1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ôn THI tài LIỆU ôn tập môn CÔNG PHÁP QUỐC tế

242 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 242
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2 Thuật ngữ “Luật quốc tế” 1.1.3 Định nghĩa Luật quốc tế Vấn đề định nghĩa luật quốc tế là một vấn đề phức tạp bởi đặc trưng tiêu biểucủa hệ thống quốc tế được thể hiện qua yếu tố tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

TÀI LIỆU ÔN TẬP MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Lớp: DS44A3

Trang 2

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

I.       CÂU HỎI LÝ THUYẾT VÀ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

CHƯƠNG 1

-      Câu hỏi kiến thức

1.      Khái niệm Luật quốc tế hiện đại? Phân tích nguyên nhân dẫn đến luật quốc tế?

2.      Phân tích các đặc điểm của luật quốc tế?

3.      So sánh biện pháp thực thi luật quốc tế với biện pháp thực thi luật quốc gia.

4.      Chứng minh sự hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế  là kết quả của sự thỏa thuận của các quốc gia.

5.      Phân tích đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế?

6.      Phân tích nội dung của các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế?

7.      Trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc nào không được ghi nhận tại Điều 2 Hiến Chương Liên Hợp quốc?

8.       Phân tích, cho các ví dụ thực tế để chứng minh giữa hệ thống luật quốc

tế và pháp luật   quốc gia có sự tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau

 

-      Câu hỏi nâng cao

9.       Phân biệt hệ thống pháp luật quốc tế với hệ thống pháp luật quốc gia?

10.        Có quan điểm cho rằng: “luật quốc tế là luật của các cường quốc có tiềm lực về kinh tế và quân sự vững mạnh”, hãy bình luận quan điểm này.

11.        Nhận định cho rằng: “luật quốc tế là một ngành luật đặc biệt trong hệ thống pháp luật quốc gia”, hãy cho biết nhận định này đúng hay sai? Chứng minh?

12.        Hãy cho biết: Đài Loan, Palestine, Vatican có phải là quốc gia không? Tại sao?

13.        Các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên có phải là chủ thể của Luật quốc tế với tư cách là một dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết không? Tại sao?

14.        Có quan điểm cho rằng: “Việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế luôn là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế”, hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Bình luận?

15.        Có quan điểm cho rằng: “Việc can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia luôn là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế”, hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Bình luận?

16.        Có quan điểm cho rằng: “Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia luôn phải tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế”, hãy cho biết quan điểm trên đúng hay sai? Bình luận?

 

Trang 3

3.      Phân tích quy trình ký kết ĐUQT?

4.      So sánh Điều ước quốc và tập quán quốc tế ?

5.      Có quan điểm cho rằng: “ĐUQT là một sự ưu tiên được áp dụng cho các quốc gia thành viên của điều ước” Quan điểm trên đúng hay sai? Hãy giải thích quan điểm trên

6.      Phân tích các trường hợp ĐUQT chấm dứt hiệu lực?

CHƯƠNG 3

1.      Nêu các phương thức thực hiện chủ quyền quốc gia đối với dân cư.

2.      Nêu và phân tích các phương thức xác lập quốc tịch.

3.      Chứng minh mối quan hệ quốc tịch giữa nhà nước và cá nhân là bền vững về không gian và thời gian.

4.      Nêu bản chất pháp lý của hoạt động bảo hộ công dân.

5.      Nêu và phân tích bản chất pháp lý của chế định cư trú chính trị trong luật quốc tế.

 

CHƯƠNG 4

1.      Phân tích tính chất chủ quyền quốc gia trên từng vùng lãnh thổ.

2.      Bộ phận nào của lãnh thổ quốc gia, quốc gia có chỉ có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ? Cơ sở pháp lý?

3.      Phân tích phương thức xác lập và thay đổi chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ?

4.      Trình bày nội dung quyền tối cao đối với lãnh thổ?

 

5.      Trình bày Nguyên tắc xác lập chủ quyền lãnh thổ?

6.      Nêu và phân tích qui trình hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển đồng thời chỉ rõ những khác biệt trong việc hoạch định hai loại đường biên giới này.

7.      Phân tích nguyên tắc chiếm hữu thật sự và vận dụng vào tình hình vụ tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Trang 4

8.      Phân tích thực trạng về việc phân định biên giới quốc gia trên bộ của Việt Nam với các quốc gia láng giềng?

9.      Phân tích thực trạng về việc phân định biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam với các quốc gia láng giềng?

 

CHƯƠNG 5

 

1.      Hệ thống các cơ quan quan hệ đối ngoại?

2.      Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự?

3.      Phân biệt cấp bậc ngoại giao, hàm ngoại giao, chức vụ ngoại giao?

4.      Thời điểm khởi đầu và chấm dứt chức vụ đại diện ngoại giao?

5.      Phân biệt quan hệ ngoại giao với quan hệ lãnh sự?

6.      So sánh quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao với quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự?

7.      “Trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao là lãnh thổ của một quốc gia trên một quốc gia khác” Quan điểm của anh/chị về ý kiến trên.

3.      So sánh hai loại biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế: ngoại giao và tư pháp.

4.      So sánh hai biện pháp tư pháp về giải quyết tranh chấp quốc tế: tòa án quốc tế

Trang 5

II.       BÀI TẬP

Bài tập 1:

Năm 1884 Tây Ban Nha nắm quyền kiểm soát trên vùng Tây Sahara và tuyên bố khu vực này là thuộc địa của Tây Ban Nha Cuối năm 1950, các nước lân cận là Morocco và

Mauritania sau đó cũng tuyên bố chủ quyền của mình trên lãnh thổ Tây Sahara dẫn đến

sự tranh chấp về chủ quyền giữa các nước liên quan Trong trào lưu đấu tranh giải phóng thuộc địa và nỗ lực kêu gọi các nước trao trả độc lập cho các thuộc địa của LHQ nêu ra kể từ sau khi Tổ chức này ra đời, Tây Ban Nha cuối cùng đã đồng ý giải phóng đối với thuộc lãnh thổ địa Tây Sahara bằng cách tổ chức trưng cầu dân ý Khi Morocco vẫn tuyên bố lãnh thổ ở khu vực Tây Sahara, giữa các bên đã phát sinh tranh chấp Vấn đề tranh chấp đã được chuyển đến cho Tòa án Công lý quốc tế (Tây Ban Nha từ chối đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý quốc tế ICJ)  theo thủ tục xin ý kiến tư vấn, nộp tại cơ quan đăng ký vào ngày 21 tháng 12 năm 1974, chiểu theo Nghị quyết 3292 (XXIX) ngày 13 tháng 12 năm 1974 của Đại hội đồng LHQ (UNGA) UNGA căn cứ vào “Nghị quyết số

1514 (XV) ngày 14 tháng 12 năm 1960 về Tuyên bố việc thừa nhận nền độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa” và “tái khẳng định quyền tự quyết của người dân Tây Ban Nha ở sa mạc Sahara”, khẳng định mục đích của việc xin ý kiến tư vấn là nhằm đẩy nhanh quá trình phi thực dân hóa và xử lý những tranh cãi gây cản trở đối với việc giải quyết tình trạng của lãnh thổ nói trên Anh (chị) hãy cho biết:

1 Tại thời điểm bị thực dân bởi Tây Ban Nha, lãnh thổ Tây Sahara (Rio de Oro và Sakiet

El Hamra) có phải là một lãnh thổ vô chủ (terra nullius) không?

2 Nếu câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên là không, đề nghị Tòa cho biết các mối quan hệ pháp lý của lãnh thổ này với Vương quốc Morocco và Mauritania?

Trang 6

Bài tập 2:

Ngày 15 tháng 5 năm 1946, hai chiến hạm của Anh vượt qua eo biển Corfu nhưng không

có sự đồng ý của chính phủ Albania và bị tấn công từ phía Albania Phía Anh sau đó đã yêu cầu Albania đưa ra lời xin lỗi nhưng đề nghị này đã bị Albania đã từ chối Theo thông điệp ngoại giao trao đổi giữa hai nước, phía Anh cho rằng họ có quyền cho chiến hạm đi qua eo biển mà không cần sự đồng ý từ Albania Tuy nhiên, Albania cương quyết cho cho rằng việc này cần có sự cho phép của họ.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 1946, 3 chiến hạm của Anh tiếp tục vượt qua eo biển Corfu cùng với mục đích xem thử phản ứng của Albania về quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền Phía Anh cho rằng eo biển không có mìn vì trước đó eo biển đã được quét

và tháo dỡ mìn vào năm 1944 và sau đó 1 lần nữa vào năm 1945 Tuy nhiên, 2 tàu của Anh đã bị vướng mìn ở eo biển và tổn hại nặng nề, tổng cộng có 44 thủy thủ Anh thiệt mạng và bị thương Trong vụ việc này phía Albania không nổ súng, thậm chí nước này gửi ra một chiếc tàu treo cờ trắng.

Sau đó vào ngày 13 tháng 11 năm 1946, hải quân Anh đã đơn phương tiến hành một cuộc dò mìn và thu thập được chứng cứ trong vùng biển thuộc về lãnh hải của Albania Cần nói thêm rằng trước đó khi Anh đề nghị thực hiện hoạt động này, Albania đã từ chối

3.      Lập luận của Anh cho rằng việc phá mìn của tàu chiến Anh trên eo biển Corfu ngày

12 và 13 tháng 11 năm 1946 có được xem là quyền tự vệ hợp pháp theo quy định của luật pháp quốc tế hay không?

4.      Việc Albania gửi các bức thư thừa nhận thẩm quyền của tòa trong khi Anh đơn phương gửi đơn kiện đến tòa chính là sự thể hiện rõ hai bên đã thỏa thuận đồng ý chấp nhận thẩm quyền của tòa hay không?

5.      Albania có phải bồi thường thiệt hai cho Anh hay không?

Trang 7

Bài tập 3:

Căng thẳng và đối đầu giữa Nicaragua và Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 1 năm 1979 khi chính quyền đương thời của Nicaragua bị thay thế bởi chính quyền Sandinista Sự kiện nói trên diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ đang nghi ngờ Liên bang Xô viết ủng hộ

Sandinistas, làm gia tăng nỗi lo lắng về sự tồn tại và thách thức đối với quan hệ ngoại giao và kinh tế vốn ràng buộc Hoa Kỳ với các nước ở Trung Hoa Kỳ Để đáp trả, chính quyền Reagan bắt đầu công khai ủng hộ nhóm chống lại chính quyền Sandinista, hay còn được biết đến rộng rãi với cái tên Contras Trong diễn biến của sự việc kể trên, chính quyền Reagan nhận thấy rằng Nicaragua đang viện trợ cho một nhóm vũ trang ở El Salvador bằng cách cung cấp vũ khí của Xô viết thông qua các cảng biển và trên khắp lãnh thổ của nước này, bên cạnh đó còn đe dọa chính quyền El Salvador Với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính quyền Sandinista ở Nicaragua phải đối mặt với một cuộc nội chiến với nhóm Contra Như vậy, cốt lõi của vấn đề bắt đầu từ những hoạt động của Contra chống đối chính phủ Sandinista (chính phủ Nicaragua) Với sự tài trợ và giúp đỡ của CIA bao gồm cung cấp máy bay, vũ khí, tình báo, đào tạo và hỗ trợ hậu cần, lực lượng Contra đã thực hiện các cuộc tấn công vũ trang thông qua các hoạt động khủng bố như phá hủy cầu cống, tấn công nhà máy, tàu thuyền đánh cá, bệnh viện, trường học, bể chứa dầu

1.   Hành động của Hoa Kỳ có được xem là việc thực hiện quyền tự vệ tập thể liên quan đến các hoạt động bán quân sự và quân sự  tại Nicaragua hay không?

2 Việc Hoa Kỳ trang bị vũ trang, tài chính và viện trợ cho lực lượng Contras hoặc khuyến khích, hỗ trợ và giúp đỡ các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua có bị xem

là có hành vi phạm nghĩa vụ của mình theo tập quán pháp quốc tế không? Nếu có, Hoa

Kỳ đã vi phạm vào những nguyên tắc nào của luật quốc tế?

Trang 8

Bài tập 4:

Sau khi Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ kết thúc với thắng lợi thuộc về Hoa Kỳ, Hiệp ước Paris 1898 giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha được ký kết, Tây Ban Nha phải chuyển giao quyền cai trị Philippines cho Hoa Kỳ, căn cứ vào các tọa độ ghi trong Hiệp định Paris thì đảo Palmas nằm trong phạm vi lãnh thổ của Philippines Ngày 21 tháng 01 năm 1906, Tướng Hoa Kỳ -Leonard Wood đã lần đầu tiên đặt chân lên đảo, sau đó gửi báo cáo tới

Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ và đây là cơ sở của Tuyên bố rằng đảo Palmas (hay Miangas) nằm trong quần đảo Philippines, được phân định tại Điều III của Hiệp ước hòa bình (Hiệp ước Paris) giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha ngày 10 tháng 12 năm 1898 Tuy nhiên, tại thời điểm này đảo Palmas (Miangas) đang được Hà Lan coi như một phần lãnh thổ thuộc sở hữu của họ, trên đảo đã cắm cờ Hà Lan và được tuyên bố thuộc về lãnh thổ Đông Ấn – Hà Lan Sau đó, tranh chấp phát sinh giữa Hoa Kỳ và Hà Lan Bằng những kiến thức pháp luật quốc tế, anh (chị) hãy cho biết: Đảo Palmas thuộc chủ quyền của Hà Lan hay Hoa Kỳ? Cơ sở pháp lý?

Bài tập 5:

Víctor Raúl Haya de la Torre là một nhà lãnh đạo chính trị của Peru, người sáng lập phong trào chính trị Liên minh cách mạng nhân dân châu Hoa Kỳ (APRA) Vào năm 1948, Haya de la Torre phát động một cuộc cách mạng ở Peru nhưng không thành công Chính quyền Peru sau đó đã ban hành một lệnh bắt giam ông về tội hình sự liên quan đến cuộc nổi dậy chính trị nói trên Haya de la Torre chạy trốn đến đại sứ quán Colombia tại thủ đô Lima Sau đó ông yêu cầu và đã được chấp thuận cho tị nạn chính trị tại đại sứ quán của Colombia bởi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước này tại Peru Đại sứ Colombia khẳng định rằng Haya de la Torre đã được cấp tị nạn ngoại giao chiểu theo quy định của Điều 2 (2) của Công ước Havana về tị nạn năm 1928, sau đó còn khẳng định rằng Colombia đã coi ông Torre đã đáp ứng các tiêu chí của một người tị nạn chính trị phù hợp với Điều 2 Công ước Montevideo về tị nạn chính trị năm 1933 Colombia sau

đó yêu cầu Peru cho phép Raúl Haya de la Torre từ Peru đi tới Colombia một cách an và

bị phía Peru từ chối.

Colombia sau đó đã khởi kiện chống lại Peru trước Tòa án Công lý quốc tế, yêu cầu Tòa tuyên bố rằng nước này có quyền cho phép tị nạn chính trị và do đó đã quy chế tị nạn hợp pháp Điều này theo Colombia là chiểu theo tập quán quốc tế khu vực áp dụng cho các trường hợp tương tự Phía Peru phản đối rằng, phía Colombia không thể tự mình cho phép tị nạn chính trị khi mà có sự phản đối của Peru Peru cho rằng, Raúl Haya de la Torre đã phạm một tội phạm hình sự thông thường và vì thế ông ta phải bị truy tố bởi Peru cũng như bất kỳ các tội phạm hình sự khác Colombia không có quyền sử dụng tị nạn như là một phương tiện nhằm lẩn tránh luật hình sự của Peru.

1.      Colombia có thẩm quyền, với tư cách là nước đã cấp tị nạn, đơn phương xem xét

để có thể cho tị nạn chính trị căn cứ theo luật điều ước và luật pháp quốc tế?

Trang 9

2.      Peru, với tư cách là nhà nước mà đương sự cư trú, có bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đảm bảo sự an toàn đi qua lãnh thổ nước mình cho mục đích tị nạn?

3.      Colombia có vi phạm Điều 1 và 2 của Công ước về tị nạn năm 1928 khi nước này cấp quy chế tị nạn?

 

Bài tập 6:

Trước chiến tranh thế giới lần thứ I, tàu thuyền đánh cá của Anh thường hay vào vùng biển của Na Uy đánh bắt cá gây ra nhiều xô xát với dân địa phương Để giải quyết tình trạng này, vào năm 1933, Anh và Na Uy thỏa thuận với nhau về một đường tạm thời (đường đỏ), theo đó Na Uy không được cản trở tàu cá Anh đánh bắt ở khu vực ngoài đường đỏ đồng thời tàu cá của Anh cũng không được đánh bắt ở khu vực bên trong đường này Sau đó Chính phủ Na Uy đã ban hành sắc lệnh năm 1935, theo đó nước này

đã vẽ đường cơ sở thẳng (dài 44 hải lý) với 48 chốt chặn cố định trên vùng đất chính, đá trên biển, bao gồm vùng rộng lớn trên mặt nước Bằng Nghị định này, Na Uy tuyên bố chủ quyền đánh bắt cá độc quyền trên khu vực liền kề, 4 hải lý hướng ra biển tính từ đường cơ sở Nghị định năm 1935 của Na Uy với mục đính là xác định ngư trường của nước này và đưa ra đường cơ sở để tính vùng ngư trường Trên thực tế, Na Uy đã không

sử dụng phương pháp ngấn nước thuỷ triều thấp nhất để xác định đường cơ sở lãnh hải của mình mà lại áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền một số các điểm thích hợp chọn dọc theo bờ biển Bằng phương pháp này, lãnh hải của Na Uy đã mở rộng ra biển dẫn đến kết quả là những khu vực mà tàu thuyền nước Anh thường xuyên đánh bắt trước đây nay trở thành vùng nằm trong phạm vi thẩm quyền của Na Uy Anh cho rằng đường cơ sở mà Na Uy đưa ra không phù hợp với luật pháp quốc tế Hai bên

đã bắt đầu đám phán vào năm 1938 nhưng sau đó do chiến tranh thế giới lần thứ II nổ

ra nên đã không có một thỏa thuận nào được ký kết Năm 1949, sau khi Na Uy cản trở tàu cá Anh đánh bắt trong khu vực ngư trường của mình, Sau các cuộc tham vấn thất bại giữa hai nước, ngày 28 tháng 9 năm 1949 phía Anh đã kiện Na Uy ra Tòa án Công lý quốc tế.

1.      Đường cơ sở do Na Uy đưa ra có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không?

2.      Na Uy có phải bồi thường cho thiệt hại gây ra đối với tàu cá của Anh hay không?

 

Trang 10

Bài tập 7:

Ngày 04 tháng 11 năm 1979, cuộc biểu tình của khoảng 3,000 người tại thủ đô Tehran đang diễn ra, một nhóm khoảng vài trăm sinh viên Hồi giao Iran - vốn là lực lượng hậu thuẫn chủ yếu cho phong trào cách mạng Hồi giáo đã bao vây Tòa Đại sứ quán Hoa Kỳ Nhân viên bảo vệ Tòa Đại sứ được báo cáo là đã không có mặt khi sự việc xảy ra; bên cạnh đó, đã không thấy có bất kì sự nỗ lực nào trong việc ngăn chặn việc Tòa Đại sứ quán Hoa Kỳ bị chiếm giữ, mặc dù Đại sứ Hoa Kỳ đã nhiều lần gửi yêu cầu giúp đỡ tới nhà chức trách Iran Kết quả là những sinh viên tham gia biểu tình và bao vây này đã đột nhập và phong tỏa hoàn toàn Đại sứ quán Hoa Kỳ Tất cả nhà ngoại giao, nhân viên lãnh

sự và những người có mặt trong Đại sứ quán đều bị bắt làm con tin Những người này bị giam giữ ngay tại Tòa Đại sứ quán Hoa Kỳ Tiếp theo, ngày 05 tháng 9 năm 1979, các Tòa Lãnh sự khác của Hoa Kỳ ở hai thành phố Tabriz and Shiraz cũng bị tấn công Sau cuộc tấn công, một nhân viên và một công dân Hoa Kỳ bị bắt giữ tại địa điểm khác ở Tehran đã được đưa tới Đại sứ quán Hoa Kỳ, nâng tổng số con tin lên con số 66 Từ ngày

18 đến 20 tháng 9 năm 1979, 13 người đã được trả tự do Trong hai ngày 24 và 25 tháng

4 năm 1980, phía Hoa Kỳ đã nỗ lực giải cứu con tin bằng biện pháp can thiệp quân sự, tuy nhiên do những khó khăn về kĩ thuật, chiến dịch giải cứu này đã bị hủy bỏ Trong suốt quá trình này, phía Iran đã tỏ ra bất hợp tác đối với việc trả tự do cho các con tin Anh (chị) hãy cho biết:

1.      Iran có vi phạm Công ước Vienna về Ngoại giao 1961, Công ước Vienna về Lãnh sự

1963, Hiệp ước Hữu nghị song phương giữa Hoa Kỳ và Iran năm 1955 hay không? Iran

có phải chịu trách nhiệm do việc tấn công của các nhóm binh sĩ, sinh viên Hồi giáo vào Đại sứ quán Hoa Kỳ hay không?

2.      Iran có phải chấm dứt việc chiếm đóng, trao trả lại Tòa Đại sứ cho Hoa Kỳ đồng thời trả tự do cho các con tin hay không?

3.      Cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Iran ngày 24 và 25 tháng 4 năm 1980 có bị xem là hành vi vi phạm pháp luật quốc té hay không?

 

Trang 11

Bài tập 8:

Hai quốc gia A và B đều là thành viên của Liên hợp quốc, tổ chức thương mại thế giới và Công ước Luật biển 1982 Đầu năm 2007, quan hệ giữa 2 nước trở nên căng thẳng do liên quan đến việc thăm dò dầu khí tại khu vực thềm lục địa chồng lấn giữa 2 nước Hãy cho biết:

1.      Tranh chấp kể trên có phải là tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế không? Tại sao?

2.      Những phương thức nào có thể được áp dụng để giải quyết hòa bình tranh chấp trên?

3.      Nếu cả 2 nước đều chấp thuận đưa vụ việc yêu cầu Tòa án công lý quốc tế giải quyết thì Tòa án này có thẩm quyền giải quyết không? Cơ sở pháp lý.

Trang 12

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ

(Lưu ý: CÁC EM THAM KHẢO KẾT HỢP VỚI BÀI GIẢNG E - LEARNING NHÉ, MỘT SỐ PHẦN BỊ LỖI FONT CHỮ CÔ KHÔNG KỊP SỬA LẠI, TUY NHIÊN VẪN ĐỌC ĐƯỢC, BẠN NÀO GIÚP CÔ SỬA LẠI CHO HOÀN THIỆN RỒI GỬI CHO CÁC BẠN NHÉ – CC LẠI CHO CÔ LƯU)

1.KHÁI NIỆM LUẬT QUỐC TẾ

1.1 Sự xuất hiện Luật quốc tế

1.1.1 Nguồn gốc của luật quốc tế - Nguồn gốc vật chất

Sự xuất hiện của Nhà nước và cùng với Nhà nước là Pháp luật là một tất yếukhách quan Nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạnnhất định, giai đoạn với sự thay đổi sâu sắc về cơ cấu kinh tế dẫn đến thay đổi về cơcấu xã hội mà hạt nhân cơ bản là sự xuất hiện các giai cấp và sự đối kháng về lợi íchgiữa các giai cấp trong xã hội, vì vậy cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt, giai cấpnào chiến thắng giai cấp đó sẽ tổ chức ra Nhà nước của mình Một công cụ hữu hiệu

để Nhà nước điều chỉnh, quản lý xã hội pháp luật

Sự tồn tại của Nhà nước được thể hiện qua việc thực hiện hai chức năng cơ bản:Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Để thực hiện hai chức năng trên, Nhà nướcđược sử dụng loại công cụ pháp lý khác nhau được gọi là luật quốc gia và luật quốc tế.Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng của mình, luật quốc tế điều chỉnh quan hệchủ yếu giữa các quốc gia

Luật quốc tế bắt đầu xuất hiện khi giữa các Nhà nước có sự thiết lập quan hệbang giao với nhau Lúc đầu chỉ là quan hệ mang tính chất khu vực và bó hẹp trongmột số lĩnh vực nhất định như chiếm đoạt tài sản, chiến tranh, cướp bóc nô lệ củanhau Dần dần những quan hệ giữa các quốc gia được mở rộng, vượt ra khỏi phạm vikhu vực và phát triển thành các quan hệ có tính chất liên khu vực hay cộng đồng quốc

tế và đương nhiên những quan hệ này phải được điều chỉnh bằng hệ thống các quyphạm tương ứng khác với các quy phạm của luật quốc gia với tên gọi là Luật quốc tế

1.1.2 Thuật ngữ “Luật quốc tế”

1.1.3 Định nghĩa Luật quốc tế

Vấn đề định nghĩa luật quốc tế là một vấn đề phức tạp bởi đặc trưng tiêu biểucủa hệ thống quốc tế được thể hiện qua yếu tố trung tâm là quốc gia và những mốiquan hệ, liên kết giữa quốc gia với các yếu tố khác (các tổ chức quốc tế liên quốc gia,các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các thực thể quốc tế khác, ), thông qua sựđiều chỉnh của các loại quy phạm mang tính pháp lý – chính trị, những loại quy phạmpháp luật quốc tế nắm giữ vai trò trung tâm bởi được các quốc gia và các thực thểquốc tế khác sử dụng với tính chất là công cụ pháp lý để duy trì sự phát triển của hệthống quốc tế trong một trật tự pháp lý nhất định trên hầu hết các lĩnh vực của đờisống quốc tế

Trang 13

Luật quốc tế là gì?

Luật quốc tế hiện đại là hệ thống những nguyên tắc, những quy phạm pháp luật,được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật quốc tế xây dựngnên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng, nhằmđiều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể củaLuật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là các quốc gia) và khi cần thiết, đượcbảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế cá thể hoặc tập thể do chính cácchủ thể của Luật quốc tế thi hành và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến

bộ thế giới

1.2 Phân tích các đặc điểm của luật quốc tế?(các em dựa vào 4 đặc điểm sau đây)

1.2.1 Trình tự xây dựng các quy phạm luật quốc tế

Trong quan hệ quốc tế, quốc gia là một chủ thể có chủ quyền Yếu tố chủ quyền

là một thuộc tính chính trị - pháp lý gắn liền với sự tồn tại của một quốc gia, tạo ra địa

vị bình đẳng về mặt pháp lý giữa các quốc gia khác nhau về thể chế chính trị, kinh tế,quân sự, lãnh thổ dân cư Vì vậy, không quốc gia nào có quyền được áp đặt ý chí củamình đối với các quốc gia khác

Luật quốc tế không có cơ quan lập pháp chung, các quy phạm của luật quốc tếchỉ có thể được hình thành thông qua con đường thỏa thuận giữa các chủ thể của luậtquốc tế (chủ yếu giữa các quốc gia) dưới hình thức: Ký kết những điều ước songphương hoặc đa phương, gia nhập những điều ước quốc tế đa phương, thừa nhậnnhững tập quán quốc tế

1.2.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế

- Luật quốc gia điều chỉnh những quan hệ hợp tác giữa thể nhân, pháp nhân các

nước với nhau hoặc quan hệ giữa một bên là thể nhân, pháp nhân với Nhà nước

- Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế là những quan hệ hợp tác giữa các

quốc gia ở cấp độ chính phủ hoặc trong khuôn khổ của các tổ chức quốc tế liên quốcgia Những quan hệ trên diễn ra giữa các chủ thể của Luật quốc tế (quốc gia, tổ chứcquốc tế liên quốc gia, dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết )

1.2.3 Chủ thể của Luật quốc tế

Chủ thể của Luật quốc tế là thực thể đang tham gia vào những quan hệ phápluật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và có khả nănggánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do chính những hành vi của chủ thể đógây ra

Về lý luận, các chủ thể của pháp luật, tuy có sự khác nhau về vị trí, vai trò, chứcnăng, bản chất, thể loại nhưng phải có dấu hiệu đặc trưng của chủ thể Đối với chủ thểLuật quốc tế thường có các dấu hiệu sau:

+ Tham gia vào những quan hệ quốc tế do Luật quốc tế điều chỉnh (tức là thamgia vào quan hệ pháp luật quốc tế);

+ Có ý chí độc lập (không lệ thuộc vào các chủ thể khác);

Trang 14

+ Có đẩy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm

vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc tế;

+ Có khả năng độc lập gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do nhữnghành vi của chủ thể đó gây ra

Các loại chủ thể Luật quốc tế:

o Quốc gia

Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quốc gia Theo quy định tạiĐiều 1 của Công ước Montendevio 1933 về quyền và nghĩa vụ của quốc gia thì quốcgia bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Dân cư ổn định; có lãnh thổ; chính phủ; khả năngtham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, thường dựa vào các tiêu chí trên để lý giảiviệc công nhận hoặc không công nhận một thực thể mới được thành lập có phải làquốc gia với nghĩa là chủ thể của Luật quốc tế hay không

o Các tổ chức quốc tế liên chính phủ (liên quốc gia)

Định nghĩa

Tổ chức quốc tế là thực thể liên kết chủ yếu các quốc gia độc lập, có chủ quyền, được thành lập và hoạt động trên cơ sở điều ước quốc tế, phù hợp với Luật quốc tế hiện đại, có quyền năng chủ thể riêng biệt và một hệ thống cơ cấu tổ chức phù hợp để thực hiện các quyền năng đó theo đúng mục đích, tôn chỉ của tổ chức.

Đặc điểm của tổ chức quốc tế liên chính phủ:

+ Thành viên của tổ chức quốc tế chủ yếu là các quốc gia

Tổ chức quốc tế liên chính phủ như: Liên hợp quốc, Liên minh Châu âu, Hiệphội các nước Đông Nam Á được phân biệt với các tổ chức quốc tế phi chính phủ chủyếu ở tư cách thành viên Thành viên của các tổ chức quốc tế phi chính phủ là các tổchức, cá nhân mang quốc tịch khác nhau Đặc điểm này của tổ chức quốc tế cũng đểphân biệt tổ chức quốc tế liên chính phủ với các Nhà nước liên bang – một hình thức

tổ chức nhà nước, nhưng các bang không phải là các quốc gia độc lập có chủ quyềntheo đúng nghĩa

Cần lưu ý rằng: Quốc gia là thành viên chủ yếu của tổ chức quốc tế chứ khôngphải là thành viên duy nhất vì trên thực tế có những tổ chức quốc tế ngoài quốc giathành một số thực thể khác như Hồng Kông, Macao không phải là quốc gia cũng làthành viên của tổ chức quốc tế WTO và các tổ chức quốc tế khác cũng là thành viêncủa tổ chức quốc tế như EU là thành viên của WTO

+ Thành lập và hoạt động trên cơ sở Điều ước quốc tế

Cơ sở pháp lý để các tổ chức quốc tế được thành lập và hoạt động là các điềuước quốc tế do các quốc gia thành viên thỏa thuận Các điều ước quốc tế này có thể cónhiều tên gọi khác nhau như hiến chương, quy chế, hiệp ước nhưng về bản chất đều

là Điều lệ của tổ chức quốc tế Các Điều lệ này quy định mục đích, nguyên tắc tổ chức

và hoạt động, cơ cấu của tổ chức quốc tế

Trang 15

+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, phù hợp để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lýquốc tế nhằm thực hiện mục đích đề ra.

Tổ chức quốc tế nào cũng thiết lập một cơ cấu tổ chức chặt chẽ và phù hợp Cơcấu của từng tổ chức quốc tế không có một khuôn mẫu thống nhất mà dựa vào thỏathuận của quốc gia thành viên hoặc dựa vào mục đích thành lập của tổ chức đó Đặc điểm này của tổ chức quốc tế để phân biệt với các hình thức liên kết khác như diễn đàn quốc tế, hội nghị quốc tế. Thông thường hệ thống các cơ quan trong khuôn khổ

tổ chức quốc tế gồm các cơ quan chính và các cơ quan bổ trợ Các tổ chức quốc tếthường thành lập những cơ quan chính kiểu Đại hội đồng, Hội đồng, Ban thư ký

+ Có quyền năng chủ thể riêng biệt

Khác với quyền năng chủ thể của quốc gia và các chủ thể khác, tổ chức quốc tế

có quyền năng chủ thể riêng biệt

Lưu ý: Các tổ chức quốc tế liên chính phủ (liên quốc gia) có quyền năng chủ

thể Luật quốc tế không phải căn cứ vào “những thuộc tính tự nhiên”vốn có của các tổ

chức quốc tế mà do thỏa thuận của các quốc gia thành viên trao cho tổ chức đó Nhưvậy quyền năng chủ thể Luật quốc tế của tổ chức quốc tế phát sinh trên cơ sở Điều lệ,

vì vậy, các tổ chức quốc tế khác nhau, quyền năng chủ thể Luật quốc tế của chúng sẽkhông giống nhau

o Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết

Định nghĩa (theo chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc)

Dân tộc là một cộng đồng nhiều người, khối ổn định chung, được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài, sinh ra trên cơ sở một ngôn ngữ chung, một lãnh thổ chung, và được biểu hiện trong một nền văn hóa chung.

Lưu ý: Không phải mọi dân tộc đều là chủ thể của Luật quốc tế, mà chỉ các dântộc đang đấu tranh giành độc lập mới được coi là chủ thể Luật quốc tế và có nhữngđặc trưng sau đây:

+ Bị nô dịch từ một quốc gia hay một dân tộc khác

+ Tồn tại trên thực tế một cuộc đấu tranh với mục đích thành lập một quốc giađộc lập

+ Có cơ quan lãnh đạo phong trào đại diện cho dân tộc đó trong quan hệ quốctế

Thực tế vấn đề dân tộc đang đấu tranh giành độc lập là chủ thể của luật quốc tế

đã được Luật quốc tế công nhận từ lâu, ví dụ: Ủy ban dân tộc Tiệp khắc và Ủy bandân tộc Ba-lan (trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất) là người đại diện cho dân tộcTiệp khắc với dân tộc Ba-lan

1.2.4 Biện pháp bảo đảm thi hành luật quốc tế.

- Xuất phát từ tính chất bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể mà phápluật quốc tế không thể tồn tại một Bộ máy cưỡng chế đứng trên các quốc gia có chứcnăng cưỡng chế các quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế

Trang 16

Khác với pháp luật quốc gia, các biện pháp cưỡng chế trong pháp luật quốc gia

do chính các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thông qua các cơ quan Nhànước chuyên trách có chức năng cưỡng chế như Tòa án, Kiểm sát, Công an, Nhà tùtheo các điều kiện và trình tự bắt buộc

Vì vậy, việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong luật quốc tế do chính cácchủ thể của luật quốc tế thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu là cưỡng chế cá thể (phi

vũ trang: trả đũa, cắt đứt quan hệ ; tự vệ vũ trang (Điều 51 Hiến chương Liên hợpquốc) và cưỡng chế tập thể (Phi vũ trang – Đ41 Hiến chương LHQ; vũ trang – Đ42Hiến chương LHQ)

Các biện pháp cưỡng chế dù là riêng lẽ hay tập thể với điều kiện phải tuân thủcác nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế - quy phạm Juscogen

Cần lưu ý rằng: Chính lợi ích thiết thực, sống còn của các quốc gia, nhu cầu của

sự hợp tác quốc tế với thực tiễn hình thành ý thức tuân thủ pháp luật quốc tế của cácchủ thể là những yếu tố cần thiết để buộc các chủ thể phải thực hiện các quy định củaLuật quốc tế trong điều kiện thiếu vắng cơ quan lập pháp, hành pháp và tư phápchung

1.3 Lịch sử hình thành với phát triển của luật quốc tế (phần này các em Đọc tham khảo thêm trong giáo trình đã có)

Lịch sử luật quốc tế là một bộ phận không thể tách rời của lịch sử Nhà nước vàpháp luật Vì thế, căn cứ theo sự phân kỳ lịch sử thế giới của chủ nghĩa Mác-Lênin,

có thể phân chia các giai đoạn phát triển và các kiểu của Luật quốc tế như sau:

- Luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ (cổ đại)

- Luật quốc tế thời kỳ phong kiến (trung đại)

- Luật quốc tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa (cận đại)

- Luật quốc tế thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (hiệnđại)

1.4 Phân tích vai trò của Luật quốc tế?

- Là công cụ điều chỉnh các quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của mỗi chủthể của luật quốc tế trong quan hệ quốc tế

-Là công cụ, là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế.-Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn minh của nhân loại, thúcđẩy cộng đồng quốc tế phát triển theo hướng ngày càng văn minh

Thúc đẩy việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế đặc biệt là quan hệ kinh tếquốc tế trong bối cảnh hiện nay

2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

3 Phân tích mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia?

3.1.1 Theo quan điểm truyền thống trước đây

Trang 17

Việc giải quyết mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia thường dựa trênmột số thuyết như thuyết “Nhất nguyên luận”và thuyết “Nhị nguyên luận”.

3.1.2 Theo quan điểm mới

Nếu dựa vào quan niệm thuần túy của hai học thuyết trên để giải quyết vấn đềmối quan hệ giữa Luật quốc tế và luật quốc gia sẽ có nhiều vướng mắc trong cả lýluận cũng như thực tiễn áp dụng Dưới góc độ lý luận, phải hiểu được cơ sở của việctồn tại mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia để từ đó đánh giá được tính chất,nội dung của mối quan hệ đó diễn ra như thế nào trong quá trình thực thi pháp luật Cơ

sở tồn tại của mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia phải được xem xét từ góc

độ Lý luận về Nhà nước và pháp luật

Sự tham gia của nhà nước vào việc xác định nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội,xác định phương hướng, hình thức, nội dung hoạt động của nhà nước là yếu tố quantrong nhằm thể hiện và thực hiện chính sách nhà nước qua hai phương diện hoạt độngthuộc hai chức năng cơ bản của nhà nước là chức năng đối nội và chức năng đốingoại Sự vận hành có tính nguyên lý giữa hai chức năng cơ bản trong hoạt động củaNhà nước với tư cách là chủ thể của cả hai hệ thống pháp luật là một trong số yếu tốmang tính cơ sở cho việc tạo ra mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế - vốn làhai phương tiện chủ yếu mà Nhà nước sử dụng khi tiến hành các chức năng nói trên

Nội dung các vấn đề mà pháp luật quốc gia và quốc tế điều chỉnh đều toát lênvai trò chung của hai hệ thống pháp luật:

- Là cơ sở để thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước

- Là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế, xã hội

- Góp phần tạo dựng những quan hệ mới, tạo môi trường ổn định để thiết lập,duy trì, phát triển các quan hệ quốc tế

* Tác động qua lại giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia

+ Ảnh hưởng của pháp luật trong nước đối với pháp luật quốc tế

- Pháp luật quốc tế được xây dựng bởi các quy phạm ghi trong điều ước quốc

tế mà điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các quốc gia , mà mỗi quốc gia thì c óquan điểm pháp luật riêng của mình Do vậy pháp luật trong nước có ảnh hưởng tới sự

phát triển của pháp luật quốc tế Sự ảnh hưởng này mang tính xuất phát điểm.

Việc thừa nhận tính chất xuất phát điểm này không có nghĩa là sự thừa nhậnPháp luật trong nước có giá trị ưu tiên hơn Pháp luật quốc tế, hoặc các quy phạm củaLuật quốc tế trong một chừng mực nào đó lại đứng sau các quy phạm của Luật trongnước Mà ở đây tính chất chất xuất phát điểm của sự ảnh hưởng của Pháp luật trongnước đối với Pháp luật quốc tế có nghĩa là trong quá trình xây dựng các quy phạmpháp luật quốc tế, các quốc gia trước hết phải xuất phát từ những nguyên tắc và quyphạm của pháp luật trong nước mình Đồng thời, các quốc gia cần phải tránh ký kếtcác điều ước quốc tế trái với pháp luật trong nước hoặc khi thực hiện chúng đòi hỏiphải có những thay đổi lớn trong pháp luật của nước mình

Trang 18

- Luật quốc tế thể hiện nội dung của pháp luật trong nước Khi tham gia vàoquá trình xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế, các quốc gia baogiờ cũng muốn thể hiện quan điểm, đường lối chính sách cũng như các nội dung trongpháp luật nước mình, đặc biệt khi đề cập đến vấn đề mà luật quốc gia điều chỉnh.

- Ngoài ra luật trong nước cũng đóng vai trị là phương tiện để thực hiện luậtquốc tế

+ Ảnh hưởng của pháp luật quốc tế đối với pháp luật trong nước.

Ảnh hưởng ngược trở lại của luật quốc tế đến luật quốc gia cũng có vai trò quantrọng và mang tính chất thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện pháp luật quốc gia Là kếtquả của sự thỏa thuận giữa các quốc gia, luật quốc tế thể hiện rất nhiều sự tiến bộ,nhiều thành tựu mới của khoa học pháp lý hiện đại

Do yêu cầu cần có sự hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng cao nên

đã có sự ảnh hưởng của pháp luật quốc tế đến pháp luật trong nước Trong pháp luậtquốc nội của các quốc gia đã có sự xuất hiện những quy phạm mới sửa đổi hoặc huỷ

bỏ những quy phạm hiện hành không phù hợp với những điều ước quốc tế mà mìnhtham gia

Luật quốc tế hướng luật quốc gia phát triển theo chiều hướng tiến bộ, nhân đạo,đặc biệt luật quốc tế chính là công cụ để thực hiện chính sách đối ngoại của các quốcgia

+ Việc giải quyết mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Về nguyên tắc, luật quốc tế không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ của quốcgia, để áp dụng các quy phạm của luật quốc tế, các quốc gia phải trải qua một giaiđoạn chuyển hóa luật quốc tế vào luật quốc gia (nội luật hóa)

Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của luật quốc tế và luật trong nướckhi giải quyết một lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của luật trong nước, khi đó cácquốc gia sẽ phải áp dụng các quy định ghi nhận trong các điều ước quốc tế và các tậpquán quốc tế Các quốc gia không được viện dẫn pháp luật quốc gia, kể cả hiến pháp

để từ chối thực hiện các cam kết quốc tế

* Quy định của pháp luật Việt Nam về Việc giải quyết mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Ở Việt Nam, nhìn tổng thể hệ thống văn bản pháp luật chúng ta thấy rằng phápluật Việt Nam thừa nhận ưu thế của các quy phạm điều ước quốc tế mà Việt Nam kýkết hoặc tham gia bên cạnh quy phạm pháp luật trong nước Sự thừa nhận này thể hiện

ở hầu hết các Bộ luật mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã banhành(như Luật hình sự, Luật hàng không, Luật dân sự, Luật quốc tịch…) Cụ thểtrong Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạmpháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thànhviên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ướcquốc tế đó, trừ Hiến pháp”

Trang 19

CHƯƠNG 2: NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1 KHÁI NIỆM NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1.1 Định nghĩa nguồn của LQT:

Nguồn của Luật quốc tế được hiểu là những hình thức biểu hiện sự tồn tại của những quy phạm luật quốc tế do các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên.

1.2 Cơ sở pháp lý về nguồn của Luật quốc tế:

Danh mục các loại nguồn của luật quốc tế phải được xác định căn cứ vào cơ sởpháp lý nhất định Tuy nhiên, từ trước tới nay không tồn tại một văn kiện pháp lý quốc

tế nào được thừa nhận rộng rãi trong đó đưa ra danh mục nguồn của luật quốc tế vàđưa ra tiêu chuẩn cụ thể về các loại nguồn này

Mặc dù còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, nhưng điều ước quốc tế và tập quánquốc tế đã được thừa nhận rộng rãi là nguồn của luật quốc tế Từ cơ sở lập luận, việcviện dẫn và áp dụng các loại nguồn của luật quốc tế hiện vẫn tuân theo cách xác địnhtruyền thống như Khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế Liên hợp quốc Theo đó,luật quốc tế có hai loại nguồn đó là nguồn thành văn (Điều ước quốc tế) và nguồn bấtthành văn (tập quán quốc tế) với nội dung chứa đựng các quy phạm luật quốc tế, trựctiếp điều chỉnh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể quan hệ phápluật quốc tế

Khoản 1 Điều 38 ghi nhận rằng:

“Tòa án có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp đưa ra trước tòa trên cơ sở Luậtquốc tế, sẽ áp dụng:

a) Công ước quốc tế chung hoặc riêng, trong dó có các quy tắc được cácquốc gia tranh chấp thừa nhận rõ ràng;

b) Tập quán quốc tế như một chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận làquy phạm pháp luật;

c) Những nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừanhận;

d) Với bảo lưu tại Điều 59, phán quyết của tòa án và học thuyết củachuyên gia có chuyên môn cao nhất về công pháp quốc tế của các dân tộc khác nhauđược coi là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm pháp luật”

2 ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

2.1 Khái niệm Điều ước quốc tế

2.1.1 Định nghĩa

Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế do các chủ thể của luật quốc tếthỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ

Trang 20

với nhau trong bang giao quốc tế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc

tế hiện đại.1

Trong Luật Điều ước quốc tế năm 2016 của Việt Nam “điều ước quốc tế”được hiểu là gì? (Các em giải thích căn cứ vào Luật ĐUQT 2016 nhé)

2.1.2 Phân loại điều ước quốc tế (đọc tham khảo)

* Điều kiện trở thành nguồn của LQT?

Điều ước quốc tế được coi là nguồn cơ bản của luật quốc tế, vì tuyệt đại bộphận quy phạm của luật quốc tế đều nằm trong điều ước quốc tế và do các quốc giaxây dựng nên Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của luật quốc tế, nhưng về mặt lýluận, không phải mọi điều ước quốc tế đã có hiệu lực đều được coi là nguồn của luậtquốc tế Một điều ước quốc tế được coi là nguồn của luật quốc tế nếu nó đáp ứng đượccác yêu cầu sau đây:

- Điều ước quốc tế phải được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện giữa cácchủ thể

- Điều ước quốc tế được ký kết phù hợp với quy định của pháp luật của các bên

ký kết về thẩm quyền và thủ tục ký kết

- Điều ước quốc tế được ký kết phải có nội dung phù hợp với nguyên tắc cơ bảncủa luật quốc tế

2.1.5 Phân tích vai trò của điều ước quốc tế?

Căn cứ vào lời nói đầu của Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế vàthực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, có thể khẳng định điều ước quốc tế cónhững vai trị chủ yếu sau đây:

- Là hình thức pháp lý chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế

- Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệhợp tác quốc tế trên hầu khắp các lĩnh vực của các chủ thể luật quốc tế

- Là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủthể luật quốc tế

- Là công cụ để tiến hành pháp điển hóa luật quốc tế

2.2 Ký kết điều ước quốc tế

2.2.1 Chủ thể ký kết điều ước quốc tế:

Các quốc gia

Trong hầu hết các trường hợp quốc gia đều trực tiếp thực hiện thẩm quyền kýkết điều ước quốc tế Tuy nhiên, pháp luật của một số quốc gia cũng như dựa trên sựthỏa thuận giữa các quốc gia đã xuất hiện một số trường hợp thực hiện thẩm quyền kýkết điều ước quốc tế tương đối đặc biệt Cụ thể, quốc gia có thể chuyển một phần hoặctoàn bộ thẩm quyền ký kết cho một quốc gia hay một tổ chức quốc tế khác

Như vậy, quốc gia có thể ủy quyền cho một quốc gia khác hoặc một tổ chứcquốc tế - đại diện cho quyền lợi của quốc gia ủy quyền trong quan hệ quốc tế Sự ủyquyền này phải được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp lý cụ thể

Các tổ chức quốc tế

Trang 21

Tổ chức quốc tế có thể ký kết các điều ước quốc tế với các quốc gia hoặc vớicác tổ chức quốc tế khác Thẩm quyền này của tổ chức quốc tế xuất phát từ quyềnnăng chủ thể luật quốc tế của các tổ chức quốc tế và thường được ghi nhận trong Hiếnchương và các văn bản pháp lý khác của tổ chức quốc tế.

Thực tiễn của hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế còn cho thấy một

số thực thể như Tòa thánh Vaticang, Hồng Kông, Ma Cao cũng tham gia ký kết điềuước quốc tế nhất định Ví dụ, Tòa thánh Vaticang ký và phê chuẩn Công ước Viênnăm 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia

2.2.2 Đại diện trực tiếp tham gia ký kết điều ước quốc tế

Khi ký kết điều ước quốc tế, các chủ thể thông qua đại diện của mình là đạidiện đương nhiên hoặc đại diện được ủy quyền

Đại diện đương nhiên

Đại diện đương nhiên mà thông lệ quốc tế và thực tiễn pháp luật của các quốcgia đã xác định là những người không cần thư ủy nhiệm bao gồm:

- Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giaotrong mọi hành động liên quan đến việc ký kết điều ước quốc tế

- Người đứng đầu các cơ quan đại diện ngoại giao trong việc thông quan vănbản của một điều ước quốc tế giữa nước cử cơ quan đại diện và nước sở tại

- Những người thay mặt cho quốc gia mình tại một hội nghị quốc tế hoặc tại tổchức quốc tế trong việc thông qua văn bản của một điều ước quốc tế trong khuôn khổcủa hội nghị hoặc tổ chức đó

Như vậy, theo luật Việt nam, danh nghĩa ký kết điều ước quốc tế bao gồm:

- Điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước

- Điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ

Đại diện được ủy quyền

Khái niệm thư ủy nhiệm: Thư ủy nhiệm là văn kiện do cơ quan có thẩm quyềncủa một quốc gia cấp để chỉ định một hoặc nhiều người thay mặt quốc gia mình đàmphán, thông qua hoặc xác thực văn bản để biểu thị sự đồng ý chấp thuận sự ràng buộccủa một điều ước quốc tế hoặc nhằm hoàn thành bất kỳ một hành vi nào khác đối vớimột điều ước 4

Đại diện được ủy quyền là những người được cơ quan có thẩm quyền ủy quyềncho họ để tham gia vào quá trình ký kết điều ước quốc tế Đại diện được ủy quyềnphải xuất trình thư ủy nhiệm thích hợp khi tham gia ký kết điều ước quốc tế

Theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016 của Việt Nam quy định về vấn đề này như thế nào?

2.3 Phân tích quy trình ký kết ĐƯQT?

2.3.1 Đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản

 Đàm phán

- Hình thức đàm phán:

 Thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài

Trang 22

 Tại các hội nghị quốc tế và các tổ chức quốc tế.

 Tổ chức một hội nghị riêng để đàm phán giữa các bên hữu quan

- Thẩm quyền đàm phán điều ước quốc tế: Do luật quốc gia quy định.

 các bên thỏa thuận được với nhau những vấn đề liên quan đến nội dung vàhình thức của điều ước

 Soạn thảo văn bản:

Nếu đàm phán thành công, các bên sẽ soạn thảo văn bản điều ước:

- Đối với điều ước song phương: Hai bên cử đại diện để soạn thảo hoặc một bêntrao cho bên kia soạn thảo, sau đó hai bên trao đổi thống nhất

- Đối với điều ước đa phương: Các bên thường cử một uỷ ban soạn thảo vănbản, thành phần bao gồm đại diện của các bên Sau khi soạn thảo văn bản dự thảo điềuước các bên tiến hành thông qua văn bản

 Thông qua văn bản:

- Thông thường, thủ tục thông qua văn bản đối với điều ước hai bên: Bằng hìnhthức miệng hoặc ký tắt

2.3.2 Ký điều ước quốc tế

Có ba hình thức ký điều ước:

 Ký tắt: Là việc các vị đại diện của các bên tham gia đàm phán, soạn thảo ký

xác nhận văn bản dự thảo là văn bản đã được thông qua Sau khi ký tắt điều ước quốc

tế chưa phát sinh hiệu lực

 Ký tượng trưng (ký Ad Referendum): Là việc ký của vị đại diện với điều

kiện là có sự đồng ý tiếp theo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luậttrong nuớc thì điều ước sẽ không phải ký chính thức nữa Như vậy, hình thức ký này

có thể làm phát sinh hiệu lực cho điều ước nếu các cơ quan có thẩm quyền của quốcgia tỏ rõ sự chấp thuận sau khi ký Ad Referendum

 Ký chính thức (ký đầy đủ): Là việc ký của vị đại diện vào văn bản dự thảo

điều ước, nếu điều ước đó không quy định các trình tự và thủ tục khác (như phêchuẩn, phê duyệt) thì điều ước quốc tế đó sẽ phát sinh hiệu lực sau khi ký đầy đủ

Trang 23

Nhìn chung, các điều ước đa phương toàn cầu, đa phương khu vực, các điềuước về biên giới, lãnh thổ thường quy định thủ tục phê chuẩn Như vậy, điều ước cóphê chuẩn hay không được ghi nhận ngay trong điều ước đó.

- Lý do có sự phê chuẩn:

Phê chuẩn thường áp dụng cho những điều ước quan trọng và có thể đem lạinhững hậu quả hết sức lớn lao cho quốc gia

Quy định về việc phải phê chuẩn cho phép các quốc gia có thời gian và cơ hội

để xem xét hoặc kiểm tra lại việc ký kết của những đại diện quốc gia mình

Ngoài ra, quốc gia cũng có thời gian để ban hành những văn bản pháp luật cầnthiết cho việc thực thi điều ước quốc tế đó ở trong nước Đồng thời, hoạt động phêchuẩn khẳng định vai trị của các cơ quan có thẩm quyền trong nước đối với hoạt động

ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của quốc gia mình

Như vậy, nếu các bên đã thoả thuận, điều ước quốc tế này phải được các bênphê chuẩn thì sau khi ký chính thức, các bên phải phê chuẩn thì điều ước mới có hiệulực

- Những loại điều ước quốc tế cần phê chuẩn:

+ Dựa trên sự thỏa thuận của các bên

+ Do luật trong nước quy định

- Theo Điều 28 Luật điều ước quốc tế 2016 của Việt Nam: quy định nhữngđiều ước quốc tế phải được phê chuẩn gồm:

1 Điều ước quốc tế có quy định phải phê chuẩn

2 Điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước

3 Điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ có quy định trái với luật, nghị quyếtcủa Quốc hội

- Thẩm quyền phê chuẩn do Luật quốc gia quy định

Thông thường, hầu hết các quốc gia đều giao thẩm quyền phê chuẩn điều ướcquốc tế cho cơ quan lập pháp, cụ thể, ở Việt Nam, Điều 29, thẩm quyền phê chuẩnđiều ước quốc tế gồm:

1 Quốc hội phê chuẩn các loại điều ước quốc tế sau đây:

a) Điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Điều ước quốc tế về việc thành lập, tham gia tổ chức quốc tế và khu vực nếu việcthành lập, tham gia, rút khỏi tổ chức đó ảnh hưởng đến chính sách cơ bản của quốc gia

về đối ngoại, quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, tài chính, tiền tệ;

c) Điều ước quốc tế làm thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền con người, quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội;

d) Điều ước quốc tế có quy định trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;

đ) Điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký với người đứng đầu Nhà nước khác

Trang 24

2 Chủ tịch nước phê chuẩn điều ước quốc tế quy định tại Điều 28 của Luật này, trừcác điều ước quốc tế quy định tại khoản 1 Điều này.

Sau khi phê chuẩn, các bên tiến hành trao đổi thư phê chuẩn như sau:

- Đối với điều ước quốc tế song phương: Thường diễn ra ở thủ đô nước nàokhông diễn ra việc ký kết điều ước quốc tế đó

- Đối với điều ước quốc tế đa phương: Thư phê chuẩn sẽ được gửi đến quốc gia

có nhiệm vụ bảo quản điều ước hoặc gửi đến cho ban thư ký của tổ chức quốc tế

- Loại điều ước quốc tế cần phê duyệt: do Luật quốc gia quy định

Điều 37 Luật ĐUQT 2016 quy định: Các loại điều ước quốc tế phải được phê

duyệt: “Trừ trường hợp thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội, các điều ước quốc tế sau đây phải được phê duyệt:

1 Điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ có quy định phải phê duyệt hoặc phải hoàn thành thủ tục pháp lý theo quy định của mỗi nước để có hiệu lực;

2 Điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ có quy định trái với quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ”.

- Thẩm quyền phê duyệt điều ước quốc tế: Điều 38 Thẩm quyền phê duyệt, nội dung văn bản phê duyệt điều ước quốc tế:

1 Chính phủ phê duyệt điều ước quốc tế quy định tại Điều 37 của Luật này.

2 Văn bản phê duyệt điều ước quốc tế bao gồm những nội dung tương tự văn bản phê chuẩn điều ước quốc tế quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này.

2.4 Gia nhập điều ước quốc tế

Gia nhập là tuyên bố đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền côngnhận hiệu lực của một điều ước quốc tế đối với quốc gia mình

Một quốc gia có thể thể hiện sự ràng buộc với một điều ước bằng việc nộp vănkiện gia nhập cho cơ quan lưu chiểu Gia nhập cũng có hậu quả pháp lý như phêchuẩn, tuy nhiên, khác với việc phê chuẩn ở chỗ, phê chuẩn cần phải có giai đoạn kýtrước đó để tạo ra các nghĩa vụ pháp lý ràng buộc theo luật quốc tế, gia nhập chỉ cầnmột bước duy nhất, đó là nộp văn kiện gia nhập

Việc gia nhập thường được đặt ra đối với quốc gia khi thời hạn ký kết điều ước

đã chấm dứt hoặc điều ước đã có hiệu lực mà quốc gia đó chưa phải là thành viên.

Thủ tục gia nhập điều ước quốc tế nào được quy định cụ thể trong phần cuốicùng của điều ước đó Hiện nay, việc gia nhập có thể thực hiện bằng cách gửi công

Trang 25

hàm xin gia nhập đến quốc gia bảo quản điều ước hay đến ban thư ký của tổ chứcquốc tế bảo quản điều ước hoặc ký trực tiếp vào văn bản điều ước.

- Thẩm quyền gia nhập điều ước quốc tế : Do Luật quốc gia quy định LuậtĐUQT 2016 quy định thẩm quyền, nội dung quốc gia gia nhập điều ước quốc tế nhiềubên:

Điều 43 Thẩm quyền, nội dung quyết định gia nhập điều ước quốc tế

1 Quốc hội quyết định gia nhập điều ước quốc tế quy định tại các điểm a, b, c

và d khoản 1 Điều 29 của Luật này.

2 Chủ tịch nước quyết định gia nhập điều ước quốc tế quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.

3 Chính phủ quyết định gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

2.5 Bảo lưu điều ước quốc tế

Bảo lưu là hành vi đơn phương bất kể cách viết hay tên gọi như thế nào của mộtquốc gia đưa khi ký , phê chuẩn, phê duyệt, hoặc gia nhập điều ước đó, nhằm qua đóloại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc

áp dụng chúng đối với quốc gia đó (Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốctế) 11

Tại sao Bảo lưu được xem là một quyền, nhưng quyền này không phải là quyền tuyệtđối? vì những lý do sau đây:

- Bảo lưu không áp dụng cho điều ước song phương mà chỉ áp dụng cho điềuước đa phương

- Đối với điều ước đa phương mà có điều khoản quy định “cấm bảo lưu”thìquyền bảo lưu cũng không được thực hiện

- Đối với những điều ước đa phương chỉ cho phép bảo lưu một hoặc một vàiđiều khoản cụ thể nhất định, thì quyền bảo lưu cũng không được thực hiện đối vớinhững điều khoản còn lại (Trong trường hợp điều ước chỉ cho phép bảo lưu nhữngđiều khoản cụ thể thì các quốc gia chỉ được bảo lưu những điều khoản đó)

- Nếu điều ước đa phương cho phép bảo lưu bất kỳ điều khoản nào thì quyềnbảo lưu cũng không được thực hiện đối với những điều khoản không phù hợp với mụcđích và đối tượng của điều ước (nghĩa là, đối với những điều ước quốc tế đa phươngcho pháp bảo lưu thì một tuyên bố bảo lưu sẽ không được chấp nhận nếu nội dungcủa nó trái với mục đích và đối tượng của điều ước)

Trình tự bảo lưu điều ước quốc tế

Lưu ý:

- Bảo lưu điều ước quốc tế được thực hiện trong các giai đoạn của quá trình

ký kết điều ước như: ký, phê chuẩn, phê duyệt và kể cả giai đoạn gia nhập điều ước.) K1 Điều 19 Công ước Viên 1969.

Trang 26

- Quốc gia có quyền bảo lưu và cũng có quyền huỷ bảo lưu trong bất kỳ thờiđiểm nào xét thấy cần thiết.

- Việc tuyên bố bảo lưu, chấp thuận bảo lưu, rút bảo lưu, phản đối bảo lưu phảiđược thực hiện bằng văn bản (gửi cho quốc gia bảo quản điều ước)

- Bảo lưu sẽ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ khi tuyên bố bảo lưu mà không cóthành viên nào phản đối

Giải quyết mối quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và các thành viên còn lại của điều ước quốc tế

- Chấp thuận công khai hoặc im lặng không phản đối: Đối với những quốc gianày, quốc gia đưa ra tuyên bố bảo lưu sẽ không thực hiện điều khoản bị bảo lưu

- Phản đối: mối quan hệ là phải thực hiện điều khoản bị bảo lưu (những quyđịnh của điều ước không có gì thay đổi), vẫn phải thực hiện mọi điều khoản trừ trườnghợp điều ước quốc tế cho phép bảo lưu điều khoản đó thì sự phản đối không có giá trịpháp lý

Trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định rõ điều khoản nào đượcphép bảo lưu thì sự bảo lưu sẽ được coi là có giá trị pháp lý sau thời hạn 12 tháng màkhông có sự phản đối bảo lưu từ phía các quốc gia hữu quan

2.6 Hiệu lực của điều ước quốc tế

2.6.1 Điều kiện

Để có thể áp dụng được, điều ước quốc tế phải có giá trị đối với cả luật quốc gia

và luật quốc tế Điều ước chỉ có giá trị khi nó đáp ứng được các điều kiện sau:

- Điều ước quốc tế được ký kết phải phù hợp với pháp luật quốc gia của cácbên ký kết về thẩm quyền và thủ tục ký kết

- Điều ước quốc tế phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng Điềuước quốc tế được ký kết là xuất phát từ ý chí của các bên một cách tự nguyện màkhông có sự cưỡng ép trực tiếp các bên ký kết hoặc cưỡng ép gián tiếp qua những đạidiện Không có một quốc gia nào phải ép quốc gia khác ngồi vào bàn đàm phán vớimình Khi cùng nhau ngồi vào bàn đàm phán là hoàn toàn tự nguyện

- Điều ước quốc tế được ký kết phải phù hợp với nội dung của các nguyên tắc

cơ bản của Luật quốc tế Ở đây chúng ta thấy rằng, trong Luật quốc tế có bảy nguyêntắc cơ bản, bảy nguyên tắc cơ bản này được coi là quy phạm mệnh lệnh (Juscogen)(hoặc quy phạm chỉ đạo) của Luật quốc tế mà các quy phạm khác phải phù hợp vớinó

* Điều ước quốc tế vô hiệu

Tùy theo mức độ vô hiệu, người ta chia làm hai loại:

+ Điều ước vô hiệu tương đối

+ Điều ước vô hiệu tuyệt đối

2.6.2 Hiệu lực của điều ước quốc tế theo không gian và thời gian

Không gian có hiệu lực của điều ước quốc tế

Trang 27

Thông thường điều ước quốc tế sẽ có hiệu lực trên toàn phạm vi lãnh thổ củaquốc gia thành viên, điều này để thấy rằng điều ước được ký kết với danh nghĩa nhànước hoặc chính phủ đều có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia thành viên.

Tuy nhiên, có những điều ước quốc tế không những có hiệu lực trên phạm vilãnh thổ của các nước thành viên mà những điều ước quốc tế đó còn có hiệu lực trên

cả phạm vi lãnh thổ cộng đồng (như: Điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ, Namcực)

Thời gian có hiệu lực của điều ước quốc tế

12Điều 46-52 Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế

Khi đề cập đến thời gian có hiệu lực của điều ước quốc tế người ta đề cập tới:+ Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của điều ước (thường được ghi nhận ngaychính trong điều ước): Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của điều ước là mốc thời gianđiều ước quốc tế đó bắt đầu phát sinh hiệu lực Thời điểm này dài hoặc ngắn là tuỳthuộc vào sự thoả thuận của các bên

 Đối với những điều ước quốc tế không cần phê chuẩn hoặc phê duyệt, điềuước sẽ có hiệu lực sau khi ký chính thức

 Đối với những điều ước quốc tế phải phê chuẩn hoặc phê duyệt:

 Nếu là điều ước quốc tế song phương: Điều ước bắt đầu có hiệu lực kể từ khihoặc sau khi trao đổi thư phê chuẩn cho nhau

 Nếu là điều ước đa phương: Các bên thường thống nhất số lượng thành viênnhất định gởi thư phê chuẩn tới quốc gia bảo quản điều ước hoặc tới Ban thư ký củamột tổ chức quốc tế thì điều ước quốc tế sẽ phát sinh hiệu lực

 Đối với điều ước quốc tế đa phương quyết định sau khi đạt được số lượngnhưng theo thoả thuận thì sẽ phát sinh hiệu lực sau một thời gian thì đến thời điểm đóđiều ước quốc tế mới phát sinh hiệu lực

ĐƯQT hết hiệu lực trong những trường hợp nào?

 Tự động hết hiệu lực:

- Hết thời hạn có hiệu lực của điều ước

- Khi các bên đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ quy định trong điềuước quốc tế trước thời hạn quy định

- Khi có chiến tranh xảy ra:

 Đối với điều ước song phương: Chấm dứt hiệu lực (nhưng đối với những điềuước quốc tế về lãnh thổ, biên gới quốc gia và những điều ước đã có điều khoản ghinhận khi có chiến tranh xảy ra thì điều ước này vẫn không chấm dứt hiệu lực)

 Đối với điều ước quốc tế đa phương: Sẽ chấm dứt hiệu lực đối với những bêntham chiến còn các bên không tham chiến thì điều ước quốc tế đó vẫn có hiệu lực

Lưu ý: Trong trường hợp khi đã đến thời gian ngừng hiệu lực nhưng quyền vànghĩa vụ của các bên chưa thực hiện xong thì các bên có thể thoả thuận để kéo dàihiệu lực của điều ước quốc tế

Trang 28

Trong thực tiễn có những điều ước quốc tế đã hết hiệu lực một thời gian nhưngcác bên xét thấy cần thiết phải khôi phục lại hiệu lực thì các bên sẽ thống nhất vớinhau (phục hồi hiệu lực điều ước).

 Hết hiệu lực theo ý muốn của các bên

 Bãi bỏ điều ước quốc tế: Là hành vi đơn phương của một quốc gia tuyên bốđiều ước đã hết hiệu lực đối với mình (theo quy định của điều ước), với điều kiện điềuước đó cho phép bãi bỏ là quyền của quốc gia, nó được ghi nhận trong điều ước

 Đối với những điều ước quốc tế song phương: Nếu một bên tuyên bố bãi bỏđiều ước quốc tế thì điều ước quốc tế hết hiệu lực

 Đối với những điều ước quốc tế đa phương: Khi có một bên tuyên bố bãi bỏđiều ước quốc tế thì nó sẽ chấm dứt hiệu lực đối với bên đưa ra tuyên bố đó Cácthành viên còn lại vẫn còn hiệu lực

 Huỷ bỏ điều ước quốc tế: Là tuyên bố đơn phương của một quốc gia (của cơquan có thẩm quyền trong nước) nhằm chấm dứt hiệu lực của một điều ước quốc tếđối với mình mà không cần điều ước quốc tế đó cho phép

Cơ sở pháp lý để tuyên bố huỷ bỏ điều ước quốc tế

 Khi một bên chỉ hưởng quyền mà không thực hiện nghĩa vụ

 Một hay nhiều bên vi phạm nghiêm trọng những điều khoản của điều ước

 Khi quốc gia không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (người ta gọi

đó là hoàn cảnh thay đổi cơ bản dẫn đến quốc gia không còn khả năng thực hiện nghĩa

vụ của mình) – Rebus sic stantibus (hoàn cảnh thay đổi cơ bản)

 Tạm đình chỉ thực hiện điều ước quốc tế: Đây là quyền của quốc gia và đượcghi nhận trong Luật điều ước quốc tế:

 Các bên tham gia điều ước quốc tế sẽ gián đoạn thực hiện ĐƯQT trong mộtthời gian nhất định

 Cơ sở pháp lý của việc tạm đình chỉ là do sự thỏa thuận của các thành viênhoặc do điều ước quốc tế quy định

 Trong thời gian tạm đình chỉ các bên không được có bất kỳ hình thức nàolàm cản trở việc khôi phục lại hiệu lực của điều ước quốc tế sau một thời gian giánđoạn

2.6.3 Điều ước quốc tế và Quốc gia thứ ba

- Về nguyên tắc, một điều ước quốc tế không tạo ra nghĩa vụ hay quyền hạnnào cho quốc gia thứ ba – quốc gia không phải là thành viên của điều ước quốc tế, trừkhi có sự đồng ý của quốc gia đó

Tuy nhiên, trên thực tế (Điều 34,35,37 Công ước Viên 1969):

 Điều ước quốc tế sẽ ràng buộc nghĩa vụ đối với quốc gia thứ 3 với điều kiện

là được quốc gia này chấp thuận bằng văn bản

 Có những điều ước quốc tế không ghi nhận nghĩa vụ của quốc gia thứ 3,nhưng ghi nhận quyền của quốc gia thứ ba

Trang 29

Điều ước quốc tế có thể giao nghĩa vụ cho quốc gia thứ ba bất kể quốc gia này có chấp thuận hay không (chỉ áp dụng trong trường hợp vì hòa bình và an ninh thế giới) (Khoản 6, điều 2, hiến chương LHQ.).

2.6.4 Thực hiện điều ước quốc tế

 Giải thích điều ước quốc tế

Giải thích điều ước quốc tế là một việc làm nhằm làm sáng tỏ nội dung thật của những điều, khoản trong điều ước quốc tế, tạo điều kiện cho việc thực hiện điều ước quốc tế một cách chính xác hơn, tránh sự hiểu lầm và gây xung đột giữa các bên tham gia điều ước quốc tế.

- Chủ thể của giải thích điều ước quốc tế:

 Chủ thể giải thích chính thức: Do các quốc gia ủy quyền cho một quốc giakhác hoặc một tổ chức quốc tế được các bên tranh chấp ủy quyền giải thích điều ướcquốc tế

Kết quả của việc giải thích này có giá trị pháp lý như chính điều ước quốc tế,bắt buộc các bên phải thi hành

 Chủ thể giải thích không chính thức: Đó là giải thích bằng những lời tuyên

bố đơn phương của một quốc gia hoặc giải thích của những cơ quan nghiên cứu phápluật hoặc là sự giải thích của những luật gia nổi tiếng

Kết quả của việc giải thích này không có giá trị ràng buộc đối với các bên thamgia điều ước quốc tế

 Công bố và đăng ký điều ước quốc tế

- Công bố

Công bố thuộc thẩm quyền của pháp luật quốc gia quy định, với các tổ chứcquốc tế, ví dụ: Liên Hợp Quốc – thẩm quyền công bố sẽ do Ban thư ký của Liên hợpquốc

- Đăng ký (Điều 102 Hiến chương Liên hợp quốc)

Đây không phải là giai đoạn của quá trình ký kết, không bắt buộc các quốc giaphải đăng ký điều ước quốc tế nhưng nếu như điều ước quốc tế không được đăng kýthì khi có tranh chấp xảy ra các bên không có quyền đưa hiệp ước hay hiệp định (điềuước quốc tế) ra trước một cơ quan nào của Liên hợp quốc làm cơ sở pháp lý cho việcgiải quyết các tranh chấp đó

 Sau khi đăng ký điều ước quốc tế, Ban thư ký có nhiệm vụ công bố điều ướcquốc tế cho các quốc gia khác

 Đăng ký điều ước quốc tế là công việc của các quốc gia, các tổ chức quốc tế,song công bố điều ước quốc tế là công việc của Ban thư ký Liên hợp quốc (Điều 77Công ước Viên 1969)

Trang 30

 Thực hiện điều ước quốc tế

- Khi điều ước quốc tế phát sinh hiệu lực, các quốc gia tham gia phải tuân thủnguyên tắt Pacta sunt servanda (Điều 26 Công ước Viên 1969: Pacta sunt servanda:Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải đượccác bên thi hành với thiện ý)

- Việc thực hiện điều ước quốc tế trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc giathành viên do chính quốc gia đó tự quyết định

- Các quốc gia ban hành những văn bản pháp luật quy định việc thực hiện điềuước quốc tế

- Trường hợp các quy định của pháp luật quốc gia trái với những quy định củađiều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia thì áp dụng các quy định của điềuước

3 Tập quán quốc tế

3.1 Khái niệm

Trong thực tiễn quan hệ pháp lý có rất nhiều loại tập quán pháp lý khác nhau,trong đó có những tập quán là nguồn của tư pháp quốc tế (như các tập quán về thươngmại quốc tế, hàng hải quốc tế, tập quán về tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốicủa các quốc gia, vv Trong phạm vi bài học này, chúng ta chỉ đề cập đến tập quánquốc tế với tư cách là nguồn của luật quốc tế

- So với điều ước quốc tế, tập quán quốc tế ra đời sớm hơn Đó là những quytắc xử sự chung, lúc đầu do quốc gia hay một số quốc gia đưa ra và áp dụng trong

thừa nhận như quy phạm pháp lý, nên những nguyên tắc xử sự đó đã trở thànhtập quán quốc tế

Vậy theo nghĩa là nguồn của luật quốc tế, thì tập quán quốc tế là quy tắc xử sựchung, hình thành trong thực tiễn quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừanhận rộng rãi là quy phạm có tính chất pháp lý bắt buộc

Tuy nhiên, không phải quy tắc xử sự nào hình thành trong thực tiễn cũng trởthành quy phạm tập quán quốc tế, tức là nguồn của luật quốc tế Những tập quán lànguồn của luật quốc tế phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Tập quán này phải được áp dụng qua một thời gian dài trong thực tiễn quốc tế.Yếu tố áp dụng qua một thời gian dài được thể hiện ở hai khía cạnh:

 Khía cạnh vật chất (hay thành tố về vật chất): Tức là tập quán này phải lặp đilặp lại nhiều lần trong một quá trình liên tục

 Khía cạnh về tinh thần: Trong quá trình áp dụng đó, các quốc gia phải tinchắc rằng xử sự như vậy là đúng về mặt pháp lý

Trang 31

Trước kia và cả ngày nay, trong thực tiễn quan hệ quốc tế đa dạng và phongphú có rất nhiều trường hợp như vậy các quốc gia phải xử sự theo tập quán đã hìnhthành trước đó Những tập quán đó phải là những quy tắc xử sự đã được áp dụng quamột thời gian dài trong thực tiễn Còn một biện pháp hoặc một tiền lệ chỉ được ápdụng một đôi lần thì không thể trở thành tập quán quốc tế được.

Do vậy một tập quán được coi là áp dụng qua một thời gian dài qua thực tiễnquốc tế phải đảm bảo hai yếu tố trên

- Tập quán đó phải được thừa nhận rộng rãi như những quy phạm có tính chấtpháp lý bắt buộc Yếu tố này cũng được thể hiện ở hai khía cạnh:

 Phải được nhiều quốc gia thừa nhận và áp dụng: Trong thực tiễn có rất nhiềutập quán được hình thành Có tập quán có tính chất chung, tức là được nhiều quốc giathừa nhận và áp dụng Nhưng cũng có những tập quán chỉ được hình thành trong quan

hệ song phương hay một số nước trong khu vực Ở đây chỉ nói đến những tập quán nguồn của luật quốc tế chung – có tính chất chung được nhiều quốc gia thừa nhận

-Điều 38b Quy chế Toà án Quốc tế Liên hiệp quốc quy định: Khi giải quyết cáctranh chấp quốc tế, toà án chỉ áp dụng những tập quán quốc tế chung mà thôi

 Phải được thừa nhận như những quy phạm có tính chất pháp lý bắt buộc.Trong thực tiễn, có nhiều quy tắc xử sự được áp dụng nhưng chưa được các quốc giathừa nhận có giá trị pháp lý bắt buộc

Mặc dù lúc đầu, khi mới được hình thành, tập quán quốc tế cũng chỉ là tập tụcsau dần đến một giai đoạn nào đó khi đã được các quốc gia thừa nhận có giá trị pháp

lý thì những tập tục đó mới trở thành Nguồn của luật quốc tế

- Tập quán đó phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luậtquốc tế

Tóm lại: Luật quốc tế hiện đại và khoa học, luật quốc tế ngày nay vẫn thừanhận tập quán quốc tế là nguồn của luật quốc tế Nhưng không phải tất cả các tập quánđều là nguồn của luật quốc tế Chỉ những tập quán được áp dụng qua một thời gian dàitrong thực tiễn, được nhiều quốc gia thừa nhận có giá trị pháp lý bắt buộc và có nộidung phù hợp với những quy phạm Jus cogens của luật quốc tế, mới là nguồn của luậtquốc tế hiện đại

3.2 Con đường hình thành

3.2.1 Tập quán quốc tế theo quan điểm truyền thống

Phải đáp ứng những điều kiện:

- Phải được áp dụng trong một thời gian dài trong thực tiễn quốc tế và đượcthực hiện ở hai khía cạnh:

 Phải được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một quá trình liên tục (thành tố vềmặt vật chất)

 Trong khi áp dụng các quốc gia phải tin chắc rằng xử sự như vậy là đúng vềmặt pháp lý

- Những quy tắc xử sự đó phải được coi là những quy phạm pháp lý bắt buộc

Trang 32

- Phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.

3.2.2 Tập quán quốc tế theo quan điểm mới

Trong luật quốc tế hiện đại, tồn tại hai loại quy phạm tập quán quốc tế:

- Loại quy phạm thứ nhất mang tính truyền thống:

Phải đáp ứng hai thành tố: thành tố vật chất và thành tố tinh thần (bao gồm cácquy tắc xử sự không thành văn, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế) và đượccác quốc gia thừa nhận hiệu lực pháp lý ràng buộc mình

- Loại quy phạm thứ hai:

Bao gồm các quy tắc xử sự được ghi nhận trong một số văn kiện, được cácquốc gia thừa nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình với tư cách là tập quánpháp lý quốc tế

 Con đường hình thành tập quán pháp lý quốc tế

- Hình thành từ nghị quyết của tổ chức quốc tế

Điểm mới trong quá trình hình thành quy phạm luật quốc tế từ nửa sau thế kỷ

XX là việc xuất hiện các quy phạm tập quán của luật quốc tế được hình thành từ Nghịquyết của tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ chức Liên hiệp quốc Loại quy phạm nàythường được hình thành trong lĩnh vực duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, cũng nhưtrong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia Chừng nào nghị quyết này chưa phải là điềuước quốc tế, thì việc các quốc gia hành động theo những chuẩn mực của nó chính là

sự thừa nhận quy phạm tập quán quốc tế mới hình thành

- Hình thành từ một tiền lệ duy nhất

Trong đời sống quốc tế, đôi khi dựa vào những điều kiện cụ thể khi có nhữngthay đổi cơ bản và xuất hiện những vấn đề mới mẻ, đòi hỏi phải có ngay những quyếtđịnh để giải quyết thì Quy phạm tập quán có thể được hình thành từ tiền lệ duy nhất

đó Ví dụ, vào năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng con tàu vũ trụ từ trái đất Sựkiện này là một tiền lệ “khởi điểm và duy nhất”đã trở thành Quy phạm tập quán quốc

tế về quyền bay qua không gây hại trong vũ trụ bên trên không phận của lãnh thổ quốcgia khác Sự im lặng không phản đối của các quốc gia cũng đồng nghĩa với sự côngnhận một quy phạm tập quán mới của luật quốc tế (Tham khảo: “Luật quốc tế - lýluận và thực tiễn”, trang 35)

- Hình thành từ điều ước quốc tế

Từ điều ước quốc tế có hai cách hình thành:

 Tập quán pháp lý hình thành từ điều ước quốc tế được pháp điển hoá

Những điều ước quốc tế này rất lâu mới có hiệu lực pháp lý Đồng thời cũng cónhiều quốc gia không tham gia và không ràng buộc về mặt pháp lý với điều ước này.Tuy nhiên, nếu những điều ước đó thể hiện quy phạm tập quán của luật quốc tế chungthì nó lại trở thành bắt buộc đối với mọi quốc gia

+ Có những điều ước quốc tế phổ cập gồm các quy phạm của luật quốc tếchung, có sự tham gia của đại đa số các quốc gia trên thế giới, như: Công ước luậtBiển 1982, Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế, … Các quốc gia không

Trang 33

phải là thành viên trong quan hệ với các quốc gia khác thường áp dụng quy phạm điềuước với tư cách là quy phạm tập quán Từ đó có rất nhiều quy phạm tập quán quốc tếhình thành từ điều ước quốc tế phổ cập.

- Hình thành từ hành vi đơn phương của quốc gia

 Có nhiều loại hành vi đơn phương của quốc gia, trong đó đáng chú ý nhất làtuyên bố của quốc gia Tuyên bố thường dựa trên cơ sở quy phạm pháp lý, bao gồmcác quyền và nghĩa vụ tương ứng, như: Tuyên bố về độ cao vùng trời, về chiều rộnglãnh hải, về vùng nội thuỷ

 Tuyên bố là xuất phát điểm, là cơ sở bắt đầu để hình thành một tập quánquốc tế, sau đó nhiều quốc gia áp dụng và cùng công nhận về những quyền và nghĩa

vụ nêu trong nội dung tuyên bố, khi ấy tập quán trở thành quy phạm của luật tập quánquốc tế và được áp dụng rộng rãi trong quan hệ giữa các quốc gia

Như vậy, quy tắc xử sự của quốc gia được tạo ra trong kết quả của việc lặp đilặp lại nhiều lần các hành vi đơn phương và trở thành quy phạm tập quán quốc tế

3.3 Hiệu lực:

- Tập quán quốc tế có giá trị pháp lý như điều ước quốc tế

- Tập quán quốc tế có thể được áp dụng khi không có quy phạm điều ước quốc

tế điều chỉnh hoặc các chủ thể luật quốc tế chọn lựa tập quán quốc tế để điều chỉnh

4 Các phương tiện hỗ trợ nguồn ( đọc tham khảo thêm )

4.1 Các nguyên tắc pháp luật chung

4.2 Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ (Lưu ý)

- Các tổ chức quốc tế liên chính phủ thường xây dựng một cơ cấu tổ chức chặtchẽ bằng một hệ thống cơ quan Trong số các nghị quyết của tổ chức quốc tế cần phânbiệt hai loại: Các nghị quyết có tính quy phạm và nghị quyết có tính khuyến nghị

 Nghị quyết có tính quy phạm: Là các nghị quyết quy định mức độ đóng gópcủa các quốc gia thành viên, thường ghi nhận trong các Hiến chương, điều ước quốc tế

về việc thành lập các tổ chức Nghị quyết có tính quy phạm có giá trị pháp lý bắt buộcđối với những nước là thành viên của tổ chức đó

 Nghị quyết khuyến nghị của tổ chức quốc tế: Tự bản thân các nghị quyết nàychỉ mang tính chất khuyến nghị mà không sinh ra quy phạm pháp lý; không có giá trịpháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của tổ chức đó Tuy nhiên, nhiềunghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc giữ vai trò quan trọng trong quá trình hìnhthành và phát triển của quy phạm luật quốc tế, đồng thời được công nhận là phươngtiện bổ trợ để xác định quy phạm luật quốc tế

4.3 Phán quyết của Tòa án quốc tế (Lưu ý)

Phán quyết của Tòa án quốc tế là thuật ngữ chung để chỉ các cơ quan tài phánquốc tế, các cơ quan này có thẩm quyền ban hành hai loại văn bản có giá trị pháp lýkhác nhau:

 Bản án: Có giá trị pháp lý ràng buộc và mang tính chất chung thẩm đối vớicác bên tranh chấp trong từng vụ việc nhất định

Trang 34

Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ thừa nhận án lệ là nguồn; Quan điểm này khôngđược thừa nhận vì bản chất của luật quốc tế là sự thỏa thuận, phán quyết đó chỉ có giátrị ràng buộc đối với các bên tranh chấp Các phán quyết này chỉ là phương tiện hỗ trợcần thiết để xác định sự đúng sai của các quốc gia khi áp dụng quy phạm luật quốc tế

cụ thể nào đó

 Bản kết luận tư vấn: Chức năng của các Tòa án quốc tế ngoài giải quyếttranh chấp quốc tế còn có thẩm quyền ra bản kết luận tư vấn, bản kết luận tư vấnkhông có giá trị ràng buộc đối với cơ quan, tổ chức yêu cầu tòa ra bản kết luận tư vấnđó

4.4 Học thuyết về luật quốc tế

4.5 Hành vi đơn phương của quốc gia

5 Phân tích mối quan hệ giữa các loại nguồn?

5.1 Vị trí, vai trò của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Khi đề cập đến vấn đề này trước tiên cần khẳng định rằng sẽ chẳng có ý nghĩa

gì khi cứ tiếp tục tranh luận về việc giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế thìnguồn nào được coi là quan trọng hơn

Trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, tập quán quốc tế với tư cách là nguồncủa luật quốc tế xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều ước quốc tế Trong thời kỳ cổđại và trung đại, quan hệ giữa các quốc gia chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quánquốc tế

Ngày nay, điều ước quốc tế lại có chỗ đứng nhiều hơn trong việc điều chỉnhquan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế Sự thay đổi này chính là thay đổi về cơ cấu,thành phần quy phạm luật quốc tế hiện đại, không phải là sự thay đổi vai trò, bản chấtcủa mỗi loại nguồn này

Sự khác nhau giữa quy phạm điều ước và quy phạm tập quán không phải ở bảnchất mà chính là ở phương thức đạt được thỏa thuận và hình thức thể hiện chúng

Điều ước quốc tế được thể hiện bằng hình thức văn bản

Tập quán quốc tế tồn tại ở hình thức không thành văn và trong nhiều trườnghợp được hình thành từ “thỏa thuận im lặng” Cả quy phạm điều ước và quy phạm tậpquán đều là kết quả của sự thỏa thuận ý chí giữa các chủ thể liên quan

5.2 Sự tác động qua lại giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Về mặt lịch sử, tập quán quốc tế xuất hiện sớm hơn điều ước quốc tế, nhưnggiữa hai loại nguồn này luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và bổsung cho nhau, cùng thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ liên quốc gia phátsinh trong đời sống quốc tế

 Trước hết, tập quán quốc tế tác động đến sự hình thành và phát triển của điềuước quốc tế:

Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của luật quốc tế cho phépkhẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập

Trang 35

quán quốc tế Cùng với sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế, nhiều quy phạm tậpquán được thay thế hoặc phát triển thành quy phạm điều ước.

 Điều ước quốc tế tác động trở lại đến sự hình thành và phát triển của tậpquán quốc tế:

Sự tác động này thườn xuất hiện chủ yếu từ các điều ước quốc tế có tính phổcập

5.3 So sánh hiệu lực giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Trong hệ thống luật quốc tế, không quy định điều ước có giá trị cao hơn tậpquán vì bản chất của luật quốc tế là sự thoả thuận Như vậy điều ước quốc tế và tậpquán quốc tế có giá trị pháp lý như nhau Khi có tranh chấp nếu:

 Cả hai bên đều đồng ý áp dụng quy phạm tập quán , toà án sẽ áp dụng quyphạm tập quán

 Cả hai bên đều đồng ý áp dụng quy phạm điều ước , toà án sẽ áp dụng quyphạm điều ước

 Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia đôi khi xảy ra trườnghợp cùng một quan hệ xã hội cụ thể lại có cả quy phạm điều ước và quy phạm tậpquán cùng tham gia điều chỉnh Trong trường hợp như vậy các quốc gia sẽ áp dụngloại quy phạm nào để giải quyết?

Nếu có cả quy phạm điều ước và quy phạm tập quán cùng có thể áp dụng đểgiải quyết một vấn đề nào đó nhưng nội dung của cả hai loại quy phạm này mâu thuẫnnhau, thì các cơ quan có thẩm quyền thường ưu tiên áp dụng quy phạm điều ước quốctế

Ưu thế của điều ước quốc tế:

 Điều ước được thể hiện bằng văn bản viết, vì vậy nó ghi nhận quyền và nghĩa

vụ giữa các bên rõ ràng hơn (tập quán quốc tế tồn tại dưới dạng không thành văn,không quy định rõ quyền và nghĩa vụ)

 Điều ước quốc tế trải qua một trình tự lập pháp chính xác, minh bạch và cụthể hơn (quy trình thỏa thuận, soạn thảo, quy định thời điểm có hiệu lực, chấm dứthiệu lực rõ ràng)

 Thông qua việc đàm phán, ký điều ước quốc tế thì các quy phạm pháp luậtquốc tế (quy phạm điều ước, quy phạm tập quán) Quy phạm điều ước hình thành mộtcách nhanh chóng, nó đáp ứng được nhịp độ phát triển nhanh trong quan hệ quốc tếngày nay

3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1 KHÁI NIỆM CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1.1 Thuật ngữ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Hiện nay, trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và các công trình khoa học vềluật quốc tế chúng ta thường bắt gặp những thuật ngữ khác nhau như: “các nguyên tắccủa luật quốc tế”; “các nguyên tắc được thừa nhận chung của luật quốc tế”; “cácnguyên tắc cơ bản của luật quốc tế”hoặc "các nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn

Trang 36

minh thừa nhận"1 nên chúng ta có thể nhầm lẫn khái niệm “nguyên tắc của luật quốctế”với “nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế” Chính vì vậy, cần phân biệt rõ khái niệmcác nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế với các nguyên tắc khác của luật quốc tế.

Về phương diện pháp lý quốc tế, thuật ngữ “Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế”dùng để chỉ các nguyên tắc được ghi nhận trong Điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc ngày 24/10/1945 và được long trọng ghi trong Tuyên bố về: "Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc ngày 24/10/1970”(gọi tắt là tuyên bố

ngày 24/10/1970)2 - Tuyên bố có tính chất pháp điển hóa các nguyên tắc cơ bản củaluật quốc tế Có nghĩa là, phần lớn các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều đã đượcquy định trong Hiến chương Liên hiệp quốc3, nhưng đến Tuyên bố ngày 24/10/1970,

hệ thống các nguyên tắc này mới được ghi nhận chính thức là các nguyên tắc cơ bảncủa luật quốc tế

Về phương diện khoa học luật quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tếchính là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm có giá trị bắtbuộc chung (Jus cogens) đối với mọi chủ thể của luật quốc tế, áp dụng trong mọi lĩnhvực của quan hệ quốc tế

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thể hiện một cách tập trung nhất tưtưởng chính trị - pháp lý và cách xử sự của các chủ thể của luật quốc tế trong quá trìnhthiết lập và thực hiện các quan hệ quốc tế, đồng thời là những tư tưởng chỉ đạo choquá trình xây dựng và thực hiện pháp luật quốc tế

Theo tuyên bố ngày 24/10/1970, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế gồmbảy nguyên tắc sau đây:

- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;

- Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệquốc tế4;

1 Điều 38, khỏan 1, Điểm d, Quy chế Tòa án quốc tế

2Tuyên bố "về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị vàhợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc” trong Nghị quyếtngày 24/10/1970, tiếng Anh: Dclaration on principles of international law concerningfriendly relations and co-operation among states in accordance with the charter of theunited nations united nations generalassembly resolution 2625 (xxv),24 october 1970.Tiếng Pháp:la rsolution 2625 de l'Assemble gnrale des nations-unis : Dclaration surles relations amicales entre Etats (24 octobre 1970)

3Hiến chương Liên hiệp quốc, tại Điều 2 chỉ gọi đây là các nguyên tắc họat động củaLiên hiệp quốc chứ không sử dụng thuận ngữ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Cụ thể: "…Liên hiệp quốc và những hội viên Liên hiệp quốc phải hành động theo đúng các nguyên tắc sau đây…"

4 Có thể gọi nguyên tắc này là nguyên tắc cấm sứ dụng sức mạnh và đe dọa sử dụng

Trang 37

- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác;

- Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết;

- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;

- Nguyên tắc Pacta sunt servanda

Mỗi ngành luật của hệ thống pháp luật quốc tế đều tồn tại các nguyên tắc đặcthù của chúng Các nguyên tắc này đóng vai trị là nền tảng và hạt nhân chi phối quátrình hình thành, tồn tại và phát triển của ngành luật đó, ví dụ ngành luật hàng khôngquốc tế có nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động hàng không; nguyên tắc chủ quyềntuyệt đối đối với vùng trời; nguyên tắc an ninh hàng không…trong ngành luật biển cónguyên tắc tự do biển cả; nguyên tắc đất thống trị biển; nguyên tắc treo cờ; nguyên tắcmiễn trừ tài phán đối với tàu quân sự và tàu nhà nước trong lĩnh vực thương mại;trong ngành luật điều ước quốc tế có nguyên tắc Pacta sunt servan da; nguyên tắc nội

dung của Điều ước quốc tế phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế…

Câu hỏi: Điểm khác biệt giữa “nguyên tắc cơ bản”với “nguyên tắc của luật quốc tế"? chính là phạm vi điều chỉnh, giá trị pháp lý và tầm quan trọng của chúng

Thứ nhất, nếu các "nguyên tắc cơ bản”điều chỉnh tòan bộ quá trình hình thành,tồn tại và phát triển cũng như tổng quát hóa toàn bộ tư tưởng chính trị - pháp lý của hệthống pháp luật quốc tế thì các "nguyên tắc của luật quốc tế” chỉ điều chỉnh quá trìnhhình thành, tồn tại và phát triển của từng ngành luật độc lập của hệ thống pháp luậtquốc tế như chúng tôi đã phân tích ở trên

Thứ hai, nếu "nguyên tắc cơ bản”của luật quốc tế mang tính Jus cogens – tínhbắt buộc chung đối với mọi chủ thể, trong mọi điều kiện hòan cảnh và trong mọi quan

hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế thì các "nguyên tắc của luật quốc tế”chỉ có giá trịràng buộc đối với các chủ thể, trong từng điều kiện hoàn cảnh và quan hệ pháp lý đặcthù thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế

Trang 38

1.2 Quy trình hình thành các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế (Đọc tham khảo)

1.3 Phân tích đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản?

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có bốn đặc điểm cơ bản sau đây:

Một l à , các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính phổ cập.

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, vàđược thừa nhận rộng rãi trong quan hệ quốc tế Về cơ sở pháp lý, các nguyên tắc cơbản của luật quốc tế được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng đó là Hiếnchương Liên hiệp quốc 24/10/1945, Tuyên bố 24/10/1970; Định ước henxinki1/8/1975…

Hai l à , các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính bao trùm nhất

Các nguyên tắc cơ bản bao trùm toàn bộ những tư tưởng, chính trị pháp lý vànhững đặc điểm cơ bản của luật quốc tế Về phương diện lý luận, các nguyên tắc cơbản của luật quốc tế đóng vai trị tổng quát hoàn tòan bộ nội dung các quy phạm kháccủa luật quốc tế Đồng thời, chúng được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của quan hệquốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế (chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, an ninhquốc phòng, môi trường, nhân đạo, y tế…)

Ba là, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính bắt buộc chung.

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những quy phạm có tính mệnh lệnh(Jus cogens) có giá trị pháp lý cao nhất, bắt buộc đối với mọi chủ thể của luật quốc tế

Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là cơ sở, nền tảng của toàn bộ hệthống luật quốc tế, là thước đo giá trị pháp lý của tất cả các quy phạm luật quốc tế.Bất kỳ chế định, quy phạm pháp lý quốc tế nào trái với một trong các nguyên tắc trênđều bị coi là bất hợp pháp Trong mọi trường hợp, nếu các chủ luật quốc tế vi phạmcác nguyên tắc cơ bản đều được coi là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế nghiêm trọngnhất

Bốn là, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có mối quan hệ qua lại trong một chỉnh thể thống nhất.

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế luôn luôn tồn tại trong một chỉnh thểthống nhất có tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động mang tính biện chứng này bịquyết định bởi các nội dung của chúng Điều đó có nghĩa là, khi xem xét, đánh giá nộidung và sự tuân thủ, thực hiện các nguyên tắc cơ bản, chúng ta không thể tách rời nộidung từng nguyên tắc mà phải đặt chúng trong một chỉnh thể thống nhất, trong mốiliên hệ tác động qua lại lẫn nhau Có như vậy, các nguyên tắc cơ bản mới có khả nănghoàn thành chức năng là “xương sống”là "trụ cột"của hệ thống pháp luật quốc tế

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế không có sự phân chia theo đẳng cấptheo nghĩa cao thấp, phục tùng nhau nhưng vị trí trung tâm của các nguyên tắc cơ bản

là nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực (use force) và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệquốc tế vì nó đóng vai trị chủ đạo trong việc giữa gìn hòa bình và an ninh quốc tế -nhiệm vụ cơ bản nhất của luật quốc tế Chính vì vậy, trong quan hệ quốc tế nếu một

Trang 39

chủ thể của luật quốc tế có hành vi đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trái pháp luật quốc tế

sẽ bị coi là vi phạm tất cả các nguyên tắc còn lại của hệ thống các nguyên tắc cơ bản

1 4 Phân tích vai trò củc nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế?

Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là cơ sở, nền tảng cho sự tồntại và phát triển của luật quốc tế và trật tự pháp lý quốc tế Bên cạnh đó, hệ thống cácnguyên tắc cơ bản chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để các chủ thể giải thích và

áp dụng luật quốc tế5 đồng thời giới hạn ý chí và quyền tự quyết của các chủ thể luậtquốc tế Có nghĩa là trong quan hệ quốc tế, các chủ thể của luật quốc tế phải hành xửtrên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản Hay nói cách khác, các nguyên tắc cơbản đóng vai trò là thước đo giá trị pháp lý của tất cả các quy phạm của luật quốc tế vàquan hệ luật quốc tế Có nghĩa là, tất cả các quy phạm luật quốc tế, không thể đượccoi là nguồn của luật quốc tế và không có giá trị pháp lý ràng buộc các chủ thể luậtquốc tế phải tuân thủ, thực hiện nếu nội dung của chúng trái với các nguyên tắc cơ bảncủa luật quốc tế

Và đương nhiên, những quan hệ quốc tế được thiết lập giữa các chủ thể của luậtquốc tế đều bị coi là bất hợp pháp, là vô hiệu nếu nội dung của các quan hệ đó đingược lại các nội dung và tiêu chuẩn pháp lý được quy định trong các nguyên tắc cơbản của luật quốc tế

Mặt khác, các nguyên tắc cơ bản được coi là hạt nhân của toàn bộ hệ thốngpháp luật quốc tế và là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp quốc tế

Mặc dù từ khi Liên Hiệp Quốc ra đời đến nay, lịch sử đã chứng kiến không ítlần các cường quốc đã ngang nhiên vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế, đặc biệt làcác nguyên tắc cơ bản mà trung tâm là nguyên tắc "cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sửdụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”như hành vi của Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam,Cộng hòa Liên Bang Nam tư năm 1999 và gần đây nhất là ở Afganistan năm 2001,Irăk năm 2003… tuy nhiên, không vì thế mà phủ nhận vai trị và gi trị của hệ thốngcác nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Ngược lại, hệ thống các nguyến tắc cơ bản luôn là nền tảng pháp lý cho tất cảcác quốc gia, các dân tộc, các thực thể khác của pháp luật quốc tế tuân thủ và thựchiện pháp luật quốc tế một cách hiệu quả nhất Hệ thống các nguyên tắc cơ bản củaluật quốc tế vẫn đóng vai trị là khuôn mẫu xử sự và là thước đo tính pháp lý cho tất cảcác quy phạm luật quốc tế cũng như nội dung các quan hệ quốc tế được thiết lập giữacác chủ thể luật quốc tế Thế giới có những bước phát triển vượt bậc với những thành

tự to lớn trên tất cả các lĩnh vực về chính trị, kinh tế - xã hội; văn hóa; khoa học kỹthuật; thương mại quốc tế; nhân đạo quốc tế… như hiện nay chính là nhờ sự hợp tác,

5Droit international public – Kohen – by Xavier Guillaume.More polycopis of all four

HEI years to be found at : http://www.stoessel.ch/hei

Trang 40

liên kết tòan cầu vì lợi ích chung của cộng đồng trên cơ sở tuân thủ và thực hiện luậtpháp quốc tế nói chung và hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế nói riêng.

2 HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 2.1 Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

2.1.1 Sự hình thành

Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia được hình thành trong thời

kỳ Tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, vào thời kỳ này quan niệm về bình đẳng chủ quyền

giữa các quốc gia chỉ là bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia “Văn minh” Và dĩ nhiên, không thể có sự bình đẳng về chủ quyền giữa những quốc gia "văn minh”với những quốc gia nghèo đói, bị xâm lược, "kém văn minh”cần phải được “khai hóa văn minh”.

Sau cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, quan niệm về chủ quyền và bình đẳng

về chủ quyền giữa các quốc gia đã có sự thay đổi căn bản Trong chính sách đối ngoạicủa mình, Nhà nước Nga Xô Viết đã thừa nhận tất cả các quốc gia trên thế giới khôngphân biệt lớn bé, giàu nghèo, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội đều là chủ thểcủa luật quốc tế, đều bình đẳng về chủ quyền Chính vì vậy, nội dung pháp lý củanguyên tắc này đã được nâng lên và hoàn thiện đúng ý nghĩa pháp lý của nó

Khi soạn thảo và xây dựng Hiến chương Liên hiệp quốc, nội dung tư tưởng và

vị trí pháp lý của nguyên tắc này đã được xác lập là một trong những nguyên tắc cơbản của luật quốc tế Theo đó, Liên hiệp quốc đã trịnh trọng đặt nguyên tắc này lànguyên tắc đầu tiên, làm nền tảng cho tổ chức hoạt động của Liên hiệp quốc

Điều 2 khoản 1 Hiến chương đã khẳng định “Liên hiệp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của tất cả các hội viên”.

Đến năm 1970, Đại hội đồng Liên hiệp quốc một lần nữa khẳng định bình đẳng

về chủ quyền giữa các quốc gia là một trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế vàđược ghi nhận một cách đầy đủ nội dung pháp lý của nó trong Tuyên bố ngày24/10/1970

Ngoài ra, nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Định ước Henxinki ngày1/8/1975 của Hội nghị an ninh và hợp tác Châu Âu và nhiều văn bản pháp lý quốc tếquan trọng khác của Liên minh châu âu, Asean, Liên minh châu Phi

2.1.2 Nội dung của nguyên tắc

Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý vốn có và không thể táchrời của quốc gia thể hiện trên hai phương diện cơ bản về đối nội và đối ngoại Trênphương diện đối nội (chủ quyền đối nội) quốc gia có toàn quyền quyết định mọi côngviệc đối nội của quốc gia, và đây là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổcủa mình Theo đó, trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia có tồn quyền quyết định

và thực hiện ba chức năng cơ bản về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không mộtquốc gia, tổ chức nào có quyền can thiệp

Ngày đăng: 18/01/2022, 07:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w