CO CẤU NGHĨA CỦA TỪ

Một phần của tài liệu Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt (Trang 170 - 177)

1. Một từ có th ể có một hoặc nhiều nghĩa, n h ư n g đó không phải là n h ữ n g tổ chức lộn xộn.

Nếu là m ộ t từ nhiếu nghĩa (đa nghía) thỉ các nghĩa đó c ủ a từ cố q uan hệ với nhau, được sắp xếp theo những cơ cấu t ổ chức n h ấ t định.

T rong t ừ n g nghỉa của mỗi từ c ũng vậy ; chúng gổm n h ữ n g th à n h tố nhỏ hơn, có th ể phân tích ra được (dưới đây sẽ gọi là n h ữ n g nghĩa tố - seme) và cũng được sắp xếp theo m ộ t t ổ chức nào đó.

Như vậy x é t cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem t ừ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghỉa có bao nhiêu th à n h tố nhỏ hơn ; v à t ẵ t cả ch ú n g được sáp xếp trong q u a n hệ với n hau n h ư t h ế nào.

2. Mỗi m ộ t nghĩa thường gồm m ộ t số nghĩa tố được tổ chức lại.

Nghĩa tố được hiểu là một dấu hiệu lôgic ứng với m ộ t thuộc tín h ch u n g của sự vật, hiện tượng (biểu vật) được đưa vào nghỉa biếu niệm...

Đó c ũng chính là "yếu tố n g ữ nghia chung của các từ thuộc cù n g m ộ t n h ó m từ hoặc riêng cho nghỉa cùa m ộ t từ đồi lập với nghía của n h ữ n g từ khác trong c ũ n g m ộ t n h ó m"í1).

Ví dụ, một nghĩa cứa từ chăn tro n g tiếng Việt được p h â n tích là : bộ p hận th â n th ể động vật - ở phía dưới cùng - đ ể đỡ th â n th ể đứ ng yên hoặc vận động dòi chồ.

T rong nghĩa này có ba dấu hiệu lôgic của sự vật ứ n g với ba thuộc tính ch u n g của nó, đã được đ ư a vào. Đó là b a nghĩa tố của một nghĩa t r o n g t ừ chản.

(1) H o à n g Phê. p h â n tích ngữ nghĩa. N N - 2 - 1 9 7 5 .

Ba nghỉa tó trên đây được p h á t hiện th ô n g qua sự tậ p hợp và so sánh với các từ khác : tay, d â u, vai, ngực, bụng, lưng...

N ghĩa tổ bộ p h ậ n th á n t h ể dộng vật chung cho mọi từ tro n g nhóm.

H ai nghĩa tố còn lại được p h á t hiện thông qua so s á n h với các t ừ t r o n g nhóm để thấy n h ữ n g khác biệt tro n g dấu hiệu lôgic vé vị trí, chức năng của sự vật được gọi tê n (biểu vật).

T a có t h ể hình d u n g m ộ t t ậ p hợp các nghĩa tố của nghĩa cũng tương t ự như một tập hợp các nét khu biệt của â m vị vậy. Chì có điêu ở đây, các nghỉa tố n ằ m tro n g tương q uan già định lẵn nhau và th u y ế t m inh cho nhau. C h ú n g có quan hệ th ứ t ự tôn ti trong t ổ chức nghỉa. Ví dụ : T ro n g nghĩa của từ chân vừa phân tích, ta có b a n g h ỉa tố gọi theo th ứ t ự là a b c.

Tuy nhiên, đó không phải là thứ tự thời gian, tuyến tính ; m à là thứ t ự từ cái lớn đến cái nhò, từ cái cán yếu n h ẫ t đến cái ít cần yếu hơn... Điéu này được miêu t ả lại trong từ đ iển như một

"phổ" c ủ a n h ữ n g lời giải n g h ĩa vậy.

Việc phân tích nghỉa của t ừ cho đến n h ữ n g th à n h tố cuối cùng khồng còn cđ thể phân tích ti ế p tục được nữa ; (tức là phân tích cho hết được các nghỉa tố c ầ n yếu) là m ộ t yêu cầu b á t buộc vé m ặ t nguyên tác. T h ế nhưng, t r ê n thực tế, cho tới nay vẫn chưa có được m ộ t phương pháp t ổ n g q uát đủ mạnh đ ể cho phép xác định t r o n g số các "dấu hiệu logic" cái nào được coi là nghĩa tố, còn cái nào thì không. Bởi thế, khi phán tích nghía từ, có lúc chúng t a buộc phải có n h ữ n g biện luận riêng cho từ ng nhóm, thậm chí từ n g từ.

3. ở điểm 1, chúng ta đ ă nối rằng m ộ t từ có t h ể đơn nghĩa hoặc đ a nghỉa. Tính đ a nghỉa của ngôn ngữ ở cáp độ t ừ th ể hiện qua từ đ a nghỉa. Quan hệ đ a nghía là một trong n h ữ n g d ạ n g quan trọng n h ấ t thuộc các kiểu q u a n hệ ngữ nghỉa trong từ.

3.a. Có t h ể định nghỉa về t ừ đa nghía như sau : Từ đa nghỉa là n h ữ n g từ có một sỏ nghỉa biểu thị những đậc điểm, thuộc tính khác n h a u của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tư ợ n g khác nhau của thực tại.

Vị dụ : Động từ che tro n g tiếng Việt có hai nghỉa. Động từ ỏn có 12 nghia... (Từ cỉiển tiẾng Việt, H o à n g Phê chủ biên, Hà Nội.

1988). C húng là các từ đa nghĩa.

Với t ư cách là đơn vị định danh, từ đa nghỉa cho ta thấy rằng : từ có t h ể di chuyển từ chỗ gọi tên cho đói tượng này sa n g gọi tẽn cho cả đỏi tượng khác ; từ chỗ có nghía này, có t h ể có thêm nghỉa khác.

. Đối tượng 1 - Nghỉa 1

Từ Đói tượng 2 - Nghỉa 2

Đồi tượng n - Nghĩa n

Sự "di ch u y ển 1' đó có nguyên n hân ờ nhận thức của người bản ngừ và tính c h ất tiết kiệm tro n g ngồn ngữ. Hai n hân tố này tác động và ả n h hường lẫn nhau đã dẫn đến việc tạo lập t ừ đa nghỉa của từ vựng.

3.b. Các nghĩa của từ đa nghỉa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức, t r ậ t tự n h ấ t định. Vì vậy, người ta củng có thể phân loại chúng. Có nhiểu cách phân loại, nhưng thư ờ ng gặp nhất là những lưỡng phân quan trọ n g như sau :

b .l. N g h ỉa góc - nghía p h á i sinh

Lường phân này dựa vào tiêu chí nguốn góc của nghỉa. Nghía góc được hiểu là nghỉa đáu tiên hoặc nghỉa có trướo, trên cơ sở

nghỉa đó mà người t a xây dự ng nên nghỉa khác. Ví dụ chân : 1. Bộ phận thân th ể động vật ở phía dưới cùng, đ ể đỡ thân th ể đứng yên hoặc vận động rời chỗ.

2. Cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong ban q u â n trị)

( . . . )

Nghia 1 của từ chán ờ đây là nghĩa gốc. Từ nghỉa 1 người ta xày dự ng nên các nghía khác của từ này bằng những con đường, cách thức khác nhau.

Nghĩa gốc thường là nghỉa không giải thích được lí do ; và có t h ể được n hận r a m ộ t cách độc lập không cẩn thòng qua nghỉa khác.

173

N g h ía p h á i sin h là nghỉa được hỉnh th à n h dựa trên cơ nghia góc ; v à vỉ vậy chúng thư ờ ng là nghỉa có lí do ; và được nhặn ra q u a n g h ĩa gốc của từ.

N ghĩa 2 của từ chân vừa nêu là một ví dụ vê nghĩa piái sinh.

b.2. N g h ía tự don g h ỉa hạn chế

Lưỡng p hân này m ộ t m ặ t dựa vào mối liên hệ giữa tx (với tư cách là t ê n gọi) vối đối tượng ; m ặ t khác, là khả n ãng bóc lộ cùa ng h ĩa t r o n g n h ừ n g h oàn cảnh khác nhau m à từ x uẵt hiện.

N ế u m ộ t nghĩa được bộc lộ tro n g mọi hoàn cảnh, khônglệ thuộc vào m ộ t h oàn cành bát buộc nào ; thì nghĩa đó được gọi là nghía tự do.

X é t từ SẤT tro n g tiến g Việt, nó có nghỉa :

K im loại - rán, cứng - màu xám s á n g - tỉ khối 7,8* ; nóng c h ảy ở n h iệ t độ 1535°c.

N g h ĩa này là nghỉa t ự do vì được bộc lộ trong mọi hoài cành : g iư ờ n g s á t ; m u a sát ; có công m ài sâ t có ngày nên kim..

Ngược lại, n ế u một nghĩa chỉ được bộc lộ tro n g m ộ t (loặc vài) hoàn c ả n h b á t buộc thì nghĩa đổ được gọi là n g h ĩa h ạ r chế. Ví dụ : N goài nghỉa vừa nêu, từ SẢT còn bộc lộ n g h ĩa : "nghiêm ngặt, c ứ n g rắ n và buộc phải làm theo tro n g hoàn cành htn chế" : k i lu ậ t s á t hoặc bàn tay sàt.

T ừ m ù i với nghỉa "hơi ngửi thấy nói chung" và nghĩa "nùi thiu, ôi, khd chịu "{thịt có m ù i) c ủng là trư ờng hợp n h ư vậy.

b.3. N g h ỉa trục tiếp - nghỉa chuyền tiép

H a i loại nghỉa này được phân biệt dựa vào mối quan h ệ định d a n h giữa từ với dối tượng.

N ế u m ộ t nghia trực tiếp phàn á n h đối tượng, làm clo từ gọi t ê n sự v ậ t m ộ t cách trự c tiếp, thì người t a gọi đò là nfhỉa trực tiếp (cũ n g có khi gọi là nghĩa đen).

Ví dụ : nghỉa thứ n h ấ t của từ chăn và từ s ấ t như vía nói ở trên, l à n h ữ n g nghỉa trự c tiếp.

174

N ế u m ộ t n g h i a g i á n t i ế p p h ả n á n h đ ố i t ư ợ n g , l à m c h o t ừ g ọ i

tê n sự vật một cách gián tiếp (thường thống qua hình tượng hoặc nét đặc th ù cửa nó), thỉ người ta bảo nghỉa đó là nghĩa ch u y ển tiếp (hay còn gọi là nghĩa bóng).

Chẳng hạn, xét từ bụng trong tiến g Việt. Từ này có một nghĩa là ,1ý nghỉ, tin h cảm tâm lí, ý chí của con người". N ghĩa này là nghĩa chuyển tiếp (nghĩa bóng). Người Việt thường nói ; b ụ n g hảọ dạ ; suy bụng to ra bung người ỉ con người tót b ụ n g ; ...

Trong khi đó, nghia t r ự c tiếp c ủ a từ bụng phải là : "bộ phận cơ t h ể người, động vật, t r o n g có chứa ruột, d ạ dày;..r (ví dụ, người ta vẫn nói : m ồ bụng moi g a n ; b ụ n g m a n g dạ chửa ỉ no bụng dói con m á t ỷ..).

b.4. N g h ỉa thường trực - kh ô n g thường trực

Lưỡng phân này dựa vào tiêu chỉ : nghĩa đang xét đ ã n ằ m tro n g cơ cấu ch u n g ổn định của nghĩa từ hay chưa.

Một nghĩa được coi ìà nghĩa thư ờ ng trực, nếu nó đ ã đi vào cơ cáu chung Ổn định của nghỉa từ và được nhận thức m ộ t cách ổn định, như n h a u trong các hoàn cành khác nhau.

Ví dụ : Các nghỉa đ ư a ra xét của từ chân, bụng, s á t,...đ ủ nêu bên trên, đéu là nghỉa thường trực. Chúng đ ă n à m t r o n g cơ cấu

nghĩa của các từ đó m ộ t cách r ấ t ổn định, thường trực.

Ngược lại, nếu có m ộ t nghỉa b ấ t chợt sinh ra tạ i m ộ t h oàn cảnh nào t r o n g quá trin h sừ dụng, s á n g tạ o ngôn ngữ, nd c h ư a hé đi vào cơ c ấ u Ổn định, vững chắc c ủ a nghỉa từ, thỉ nghỉa đố được gọi là nghĩa không thư ờ ng trự c của từ. Loại nghỉa này c ũ n g còn được gọi là n g h ỉa ngữ cành.

Ví dụ : T ên gọi áo trá n g chỉ cố nghỉa là "thấy thuốc" hoặc "nhân viên y t ế nổi chung” t r o n g n h ữ n g hoàn cảnh nđi n h ư :

Đ áy tôi sóng n h ữ ng ng à y nhản hậu n h á t M ỗi m ai h ồ n g á o t r á n g đén th ă m tồi.

(Chế Lan Viên)

175

Trong khi đo? ao trù n g tro n g hoàn cảnh nói sau đây lại không phải vậy :

Tôi vẽ xứ H u é chiêu mưa

E m ơi á o t r á n g bây giờ ở dâu.

(Nguyễn Duy)

N h ữ n g lưỡng phân t r ê n đây chưa phài là toàn bộ sự phân loại nghia của từ ; n h ư n g đó là những lưỡng phán q u a n trọng. Chúng sẽ được vận dụng như n h ữ n g tiêu chí cấn thiết t r o n g khi phân tích đ ể nhặn diện, chia tá ch các nghỉa của từ đa nghĩa cho hợp lí.

3.C. Dể xây dựng, p h á t tr i ể n thêm nghĩa của các từ, trong ngôn ngừ có nhiễu cách. Tuy nhiên, cố hai cách quan trọ n g n h ấ t thường gặp trong các ngôn ngừ là : chuyển nghia ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghía hoán dụ (metonymy).

c .l . Á n dụ :

Ẩn dụ là một phương thức chuyển tên gọi d ự a trên sự liên tưởng so s á n h những m ặ t, những thuộc tính... giống nhau giữa các đổi tượng được gọi tên.

Có th ể diễn giải định nghĩa này như sau :

Già sử t a có từ T là tên gọi cho đôi tượng Đj (và lẻ đương nhiên, T có nghỉa Sl).

Khi cẩn gọi tên cho m ộ t đối tượng Đ2 nào đó, m à người t a thấy giữa ĐI và Đ2 có n h ữ n g nét, những m ặ t nào đó giống n h a u , người ta cố thế dùng T để gọi tên luôn cho cả Đ2. Lúc này, một nghỉa S2 tương ứng được xác lập trong T.

Chúng t a nói rà n g ở đây đ ã diẻn ra một phép ẩ n dụ.

D I --- SI Đ2 ___________ S2

Ví dụ : từ CÁNH trong tiếng Việt, có nhiéu nghĩa. Khi định d anh cho cảnh chim ỉ cánh chuồn chuồn ỉ cảnh bướm... nó cổ nghỉa là : bộ phận dùng đ ể bay của chim, dơi, côn t r ù n g ; Ctó hinh 176

t í m , rộng bàn ; tạo thành đôi đối xứng ở hai bên th â n và có thể khép vào, mở ra.

Trên cơ sỏ so sánh nhiéu sự vật khác có hình d ạng tương tự (hoặc người Việt liên tường và cho là chúng tương tự nhau) người ta đá chuyển CÁNH sang gọi tên cho những bô phận giống hình c á n h chim ở m ộ t số vật : c ả n h m ảy bay, cảnh quạt, cánh hoa ; cánh chong chóng, cánh cửa, ngôi sao nă m cánh ; kẽ vai sát cánh đ ố u tra n h, cánh tayỉ cánh buồm ; cánh rừng, cánh dòng, cánh quán ... (những tên gọi sau này đã khác rá t xa so với cánh chim).

C.2. H o á n d ụ

Hoán dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa t r ê n mói liên hệ lôgic giữa các đói tượng được gọi tên.

Định nghĩa này có t h ể được thuyết minh lại như ‘sau :

Giả sử ta có từ T là tên gọi của đối tượng ĐI và từ này có nghỉa Sl.

Khi cán gọi tên cho một đói tượng Đ2 mà giữa D2 với Đ I có mối liên hệ lôgic nào đó (như liên hệ giữa bộ phận với toàn th ể ; giữa nguyên liệu với s ả n phẩm tạo th à n h chẳng hạn) th ì người ta có th ể dùng T đ ể gọi t ê n luôn cho cả Đ2. Lúc này từ T được xây d ự n g thèm, được cấp thêm cho một nghỉa S2. Người t a bào như t h ế là đã có một phép ch u y ển nghỉa hoán dụ.

Ví dụ : vụ n g vồ v a i (áo) tài vả n á c h (áo)

ỏ đây, tiếng Việt đ ã lẫy bộ phận thân th ể đ ể gọi tê n bộ phận t r a n g phục tương ứng.

C . 3 . C ơ s ở đ ể t h ự c h i ệ n c á c p h ư ơ n g t h ứ c c h u y ể n n g h ỉ a t r o n g

các ngôn ngữ r á t đa dạng. Mặc dù vậy, đây củng chính là điếm gặp gỡ nhau nhiéu n hất giữa các ngôn ngữ (so sánh từ i v i n g - cái c ả n h - tro n g ti ế n g Anh với từ c á n h t r o n g t i ế n g Việt hoặc từ ' kb a l - cái đấu - trong tiếng K hmer với từ.d à u trong tiẽng Việt...

c h ẳ n g hạn).

Việc miêu tá đầy đù và tỉ mỉ các C0 sở chuyển nghla ấy cẩn phải đưẹc d ành cho những khảo sát riêng.

177

Một phần của tài liệu Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt (Trang 170 - 177)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(307 trang)