Dung sai lắp ghép

Một phần của tài liệu HƯỚNG DẪN ĐỒ ÁN CHI TIẾT MÁY (Trang 232 - 235)

Chương 9. BÔI TRƠN VÀ DUNG SAI LẮP GHÉP

9.2. Dung sai lắp ghép

Để truyền mô men xoắn từ trục đến các bánh răng và ngược lại, người ta dùng then hoặc then hoa. Đối với các hộp giảm tốc thường sử dụng then bằng.

Bánh răng trụ không di động trong các hộp giảm tốc lắp trên trục theo kiểu lắp H7/js6 khi chịu tải nhẹ và bộ truyền không quan trọng; H7/k6 khi chịu tải vừa có thay đổi và va đập nhẹ; H7/n6 khi chịu tải nặng có va đập.

Đối với các hộp giảm tốc bánh răng và trục vít, khi lắp bánh răng và bánh vít lên trục thường dùng kiểu lắp chặt H7/k6 hoặc H7/m6. Đối với các kiểu lắp trên, khi lắp bánh răng vào trục rất khó đặt trùng phần rãnh then trên bánh răng và trên trục. Vì vậy, để lắp được dễ dàng nên chọn phần đầu của đoạn trục lắp bánh răng làm phần dẫn hướng với kiểu lắp H7/h8.

Bánh răng và bánh vít cần được lắp đúng vị trí đã định. Khi lắp lắp bánh răng và bánh vít lên trục thì cần phải có biện pháp đơn giản để khống chế sự dịch chuyển bánh răng theo phương dọc trục như sử dụng vít, bạc hay gờ trục.

Trong hộp giảm tốc cũng thường dùng bạc cách và mặt mút của vòng ổ để cố định bánh răng trên trục. Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo sự tiếp xúc chính xác giữa các mặt mút bánh răng, bạc và vòng ổ. Muốn vậy chiều dài bạc cần được đảm bảo chính xác và phải dài hơn đoạn trục lắp bạc.

9.2.2. Điều chỉnh bánh răng theo phương dọc trục

Sai số về chế tạo các chi tiết theo kích thước chiều dài và sai số về lắp ghép làm cho vị trí bánh răng trên trục không chính xác.

Trong hộp giảm tốc bánh răng trụ, để bù vào sai số đo thường lấy chiều rộng bánh răng nhỏ tăng lên 10 so với chiều rộng bánh răng lớn.

Đối với bộ truyền trục vít và bánh răng côn, sai số về chế tạo và lắp ghép làm sai lệch ví trí tương đối giữa bánh vít và trục vít cũng như giữa các bánh răng côn nhỏ và lớn. Sai số này khi vượt quá giá trị cho phép làm tăng mòn, tăng ma sát và tăng ứng suất tập trung dọc theo chiều dài răng. Để khắc phục điều đó, có hai phương pháp điều chỉnh để đảm bảo độ chính xác về ăn khớp là: Dịch chuyển trục cùng với các bánh răng đã cố định trên nó nhờ bộ đệm điều chỉnh có chiều dày khác nhau lắp giữa nắp ổ và vỏ hộp hoặc có thể dùng vít điều chỉnh.

9.2.3. Lắp các chi tiết khác

Kiểu lắp của các chi tiết quay khác lên trục như ổ lăn, vòng chắn dầu, bạc chặn….và các chi tiết như cốc lót với thân hộp giảm tốc có thể tham khảo theo bảng 9.1 và hình 9.1.

Bảng 9.1. Một số kiểu lắp phổ biến và phạm vi sử dụng

Kiểu lắp Đặc tính và phạm vi sử dụng

H7/h6

Dùng cho các mối ghép cần di chuyển dọc, không quay, mối ghép được cố định khi làm việc nhưng các chi tiết dễ dàng dịch chuyển với nhau khi điều chỉnh, chẳng hạn lắp khớp nối lên trục, cốc lót đỡ ổ lăn lên vỏ hộp, vòng ngoài ổ lăn, nắp ổ lăn, bánh đai, đĩa xích…

H7/k6

Đây là kiểu lắp theo hệ thống lỗ, lắp trung gian. Dùng cho các mối ghép không yêu cầu tháo lắp thường xuyên, tháo không thuận tiện hoặc có thể gây hư hại các chi tiết được ghép, chẳng hạn lắp bánh răng, vòng trong ổ lăn, đĩa xích lên trục, bạc chặn, vòng chắn dầu,…

H7/n6 Đây là kiểu lắp theo hệ thống lỗ, có khe hở. Dùng cho các mối ghép yêu cầu có độ đồng tâm cao, chịu tải trọng va đập và chấn động, các chi tiết được cố định phụ thêm để đề phòng quay và di trượt, chẳng hạn lắp bánh răng côn, bánh vít lên trục, vành bánh vít lên may ơ bánh vít…

H7/r6

Dùng cho các mối ghép không cần cố định phụ thêm, các mối ghép chịu tải trọng lớn, chẳng hạn lắp vành bánh vít lên may ơ, lắp bánh răng lên trục quay chậm của hộp giảm tốc tải nặng, lắp bạc lên lỗ bánh răng của hộp tốc độ. Trong sản xuất hàng loạt, kiểu này thường được dùng để lắp bánh răng, nửa nối trục, bánh đai, tang quay,… lên trục.

H7/js6

Dùng cho các mối ghép để tháo lắp, chẳng hạn lắp bánh răng, bánh đai, vòng định vị, khớp nối lên trục khi chịu tải trọng tĩnh và không va đập.

Ví dụ kiểu lắp và ghi kiểu lắp trên bản vẽ.

Hình 9.1. Ví dụ ghi kiểu lắp trên bản vẽ

Một phần của tài liệu HƯỚNG DẪN ĐỒ ÁN CHI TIẾT MÁY (Trang 232 - 235)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(245 trang)