VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ
6. Chích xơ búi trĩ
Phương pháp này được bắt đầu từ năm 1916, do Terrell tường trình kết quả chích xơ búi trĩ trên 128 bệnh nhân trĩ trong vòng 3 năm và đã mô tả phương pháp chích. Đây là người có công đầu tiên đưa phương pháp chích trĩ th àn h một phương pháp trị bệnh trĩ căn bản khoa học. Thủ th u ậ t tiêm xơ là làm m ất búi trĩ bằng cách tiêm chất hóa học vào búi
trĩ, tạo xơ ở đó, máu không đến được để nuôi búi trĩ, búi trĩ sẽ tự teo đi.
Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ th u ậ t phải là bác sĩ có kinh nghiệm với kỹ th u ậ t vững vàng mới cho kết quả tô"t và trá n h được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lốp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.
Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2.
Trong kỹ th u ậ t chích xơ cần chú ý một sô"
việc:
- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để trán h xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rấ t tô"t, ô"ng chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenolvà polidocanol.
- VỊ trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ. Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bơm chậm, trong lúc bơm thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là chích vào lốp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ
111
gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4 giò, 7 giò và 11 giờ.
Biến chứng:
- Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ th ắ t trĩ bằng vòng cao su th ắ t vùng chảy máu.
- Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hỢp chích quá sâu ở vị trí 11 giò - 1 giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo...
Hiện nay, phương pháp chích xơ búi trĩ được nhiều cơ sở y tê trong cả nước thực hiện với những loại thuốc và các kỹ th u ậ t chích xơ khác nhau.
Từ những năm 80 của th ế kỷ XX, trong khuôn khổ hỢp tác với các tổ chức Quốc tế, Bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng với sự tham gia trực tiếp của chuyên gia người Pháp đã triển khai phương pháp tiêm xơ các búi trĩ để điều trị các bệnh trĩ nội, các loại bệnh trĩ gây chảy máu với kết quả tôT. Tuy nhiên đối trĩ nội đã nặng và sa niêm mạc, trĩ ngoại hoặc trĩ hỗn hỢp, trĩ vòng, vì lo sỢ bệnh nhân bị đau đớn do tiêm hoặc gặp các biến chứng khác
như chảy máu sau tiêm, trĩ sa nên không được chỉ định. Thường chỉ định sử dụng các biện pháp thắt, cắt hay mổ song từ mỗi phương pháp cũng đều có thể gặp những bất cấp khác nhau.
Qua nghiên cứu về giải phẫu ô"ng hậu môn ở người bị bệnh trĩ người ta thấy rằng: búi trĩ giãn phồng lên, đẩy niêm mạc giãn theo, nếu cứ duy trì áp lực cao ở vùng ô"ng (như người mắc đại tràng mãn, phụ nữ mang th ai v.v...) sẽ làm các búi trĩ ngày càng to lên, có một khoảng cách giữa phần cơ, đám rối mạch máu và niêm mạc là m ất độ co. Giai đoạn đầu những búi trĩ căng máu bị vỡ chảy máu tươi khi đi đại tiện, nhưng giai đoạn sau, niêm mạc và những búi trĩ giãn dài sa xuông qua lỗ ngoài ô"ng hậu môn to dần, lùi xùi, tím sẫm.
Việc giãn như vậy phần lớn sẽ tạo th à n h túi da rìa hậu môn, rấ t khó có thể co hết lên được khi đã giãn rộng và bị đọng dịch.
Trên cơ sở đó, việc tiêm thuốc gây xơ trực tiếp vào búi trĩ và vùng quanh các búi trĩ có tác dụng rấ t tôt đốì với mọi trường hỢp trĩ nội, ngoại khi đang bị chảy máu, thuốic lan toả tới tận các nhánh nhỏ của đám trĩ đang giãn mỏng có tác dụng làm xơ thành mạch ở mức
1 1 3
độ cho phép, ngoài tác dụng làm xơ búi trĩ nó còn có tác dụng làm viêm xơ niêm mạc, tạo sự kết dính trở lại giữa ba phần cơ, mạch máu và niêm mạc, làm m ất đi tình trạng căng thẳng, dễ vỡ khi có áp lực nhưng vẫn có khả năng bảo tồn sự lưu thông mạch máu như chức năng sinh lý của hệ tĩnh mạch vùng ồ"ng hậu môn. Đây là một ưu điểm vượt trội so vối các phương pháp th ắ t và cắt, hoặc mổ. Vì khi cắt, th ắ t đã làm m ất chức năng lưu thông của các đám rôi mạch máu trong khi lưu lượng máu qua đây vẫn ở mức bình thường, do máu lưu thông sẽ dồn sang hệ thông tĩnh mạch khác, kết quả lại gây ra trĩ, tỷ lệ tái phát rấ t cao.
Hơn thê khi tiêm đủ liều và số lần đã làm co toàn bộ cả trĩ đã giãn, niêm mạc bị giãn, xơ dính nhau tạo th àn h khôi có hiệu quả rấ t cao đỐì vói trĩ và niêm mạc sa. Dưới tác dụng của thuốc, khối dính liên kết với khôi cơ vốh đã bị tách ròi do giãn lâu ngày tạo thành vành đai vững chắc, tăng cường khả năng co th ắ t của lớp cơ th ắ t hậu môn và cơ nâng hậu môn.
Hiệu quả cao và tỷ lệ tái phát rấ t thấp, chỉ vào khoảng 2%/2 đến 5 năm. Khi tái phát chỉ cần tiêm thêm từ 1 đến 2 lần là đảm bảo.
CHỮA BỆNH TRĨ BẰNG đ ô n g Y
1. Thực trạng phát sinh bệnh trĩ theo Đ ông y và bài thu ôc tiêu biểu
ở Việt Nam bệnh trĩ có tỷ lệ mắc bệnh khá cao từ 30-35% dân sô", đứng hàng thứ 3 trong cơ cấu bệnh hậu môn trực tràng.
Kết quả điều trị phụ thuộc vào chỉ định cho từng loại trĩ và mức độ nặng, nhẹ của bệnh.
Theo y học cố’ truyền, nguyên nhân phát sinh bệnh trĩ không chỉ do bệnh lý tại chỗ mà còn do yếu tô" toàn th ân như âm dương thiếu cân bằng, tạng phủ, khí huyết hư tổn, cùng vối thấp, nhiệt, phong, táo, ăn uô"ng, nghề nghiệp... gây ra.
Trĩ có nhiều thể tùy thể bệnh với các chứng trạng mà dùng bài thuốc chữa khác nhau:
T h ể th ấ p n h iệ t ở đ ạ i tr à n g
Triệu chứng. Đại tiện ra máu, sắc đỏ tươi, sô lượng nhiều hoặc ít, trĩ sa theo độ, đau nóng rá t hậu môn, đại tiện táo hoặc đau quặn bụng, mót rặn, đại tiện bí khó đi, tiểu tiện vàng, sẻn. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch
1 1 5
huyền, tế, sác.
Bài thuốc: Hòe hoa 15g, kinh giới tuệ lOg, chỉ xác lOg, hoàng bá lOg, trắc bá diệp (sao cháy) lOg. Sắc uống ngày 1 thang.
T h ể tỳ h ư k h ô n g n h iế p h u y ế t
Triệu chứng: Đại tiện ra máu tươi, sắc nhạt màu, lượng có thể nhiều ít khác nhau, kèm theo sắc m ặt kém tươi nhuận, hồi hộp mệt mỏi, ăn ngủ kém, phân táo lỏng th ất thưòng. trĩ sa. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế vô lực.
Bài thuốc: Hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 20g, bạch tru ậ t 12g, bạch linh 12g, đương quy 12g, trần bì 5g, mộc hương lOg, tiên hạc thả 30g, chế hoàng tinh 30g. sắc uô"ng ngày một thang.
T h ể k h í h ư hạ h ã m
Triệu chứng. Thường thấy ở bệnh nhân có tuổi, mắc bệnh lâu ngày, trĩ sa không tự co, kèm theo sa niêm mạc trực tràng. Chảy máu tươi khi đại tiện ít hơn, sắc nh ạt màu, kèm theo tinh thần mệt mỏi suy nhược, hụt hơi, ngại nói, sắc m ặt kém tươi nhuận, hồi hộp, váng đầu, ăn ngủ kém, đại tiện phân nát, tiểu tiện trong dài. Chất lưỡi n h ạt bệu, rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch trầm tế nhược.
Bài thuốc: Sài hồ 8g, bạch tru ậ t 12g, trần bì 6g, thăng ma lOg, đẳng sâm 15g, đương quy 12g, hoàng kỳ lOg, chích cam thảo 5g.
Các bài thuôh trên sắc uô"ng ngày 1 thang chia 3 lần trong ngày, uô"ng liền 3 tuần (21 ngày).
Lương y Vũ Quốc Trung 2. Dự phòng bệnh trĩ bằng y học cổ truyền
Trĩ là một trong những bệnh được biết rấ t sóm ở cả phương Tây và phương Đông, ó Trung Quốc, hơn 2000 năm trưóc đây, bệnh trĩ đã được ghi lại trong các y thư cổ như Nội kinh, Thần Nông bẳn thảo, Y tông kim giám.
Năm 1400, trong cuôh Ngoại khoa chính tông, danh y Trần Trực Công đã ghi lại phương pháp điều trị toàn diện bệnh trĩ của Y học cổ truyền. Người Việt Nam ta cũng biết đến bệnh trĩ rấ t lâu trước khi y học phương Tây xâm nhập. Các y gia lỗi lạc như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn ô n g đều đã đề cập đến căn bệnh này trong các trước tác của mình. Cho đến nay, cùng với sự ph át triển m ạnh mẽ của Y học cổ truyền, phương pháp dự phòng và điều
1 1 7
trị bệnh trĩ đã được nghiên cứu và phát triển rấ t phong phú.
N g u y ê n n h â n n à o g â y n ê n b ệ n h tr ĩ th e o y h ọ c c ổ tr u y ề n ?
Y học cổ truyền cho rằng đó là do các nhân tô" gây bệnh bên ngoài (ngoại tà) như phong, thấp, táo, nhiệt... xâm nhập vào cơ thế làm thương tổn tràng vị, khiến huyết mạch không đưỢc lưu thông, kinh lạc bị ứ trệ, thấp nhiệt tụ lại ở đại tràng gây nên. Đồng thời, sự phát sinh bệnh trĩ còn do các nhân tô" bên trong (nội nhân) làm rô"i loạn chức năng của các tạng phủ khiến âm dương m ất cân bằng, khí huyết hư nhược, huyết dịch không thông suô"t làm tĩnh mạch giãn to mà hình th àn h trĩ hạ. Như vậy, bệnh lý tuy biểu hiện ở ông hậu môn nhưng kỳ thực lại có quan hệ liên đới với toàn thân. Cụ thế các nhân tô" th u ận lợi cho sự phát sinh bệnh trĩ là:
- Do thế tạng và cấu trúc ông hậu môn, Y học cổ truyền gọi là “tạng phủ bản hư”.
- Do viêm nhiễm, đặc biệt là rô"i loạn tiêu hóa lỏng lỵ kéo dài, Y học cổ truyền gọi là
“cửu tả cửu lỵ”.
- Do yếu tô" nghề nghiệp phải ngồi nhiều,
đứng lâu, công việc m ang vác nặng nhọc.
- Do ăn uô"ng không hỢp lý, ăn quá nhiều các đồ cay nóng, cao lương mĩ vị, uốhg nhiều rượu, bia, cà phê, trà đặc...
- Do táo bón. Sách Ngoại khoa chính tông viết: “N hẫn đại tiện bất xuất, cửu vi khí t r ĩ ’.
- Do thai sản. Sách Y tông kim giảm viết:
“Hữu sản hậu dụng lực th ái quá nhi sinh trĩ giả .
- Do dâm dục th ái quá, nhập phòng khi say rượu.
D ự p h ò n g th ê n à o ?
Y học cổ truyền rấ t coi trọng các biện pháp dự phòng bệnh trĩ. Mục đích không chỉ để người khỏe không mắc bệnh mà người đã mắc bệnh thì bệnh cũng nhẹ, sau điều trị không tái phát và không có các biến chứng nặng nề. Một sô" biện pháp dự phòng cụ thể như sau;
- Phải thường xuyên rèn luyện thể lực bằng các hình thức như tập thể dục, luyện khí công dưỡng sinh, th ái cực quyền, yoga, đi bộ..., đặc biệt đốì với những người phải ngồi nhiều, đứng nhiều.
1 1 9
- Ăn uô"ng hỢp lý và vệ sinh, trán h ăn quá no, uô"ng quá nhiều, hạn chê các thức ăn cay nóng, quá béo quá bổ, không uô"ng nhiều bia rượu, nên ăn nhiều rau tươi và hoa quả các loại. Đặc biệt chú ý trọng dụng các đồ án thức uô"ng có tính thanh nhiệt nhuận tràng như cháo đậu xanh, đại tràng lợn, chuối tiêu, đu đủ, rau mồng tơi, rau lang, rau rệu, thanh long, nước cam, nưốc ép mã thầy, bột sắn dây...
- Tránh bị táo bón. Hàng ngày nên tập thói quen đi đại tiện vào một thời gian nhất định, tốt nh ất là vào sáng sớm sau khi mối ngủ dậy hoặc sau khi ăn điểm tâm. Thời gian đi không nên quá lâu, không xem sách báo hoặc nghĩ ngợi nhiều khi đại tiện. Dùng hô' xí
“bệt” tô't hơn hô' xí “xổm”. Sau khi đại tiện nên ngâm rửa hậu môn trong chậu đựng nước ấm là tô't nhất. Khi bị táo bón phải điều trị th ậ t tích cực trán h để trỏ thành “kinh niên”.
- Phải biết tiết chế tình dục, không nên ham muôn th ái quá. Sau khi uô'ng rượu và làm việc nặng nhọc không nên sinh hoạt chăn gối.
- Khi bị lỏng lỵ phải điều trị th ậ t tích cực, dùng thuốc sớm, đủ liều, đủ ngày, đúng phác
đồ, trá n h để chuyến thành thể m ạn tính kéo dài.
- Hàng ngày nên xoa bụng và day bấm một sô huyệt vị châm cứu. Cụ thể: dùng hai bàn tay đặt chồng lên nhau xoa bụng từ phải sang trá i theo chiều kim đồng hồ vói một lực vừa phải, mỗi lần 30-50 vòng, mỗi ngày 2 lần.
Kết hợp dùng ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa day ấn hai huyệt: Bách hội (nằm ở đỉnh đầu, là giao điểm giữa đường nối hai đỉnh vành tai khi gấp tai và đường trục dọc đi qua giữa đầu) và Trường cường (nằm ở đầu chót xương cụt), day theo chiều kim đồng hồ, mỗi lần từ 3 - 5 phút, mỗi ngày 2 lần.
- Nên tập vận động nhíu hậu môn lên mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 cái.
- Mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng khi tỉnh giấc và buổi tốì trước khi đi ngủ nên tập tư th ế phòng chông bệnh trĩ: đầu tiên, chọn tư th ế nằm ngửa, ở phần th ắ t lưng đặt một cái gối, đệm cao phần mông. Tiếp theo, nâng cao hai chân ở tư th ế bắt chéo như ngồi xếp bằng tròn. Khi nâng cao phần mông không dùng lực, thả lỏng cơ hậu môn, duy trì tư thê này trong 2 đến 3 phút, ớ tư th ế này, do mông cao hơn tim nên máu không ứ ở hậu môn trực
121
tràng, cơ hậu môn được thả lỏng tạo điều kiện cho huyết dịch lưu thông tô"t.
- Khi đói bụng nên tập tư thê yqga như sau: đứng thẳng hai chân, thân mình hơi nghiêng về phía trưóc, hai tay chông thẳng lên giữa bắp đùi, hít vào một hơi dài rồi từ từ thở ra đồng thòi bụng thót vào hết cỡ, kết hỢp với động tác nhíu hậu môn. Giữ trạng thái này và nín thở càng lâu càng tô"t. Tư thê này cũng có thể tập trong lúc ngồi thiền. Nó có tác dụng phòng ngừa bệnh trĩ rấ t tôt, ngoài ra còn góp phần trị liệu các bệnh lý sa phủ tạng, táo bón và di tinh. Vì tư th ế này tập trong lúc đói nên còn gọi là th ế “trống lòng” (uddiyana- banda).
Các biện pháp trên đây có ý nghĩa dự phòng bệnh trĩ rấ t tốt nếu được thực hiện một cách đầy đủ, thường xuyên, liên tục và đúng quy cách.