nhiên thuần túy tách rời cái ngẫu nhiên, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần túy tách rời cái tất nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hóa cho nhau
- Cái này, trong mối quan hệ này được coi là tất nhiên thì trong mói quan hệ khác rất có thể được coi là ngẫu nhiên
- Ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cũng chỉ là tương đối
*Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:
Em sẽ tập quan sát, tìm ra những cái tất nhiên trong cái ngẫu nhiên, dùng tất nhiên để quy định ngẫu nhiên, giảm thiểu những ngẫu nhiên đem lại bất lợi cho bản thân Ví dụ như muốn có điểm thi cuối kì tốt, em cần phải siêng năng, chăm chỉ nghe giảng, làm bài tập ở nhà, chú ý nghe giảng và đấy là điều tất nhiên, nhưng đến ngày thi em lại ngủ quên hoặc ốm thì đấy là điều ngẫu nhiên Tuy nhiên thì em có thể giảm thiểu xác suất bị ốm bằng việc ăn uống, ngủ nghỉ điều
độ trước ngày thi hoặc tối có thể nhờ bố, mẹ sáng gọi dậy sớm để đi thi Hoặc khi tham gia giao thông, có rất nhiều khả năng em sẽ ngẫu nhiên bị tai nạn nhưng em có thể giảm thiểu rủi ro bằng việc đội mũ bảo hiểm và chấp hành đầy
Trang 9đủ luật an toàn giao thông Em sẽ có áp dụng cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên để có cái nhìn đa chiều hơn về mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, không đánh đồng cái tuyệt đối với tất nhiên, phủ định với ngẫu nhiên
1.4 Nội dung và hình thức
*Khái niệm:
Nội dung là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, các quá
trình tạo nên sự vật
Hình thức là phạm trù triết học chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật,
là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật
*Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức:
Giữa nội dung và hình thức có sự thống nhất hữu cơ với nhau
- Không có hình thức nào không chứa nội dung và ngược lại Nội dung nào sẽ có hình thức tương đó
- Các yếu tố tạo thành sự vật vừa góp phần tạo nên nội dung vừa tham gia tạo nên hình thức
Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vật
- Nội dung biến đổi nhanh, hình thức thường biến đổi chậm hơn nội dung Do vậy, hình thức khi ấy sẽ trở nên lạc hậu so với nội dung và kìm hãm nội dung phát triển Hình thức sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung
Mặc dù bị quy định bởi nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung nên có thể tác động trở lại nội dung
- Một nội dung có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
- Cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau
Trang 10- Hình thức cũng có tác động đối với nội dung, nhất là khi hình thức mới ra đời, theo hướng hoặc là tạo điều kiện, hoặc kìm hãm nội dung phát triển
*Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:
Đầu tiên là về việc nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Em sẽ cân nhắc và suy nghĩ kĩ trước khi đưa ra một quan điểm với sự vật, hiện tượng xung quanh Chẳng hạn như khi nhìn thấy một bạn xỏ khuyên mũi, khuyên tai, xăm hình kín cánh tay và nhuộm tóc màu nổi thì những hình thức bên ngoài đó không thể hiện tính cách bên trong của bạn là một người hòa đồng và dễ gần Hay như một bạn sinh viên trông ngu ngơ, đần độn lại có thể là một người học rất giỏi Hoặc ví dụ như đọc một cuốn sách, một nghiên cứu em cần phải nhìn vào nội dung mà đánh giá chứ không thể nào nhìn vào cái bìa sách, cái hình thức bên ngoài để đánh giá được Nhưng ngược lại, việc có một hình thức bên ngoài tốt, phần hình ảnh đẹp, minh họa được cho nội dung thì cuốn sách đó có thể thu hút được sự chú ý của độc giả, từ đó mới có thể tìm hiểu sâu hơn về nội dung bên trong nó
Hoặc ngoài ra thì hình thức cũng có thể quyết định một phần nội dung Em có thể lấy ví dụ như là nếu người khác thấy phòng ốc của em luộm thuộm, bừa bộn, quần áo vứt lăn lốc thì họ không thể nói rằng em là một người sống sạch sẽ được Từ đó em có thể thay đổi, có những suy nghĩ và hành động sâu hơn, kĩ càng hơn để bản thân phát triển một cách tốt nhất
1.5 Bản chất và hiện tượng
*Khái niệm:
Bản chất là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các mối liên hệ tất
nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó
Trang 11Hiện tượng là phạm trù triết học chỉ cái là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
*Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng:
Bản chất và hiện tượng thống nhất trong sự vật
- Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là
sự thể hiện của bản chất nhất định
- Không có bản chất thuần tuý tách rời hiện tượng, không thể hiện ra qua hiện tượng và ngược lại
- Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra qua các hiện tượng khác nhau
Thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là thống nhất bao gồm mâu thuẫn
- Bản chất sâu sắc hơn hiện tượng còn hiện tượng phong phú hơn bản chất
- Bản chất tương đối ổn định, lâu biến đổi còn hiện tượng biến đổi nhanh hơn
- Bản chất ẩn dấu bên trong, hiện tượng bộc lộ ra bên ngoài
- Bản chất không được bộc lộ hoàn toàn ở một hiện tượng mà ở nhiều hiện tượng khác nhau
*Vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập và phát triển:
Chẳng hạn như trong một số khoảng thời gian, bản thân em đã lơ là, chểnh mảng việc học tập trên trường lớp Thế nhưng đó không phải là bản chất thực
sự của em, ví dụ thời gian mà em lơ là việc học hành chỉ là số ít trong đa số thời gian là em luôn tập trung cao độ vào việc học vì vậy mọi người không thể đánh giá con người và bản chất bên trong của em chỉ thông qua một vài hiện tượng nhỏ như trên được Từ đó em có thể rút ra một điều rằng khi đánh giá về một
sự vật nào đó thì em cần phải xem xét, tìm hiểu kĩ các phương diện, trong các mối quan hệ, có cái nhìn bao quát toàn thể của sự vật đó chứ không được chỉ dựa vào vài hiện tượng bên ngoài chỉ xảy ra nhất thời mà đánh giá sai và thiếu khách quan về sự vật đó