NGUỒN GỐC CỦA NGÔN N GỮ

Một phần của tài liệu Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt (Trang 33 - 37)

1. K hông phải chỉ có chúng t a hôm nay mới tự hỏi : ngôn ngữ của con người r a đời từ đâu ? nhờ ai, nhờ cái gi ?... Việc đ ặ t những vấn đễ đại loại như t h ế và lời giải đáp cho chúng, thực ra đ ã có không ít v à cố từ lâu, th ậ m chí từ xa xưa.

Khi đức tin vào sức m ạ n h sáng tạo vạn n ả n g nơi Thượng Đế bị đổ vỡ (vỉ chẳng bao giờ có Thượng Đế cà) thl không ai còn nghỉ r ằ n g T hư ợng Đ ế đ ă tạo r a loài người chúng t a và cho t a ngôn ngữ đ ể t a biết nói n h ư biết thở vậy.

Ngưdi t a cũng đ ả cố gắn g đi tìm nguồn gốc ngôn ngữ ở tr ầ n gian, nơi ngôn ngữ đ a n g tổn tại và hoạt động. T hế là các giải th u y ế t n h ư : th u y ế t tư ợ ng thanh, thuyết vể tiếng kêu động vật, th u y ế t về tiễ n g kêu tro n g phối hợp lao động, th u y ế t cảm th á n bộc lộ tâ m lí tìn h cảm, th u y ế t quy ước xã hội... lấn lượt x u ấ t hiện.

N gày nay, bình tĩn h m à xét, các già th u y ế t đó đêu có p h ẩ n đúng của nố, n h ư n g tiếc thay, chí đúng được với m ột vài sự kiện hoặc hiện tư ợ ng ngôn ngữ m à thôi. Nhỉíi n hận n h ư th ế vễ nguổn gốc ngôn ngữ, t h ậ t chẳng k h ác nào thấy m ột vài cây đ ã vội k ế t luận cho rừ n g bởi vì "thẵy cây m à chẳng thấy rừng".

2. Với sự ra đời của triết, học duy vật biện chứng, vấn đé nguốn góc ngòn ngữ được xem xét và ph ân tích một cách to à n diện hơn, khoa học và hợp lỉ hơn : con người là chủ thể sá n g tạo v à sử dụng ngôn ngử ; vậy phái tim hiểu sự r a đời của ngôn ngữ gán lién với nghiên cứu nguổn gốc con người cả trông quá trìn h phát sinh gióng nòi lẫn quá trìn h p h á t sinh và phát triể n của mói cá thể.

Các kết quả nghiên cứu vê triế t học, sinh v ậ t học, khảo cổ học, sinh lí học th ầ n kinh và ngôn ngữ học... kết luận r ằ n g lao động đã làm p h át sinh, p h át tr i ể n loài người và làm p h át sinh ngôn ngử tro n g quá trin h đó.

2. a. H àng triệu năm trước đây, tổ tiên của ch ú n g t a vốn là m ộ t loài vượn người sống tr ê n cây tro n g những cánh rừ ng tién sử. Do nhiéu biến động của t ự nhiên, n h ữ n g cánh rừ n g ẫy bị tiêu diệt. Thức án tr ê n tá n g cây cao ngày càng trở nên khó kiếm. Loài vượn người ấy buộc lòng phải rời ngọn cây cao (vốn là nơi trú ẩn, sinh sống từ lâu đời) xuống đ ã t đi lang th a n g kiếm ăn.

T rên m ặ t đất, sự di động chủ yếu không còn là leo trèo như tr ê n cây nữ a ; đã thế, kẻ th ừ lại nhiéu hơn... Việc tìm kiếm thức án và tự vệ để sinh tồn... đ ã buộc loài vượn người này tậ p dẩn được cách d i bàng hai chi sa u và đ ứ n g th ả n g m ìn h lên. Cái bàn lé tro n g quá trìn h chuyển biến từ vượn th à n h người chính là việc đ ứ n g th ả n g m ình lên và đi b à n g hai chân đó. Để có được d áng đ ứ n g th ẳ n g lên, loài vượn người xưa kia đ ă phải Mtậ p đi" hàng n g h ìn năm chứ không đơn giàn như m ột em bé tậ p đi bây giờ, chi độ m ộ t th á n g là xong.

T h ế là hai tay con vượn người được giải phóng. Đồi chân bây giờ hoàn toàn đ àm đương việc đi lại. Đôi tay ngày càng trở nên khéo léo hơn, biết sử dụng các vật sẵn có làm công cụ tự vệ, kiếm ản ; và quan trọ n g hơn : nó biết chễ tạo ra công cụ lao động. Con vượn người đã chuyển dần th à n h con người vượn rỗi th à n h người (người nguyôn thủy).

D á n g đứng th ả n g cũng là m cho tầ m m á t của tổ tiê n chúng t a * được rộng và x a hơn ; đồng thời lóng ngực Ĩ1Ở hơn và những cơ q u a n của bộ m áy p h át âm có điéu kiện phát tr i ể n hơn.

M ặ t khác, có công cụ tro n g tay, n h ữ n g con người tiể n sử đó kiếm được nhiểu thức ân hơn và chuyển dẩn từ đời sóng ãn thực

vật (cây, quả, củ, rễ...) sa n g đời sống án th ịt. Thêm vào đó, việc tìm ra và sử dụng được lửa cũ n g đã khiến họ chuyển từ â n sống s a n g ă n chín. Một hệ q u ả q u a n trọ n g đã diễn ra, thức ăn chín, m ềm khiến xương h àm người t a không cắn phải to th ô n h ư trước n ữ a ; lói cằm (phẩn trước xương hàm dưới) vểnh ra rõ dấn.

Tuy nhiên, tro n g số các biến đổi vễ m ặ t sinh học của con người, sự tiến bộ cùa bộ não là quan trọng nhát. Nhờ lao động, nhờ ăn thịt, bộ não của tổ tiên chúng ta cũng phức tạ p dẩn lên ; những p h ấn vỏ não trự c tiếp liên q u a n đến tiếng nói n h ư thùy trá n , thùy th á i dư ơng và p hẩn dưới thùy đinh, p h át triể n mạnh. K ết cục là so với n h ữ n g người bà con a n h em họ c ủ a tổ tiên chúng ta, bộ não con người ngày n a y (tính th e o tỉ lệ giữa trọ n g lượng của não với trọ n g lượng toàn th â n ) lớn. hơn khỉ đ ộ t 10 lần, hơn đười ươi 6 lẩn, hơn khỉ đen 2 lán và hơ n vượn 4 lẩn.

N hư vậy, lao động đ ã tạo r a con người và tạo ra n h ữ n g tiền đề thứ n h ấ t vê m ặ t s i n h học đ ể ngôn ngữ có th ể p h á t sinh. Có t h ể nói lao động đ ể chuẩn bị v à "tạo cơ sở vật chất" đ ể loài người n h ữ n g cơ quan thích hợp cho việc sàn sinh tiếng nói.

2.b. C ũng chính lao động đ ả tạo ra n h â n tó x ã hội đ ể ngôn ngừ p h át sinh. Lao động đ ã liên k ế t con người th à n h n h ữ n g b ắ y đàn, những cộng đổng và vễ sau th à n h xã hội có tổ chức. M uốn cùng chung sứ c đ ể làm việc gì đó, người t a cần phải thỏa th u ậ n với n hau là sẽ làm gì, làm như t h ế nào... N hữ ng điéu "biết được" vể th ế giới xung quanh, những kinh nghiệm tro n g lao động c ẩ n phải được th ô n g báo cho n h a u từ người này sa n g người khác, từ th ế hệ này sa n g th ế hệ khác...

Đến đây th ỉ con người (dù là người cổ n h ấ t) đ ã khác con vặt vé chất. Người ta đặ^đến lúc th á y "cấn phải nói với n h a u m ộ t cái gi đó" bởi vì họ đ ã có cái càn p h ả i nói với nhaucó p h ư ơ n g tiện d ể nói vói nhau. P hương tiệ n ấy chúng t a gọi là ngôn ngừ. Vậy không có ai khác, chính lao động đ ã s á n g tạo r a con người v à ngôn ngữ c ủ a con người. Lao động đ ã làm cho bộ óc của con người cổ xư a b iế t h o ạt động "theo kiểu người" và cđ m ột công cụ v ừ a để tiến h à n h n h ữ n g h o ạt động đó, vừa làm phong phú hđa n ó , nân g nó lên "trỉnh độ của con người". Đđ là ngôn ngữ.

2.C Tự bản chất của m ình, từ khi mới p h át sinh, ngôn ngữ vốn là cồng cụ, là phương tiện đ ể con người giao tiếp với nhau Thế nhưng, lúc đấu nó chưa phải là ngôn ngữ như chúng t a đang có hòm nay ; m à là thứ ngôn n g ữ chưa phân th à n h â m tiế t rõ ràng, bời vỉ cái lưỡi, cái cằm và hàm dưới, hệ dây thanh... chưa phù hợp, th u ấ n th ụ c với công việc mới mẻ, đấy phức t ạ p - công việc phát tiế n g nđi - này ; thậm chí có bộ phận còn đan g trê n đường hoàn th iệ n dán.

Tuy vậy, người ta khồng đợi cho mọi bộ phận cấu âm p h át triển t h ậ t hoàn chỉnh rổi mới nối với nhau. N hữ ng tiếng nổi còn lẫn, còn nhòe, và ú ớ đó đ ã được phối hợp với các động tác, dáng vẻ của cơ th ể, m ặ t mũi, vai, tay, chân (n h ấ t là đôi tay) để "phát biểu"

ý nghỉ, tìn h cảm của họ. T h o ạt đẩu tiếng nói của con người chưa khác các điệu bộ bao nhiêu. (Diều này còn để lại n h ữ n g tà n dư cửa nó tro n g m ột số ngôn ngữ mà hiện nay t a còn thấy được.

C hẳng hạn, tro n g ngôn ngữ dân tộc Evê, người t a không dùng m ộ t từ d i mà lại dùng nhiểu từ khác nhau, miêu tả các kiểu đi k h ác nhau.

dô bô hô bô hô : đi n ặ n g nể, phục phịch dô dê dê : đi m ột cách vững vàng dô bu lữ bu la : đi n h a n h bừ a đi

dô p i a p i a : đi rón rén

dò gô vu gô vu : đi khập khiễng, đ ẩ u chúi xuống...)

Dần dẩn, con người sử d ụ n g tiếng nói th à n h th ạ o hơn và bỏ x a nhừng cách "phát biểu" b ằ n g cử chỉ, động tác ; bởi lẽ ngôn ngữ th à n h tiếng của họ ngày càn g mạch lạc hơn, hoàn thiện hdn, trở th à n h hệ thống tín hiệu th ứ hai, hệ thống "tín hiệu loan báo các tín hiệu".

Hoạt động tín hiệu là hiện tư ợ ng chung cho mọi loài động vật tr ê n hành tin h chúng ta ; nhưng con người, với ngôn ngữ của m in h đã cố thêm m ộ t phương thức mới, khác hẳn vể chất. Nhờ có ngôn ngữ này mà từ đây, ngay tro n g đêm đen, con người nghe được (tức là nh ận được) m ộ t tín hiệu cd nghĩa "mặt trời" chẳng h ạn, thi anh ta đ ã nghĩ tói , đã hỉnh dung r a m ặ t trời rỗi, không c ấ n phải đợi cho đến khi n h ìn tậ n m ắ t nữa.

37

Đối với đ ộ n g vật, chỉ có n h ữ n g kích thích trự c tiếp vé thị giáct th ín h giác, k h ứ u giác, xúc giác m ới trở th à n h tín hiệu kích thích được. N gược lại, đói với con người, ngoài n h ữ n g th ứ đó, người ta còn các t ừ tro n g ngôn ngữ đ ể th a y th ế cho chúng. Đến đây thỉ cái gọi là n g ô n ngữ th ự c sự h ìn h th à n h và không bao giờ rời xa loài người nữa.

Một phần của tài liệu Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt (Trang 33 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(307 trang)