1. V ai tr ò c ủ a c h ứ v iế t
Ngôn ngừ âm th a n h tro n g m ột thời gian r ấ t dài đ ã trở thành công cụ duy n h á t đ ể con người có th ể tru y én đ ạ t cho nh au những k inh nghiệm s ả n x u ãt và đấu tranh. Tuy nhiên việc sử dụng ngôn n g ữ âm th a n h không phải không có n h ữ n g hạn chế n h ấ t định. Khi hai người giao tiếp bằng lời, ành hưởng c ủ a ngôn ngữ âm thanh chỉ có hiệu lực tro n g m ột phạm vi n h ấ t định. Ngoài phạm vi ấy, người này không th ể nghe được tiếng nói của người kia. Như vậy là ngổn ngữ â m th a n h có sự hạn c h é n h á t đ ịn h uè m ặ t không g ia n . M ặt khác, "lời nói giố bay”, mỗi lời nói chỉ được thu nhận
vào đúng lúc nó được p h á t ra. H ế t thời điểm ấy, nó không tổn tại nử a. Chính vi t h ế mà đến ngày nay chúng t a không còn nghe được tiế n g nói của các bậc a n h hùng dân tộc như T rấn H ưng Đạo, Lê Lợi, N guyễn Trăi, Q uang T ru n g [3]. Xét vé m ặ t này, ngôn ngữ â m th a n h cũng không vượt qua dược cái hố ngăn cách của th ờ i gian.
Để khác phục hai m ặ t h ạ n chế đđ của ngôn ngữ â m th an h , con người đ ã tim r a một hình thức thông tin mới : thông tin bàng chữ. N hư vậy, chữ viết r a đời do n h u cẩu thông tin liên lạc xét v ề m ặ t không g ia n và nhu cáu truyén đ ạ t nh ữ n g kinh nghiệm sản x u ấ t và đẩu tr a n h xét về m ặ t thời gian.
Chữ uiét là m ột hệ thóng k í hiệu đồ họa được sử dụr.g d ể có đ ịn h hóa ngôn ngữ ă m th a n h. Chức n ă n g của chữ viết, vi vậy, là đại diện cho lời nói. So với lời nói thì chữ viết x u ất hiện sau. Vì vậy chữ viết tấ t phải phụ thuộc vào lời nối. Khi giữa lờ. nói và chữ viết không cổ sự p h ù hợp n ữ a thì phài cải tiế n chữ /iết chứ k h ô n g phải có tìm cách p h á t â m theo chữ viết hiện hànl, bởi vi làm như vậy là "ngược", chẳng k h ác nào sừa đẩu cho vừa mũ, sừa ch ân cho vừa dép, sử a ngxlời cho vừa q u ầ n áo.
2. C ác k iể u c h ứ v iế t a) Chữ viết g h i ý
L à chữ viết cổ n h ấ t của loài người, chữ viết ghi ý kiông có q u a n hệ với m ặt â m th a n h m à chỉ có q uan hệ với m ặ t ý nghía của ngôn ngữ. Quan hệ giữa ý và chữ ở đây là trự c tiếp.
chữ --- --- ý
Ví dụ đ iể n hình n h ấ t vê chữ viết ghi ý là các chữ số, các d ấ u : 1, 2, 3, = , V, Khi ta viết, ví dụ, số 1, người Viậ, người N ga, người Pháp, người Anh, người K hm er đéu hiểu, m ặc cù người mỗi nơi p h át âm m ột khác : người Việt p h át âm là nmột', người N g a - [adin], người Anh - [wan] (one), người K hm er - [nuoi].
Thông thư ờng mỗi m ộ t chữ ghi ý đéu biểu thị trự c tiếp nội dung, ỹ nghĩa của m ộ t từ. Do đổ, vé nguyên tác, có bao ih ié u từ p h ả i đ ặ t ra bấy nhiêu k í hiệu d ể ghi. Số lượng từ của irột ngôn
ngữ tuy không vô h ạ n n h ư n g r á t lớn vỉ vậy số lượng kí h iệ u để biể u thị ý nghỉa của nó sẽ nhiéu vô kể, tro n g khi dó thì k iả nản g ghi nhớ của bộ ốc con người lại có hạn. Đây là điêu bất ti ệ n cơ bản, là hạn c h ế chính của chữ viết ghi ý.
b) Chữ viết g h i ảm
Chữ viết ghi âm không qu an tâ m đến m ặ t nội dung, ý nghĩa của từ m à chỉ ghi lại chuỗi âm th a n h của từ đđ. Chữ viết g h i âm là đại diện của ngữ âm chứ không phải của ý nghỉa. Quan h ệ giữa chữ và ý ở đây là m ộ t q u a n hệ gián tiếp m à â m là tru n g g ia n .
chữ --- â m --- ý
Chữ viết ghi âm được chia ra làm hai loại; chữ g h i âm tiết và chữ ghi ăm vị. 0 chừ viết ghi âm tiết, mỗi kí hiệu biểu thị một â m tiết Só lượng âm tiết so với 30 lượng từ thì ít hơn nhiéu, vi vậy chừ ghi â m tiế t đơn giản hơn hẳn chữ ghi ý. Đói với chữ ghi ả m vị, mỗi kí hiệu biểu thị m ột â m vị. Q uan hệ giữa ảm vị và kí hiệu là qu an hệ 1 - 1 đói vói m ột hệ thổng chử viết lỉ tưởng. Khi q u a n h ệ này bị thay đổi, ví dụ m ột âm vị có nhiéu cách ghi hoặc nhiéu â m vị chỉ có m ột cách ghi, thỉ phài đ ặ t vấn đé cải tiến chữ viết cho phù hợp với hệ th ố n g â m vị.
So với chữ viết ghi ý, chữ viết ghi âm, n h ẫ t là chữ ghi âm vị, tiế n bộ hơn nhiểu. Ưu th ế đ ặc biệt của kiểu chữ viết này là ở chỏ sổ lượng kí hiệu ghi âm được giảm xuống nhiéu lần vì số lượng â m vị c ủ a m ột ngôn ngữ th ư ờ n g chi nằm tro n g khoảng trên l ồ và dư ới 100 (theo P.X.Kuznêxov), do đó con người có th ể tiế t kiệm được sức lực và thời gian tro n g việc học đọc, học viết.
II. CH ÍN H TẨ VÀ MỘT s ố ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUẨN CH ÍNH TÀ
Chính t à là sự chuẩn hóa hỉnh thức chữ viết của ngôn ngữ. Đó là m ột hệ th ố n g các quy tá c vể cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách d ù n g các d ấ u câu, lôi viết hoa...
C h u ẩn chính t ả có n h ữ n g đậc điểm chính sau đây [14]:
1. Đặc điểm đầu tiê n cùa chuẩn chính tả là tinh c h ấ t bắt buộc g ẩ n như tuyệt đối của nó. Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cù n g phải viết đ ú n g chính tả. Chữ viết có th ể chưa hợp lí n h ư n g khi đ â được th ừ a n h ậ n là chuẩn chính tả thì người cắm b ú t k h ô n g được tự ý viết khác đi. Ai cũng biết ràng viết ghẽ, ghen k h ô n g hợp lí v à tiết kiệm b ằ n g gé, gen nhưng chỉ có cách viết thứ n h ấ t mới được coi là đúng chính tả. v ì vậy nói đến chuẩn chính t ả là nối đến tính c h ấ t ph áp lệnh. T rong chính tà không có sự p h â n biệt hợp lí - không hợp lí, hay - dở m à chi có s ự phân biệt
đ ú n g - sai, không lỗi - lỗi. Đói với chính t à yêu cáu cao mhát ]à cách viết th ố n g nhất, th ố n g n h ấ t trong mọi vân bàn, mọi người, mọi địa phương.
2. Do c h u ẩ n chính tả có tín h chẫt bát buộc gán như tu y ệ t đói cho n ê n nó ít bị thay đổi như các chuần m ực khác của ng<ôn ngữ (n h ư chuẩn ngữ âm , chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp). N(ói cách khác, chuẩn chính tà có tín h chất ồn d in h, tín h chẵt cổ h ữ u khá rõ. Sự tổn tại n h ã t n h ấ t h à n g th ế kỉ của nó đã tạo nên áni tượng vé m ộ t cái gì "bất di b ấ t dịch", m ột tâ m lí rấ t bảo thủ. Chính vi t h ế m ậc dù biết rằ n g cách viết iẽn ngỉ hợp lí hơn nhưng đối với c h ú n g t a nó r ấ t "gai mất", khó chịu vì t r á i với cách viết từ bao đời nay. M ật khác, do tín h chất "trường tổn" này mà chính t à th ư ờ n g lạc hậu so với sự p h á t triể n cùa ngữ âm . Sự mâu th u ẫ n g iữ a ngữ âm "hiện đại" v à chính t à "cổ hủ" là một tro n g những n g uyên n h â n chính làm cho chính tà trở nên rác rối.
3. N gữ âm p h á t triển , chính t à không th ể giữ mãi tín h c h ấ t cổ hữu c ủ a m ìn h m à d ầ n d ẩ n cũng cổ một sự biến động n h ấ t định.
Do đó, bên cạn h chuắn m ực chính t ả hiện cđ lại có th ể x u ấ t hiện m ộ t cách viểt mới tổn tại song song với nó, ví dụ ; p h ẩ m 20, a n h z ủ n g bên cạn h p h ẩ m giá, anh dũng, trau dòi b ên cạnh tra u g iỗ i, d ò n g nước bên c ạ n h giòrtg nước, d à n h cho đống thời với g ià n h cho, v.v...T ình, tr ạ n g có n h ié u cách viết n h ư vậy đòi hỏi phài tiến h à n h c h u ẩ n hóa chính tả.
III - T ÌN H H ÌNH CH Ữ VIẾT VÀ C H ÍN H TẤ CỦA TA H IỆ N NAY
A . Đ á n h g iá c h u n g
Chữ viết của ta có tê n là "chữ quốc ngữ". Chữ quốc ngữ là chữ ghi â m vị, vì vậy, về m ặ t lí thuyết nó tiến bộ m à vể m ặ t th ự c tiễ n thì nó dễ học, dẻ nhớ. H ơn nữa, nếu so với các thứ chữ ghi â m k h ác n h ư chữ Anh, chữ P h á p thi chữ quổc ngữ dể học hơn h ẵ n do g iữ a â m và chữ không có m ột khoảng cách q u á xa
Tuy nhiên tro n g chữ viết v à chỉnh tả cùa ta hiện nay vần đan g có m ột sổ m ặ t hạn chế đáng lưu ý.
1. T rong chính tà hiện nay đ a n g có những trư ờ n g hợ p cũng m ộ t ă m vị n h ư n g dược viết tù y tiệ n theo hai cách kh á c n h a u. Đó là cách v iế t lu n g tu n g Hy và d/gỉ. Ví dụ h y /h i sinhy n iị/m ỵ d â n, kì/kỳ, lí/lý, giãildài, giò/dò, giàn/dàn, giây/dảy, giôldô, d ă m lg iă m , ... Dây là hai trư ờ n g hợp được viết không th ố n g n h ấ t ở nhiéu người, th ậ m chi ngay tro n g m ột người ở n h ữ n g lúc khác nhau, những ván bản khác nhau.
Ngoài hai trư ờ n g hợp trê n , còn m ộ t số trư ờ n g hợp khác củng khồng có sự tương ứng 1 - 1 giữa â m vị và cách th ể hiện n h ư n g có nguyên tấ c chính t à rỏ ràng, do đố kh ô n g g ả y nên cách viết lu n g tu n g, ví dụ gh và g; k, c và <7,...
2. Một tìn h hinh đ á n g quan tâ m n ữ a là cách viết không th ố n g n h ấ t đối với n h ữ n g âm tiế t khó xác định m ột chuẩn mực p h á t âm cụ th ể, tức là n h ữ n g tiếng chưa có cách p h át âm ổn định và n h ữ n g tiếng có đến vài ba biến th ể p h á t â m địa phương khác n h au , ví dụ : trưnglchưng bày, cay xè/sè, công sá/xá, bảy/báyy g ià u ỉg iầ u , lỉn h llâ n h , th ậ tlth ự clth iệt, nhát/nhứt,...
3. Một vấn đé khác không liên q uan đến ngữ âm nh ư n g cũng n ả m trong phạm vi chính tả là cách viết hoa tùy tiện.
- Viết hoa tên người : P han Vũ D iém H ằng, P han vũ d iém H ằ n g hay P han vù D iẻni H àng ?
- Viết hoa tên đất : H ả i P hòng hay H ải phòng, K iẻn G iang hay K ién g ia n g ?
- Viết hoa tê n các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp : Bộ Giao th ô n g Vận tà i, bộ Giao thông vận tải hay Bộ giao thông vận tài ? T rường Đ ại học Tồng hợp H à N ội, trường d ạ i học Tổng hợp H à N ộ i hay
T rường dại học Tổng hợp Hà N ội ?
4. Ván đé viết tên riêng nước ngoài (tện người, tê n đ ãt) v à các t h u ậ t ngừ khoa học kỉ th u ậ t lại càn g rối ren. Các tê n này vào các văn b ả n tiế n g Việt thư ờng được viết theo nhiéu cách :
- Dịch nghía : biển Đen (hoặc Hắc Hài), M ủ i Hảo Vọng - Chuyển tự M ocnea —* Moskưa
- Viết nguyên d ạ n g chữ gốc Ferdinand de Saussure - Phiên âm :
+ Trực tiếp : N apồlêông, Mêhicô
+ Qua một ngôn ngừ k h ác : Ý dại lợit A n n a K h a Lệ N in h (qua H án - Việt), Sêchpia (Shakespeare) (qua Anh),...
5. Cuối cùng là ván đ é d ù n g hay không d ù n g dấu nối : Hải - P hòng hay Hài Phòng, R u m a n i hay R u - m a - n i , Tachiana hay T a - c h i- a - n a .
N h ữ n g c á c h v i ế t k h ô n g t h ố n g n h ấ t n h ư t r ê n đòi hỏi p h ả i đ ư ợ c
chuần hóa càng n h a n h c à n g tót.