Chương 2 KINH TẾ CẤP NƯỚC CÔNG CỘNG
2.2 Các thành phần chi phí
2.2.2 Các thành ph ần chi phí của nước
Chi phí của nước được chia thành các thành phần sau:
• chi phí vận hành và bảo dưỡng của hệ thống cấp nước và phân phối nước
• vốn đầu tư;
• chi phí cơ hội;
• chi phí ngoại lai; và
• chi phí môi trường.
(chi phí ngoại lai là chi phí tiếp theo của chi phí hay lợi ích, hoặc chi phí cơ hội đơn giản trong nghĩa rộng hơn).
Hình 2.2 trình bày dưới dạng giản đồ tập hợp các thành phần tạo nên Tổng chi phí. Có 3 khái niệm quan trọng trong giản đồ đó: Tổng chi phí cung cấp; Tổng chi phí kinh tế và Tổng chi phí. Mỗi chi phí đó được tạo thành từ các yếu tố riêng biệt và cần được giải thích rõ thêm.
Tổng chi phí cung cấp
Tổng chi phí cung cấp bao gồm các chi phí liên quan tới việc cung cấp nước tới một đối tượng sử dụng không kể đến các tác động ngoại lai tác động lên những đối tượng khác hay các khả năng sử dụng khác. Tài nguyên nước mô tả các tác động ngoại lai với ý nghĩa là các điều kiện đó có tính chất của “sự sử dụng có ảnh hưởng qua lại”. Các cá nhân lấy nước sạch từ một môi trường mà sau đó họ đổ chất thải vào chính môi trường đó, dẫn đến việc sử dụng nước-không-bao-giờ-còn-sạch-nữa cho chính họ và những người khác. Theo cách nói kinh tế, những điều này được gọi là
“các tác động ngoại lai”. Tổng chi phí cung cấp được tạo thành bởi 2 thành phần riêng biệt: Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M) và Phí đầu tư cơ bản, cả hai cần phải được đánh giá theo Tổng chi phí kinh tế cho các đầu vào.
Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M)
Các chi phí này phát sinh do sự vận hành hàng ngày của hệ thống. Các chi phí đặc thù bao gồm phí mua nước chưa xử lý, điện bơm, công lao động, các vật liệu để sửa chữa, phí đầu vào để quản lý và vận hành bể chứa, hệ thống phân phối và nhà máy xử lý nước. Trong thực tế, những chi phí nào được gọi là Chi phí O&M và được tính như thế nào vẫn còn đang tranh cãi.
Phí đầu tư cơ bản
Phí này cần bao gồm phí sử dụng vốn (các chi phí khấu hao) và phí trả lãi để xây dựng các công trình như hồ chứa, nhà máy xử lý nước, các hệ thống dẫn và phân phối nước. Vẫn có một vài bất đồng trong việc tính toán Phí đầu tư cơ bản. Các phương pháp cũ dựa trên quan điểm kế toán lùi và tìm các chi phí gắn với việc hoàn trả dòng vốn đầu tư trước đây.
Hình 3.2. Các nguyên tắc cơ bản về chi phí của nước (GWP, August 1998)
Các phương pháp hiện đại tập trung vào quan điểm kế toán tiến và tìm các chi phí liên quan đến việc thay thế vốn đầu tư ban đầu bằng việc tăng các chi phí cận biên. Những chi phí này đi kèm với các Chi phí O&M để tạo nên các chi phí cận biên dài hạn.
Tổng chi phÝ cung cÊp Chi phÝ vèn
Chi phí cơ hội Các tác động kinh tế ngoại lai
Chi phÝ O&M Các tác động môi trường ngoại lai
Tổng chi phÝ kinh tÕ
Tổng chi phÝ
= Giá
trị sử dông bÒn v÷ng
Tổng chi phí kinh tế
Tổng chi phí kinh tế của nước là Tổng chi phí cung cấpđã được mô tả rõ ở mục trước, Chi phí cơ hội liên quan đến các khả năng sử dụng khác đối với cùng một nguồn nước, và các yếu tố kinh tế ngoại lai tác động đến những đối tượng sử dụng khác xuất phát từ việc sử dụng nước của một đối tượng xác định nào đó.
Chi phí cơ hội: Chi phí này đề cập đến một thực tế bằng việc sử dụng nước, một đối tượng sử dụng đang lấy mất cơ hội của một đối tượng sử dụng khác. Nếu đối tượng sử dụng khác đó có giá trị sử dụng nước cao hơn thì xã hội sẽ phải chịu những chi phí cơ hội do việc phân bổ không hợp lý nguồn tài nguyên này. Chi phí cơ hội của nước bằng 0 chỉ khi không có bất kỳ một khả năng sử dụng nào khác - tức là không có sự thiếu nước. Việc bỏ qua Chi phí cơ hội sẽ làm thấp giá trị của nước, dẫn tới sai lầm trong đầu tư, và gây ra sự phân bổ bất hợp lý nguồn tài nguyên này giữa các đối tượng sử dụng. Khái niệm Chi phí cơ hội cũng áp dụng cho những vấn đề về chất lượng môi trường mà sẽ được thảo luận kỹ hơn trong bài viết này.
Các tác động kinh tế ngoại lai: Nước là một nguồn tài nguyên liên tục biến động, nên việc sử dụng nước dẫn tới các ảnh hưởng ngoại lai lan tràn (có nghĩa là nước di chuyển từ nơi này sang nơi khác, nếu không được lấy và lưu trữ, người ta không thể dễ dàng sở hữu được nó). Những tác động ngoại lai phổ biến nhất đó là những ảnh hưởng gắn với tác động của sự nắn dòng tại thượng lưu hoặc việc thải chất ô nhiễm đối với người sử dụng nước tại hạ lưu. Những tác động ngoại lai còn do việc lấy nước quá nhiều từ các nguồn trữ nước phổ biến như hồ ao và nguồn nước ngầm, (những nguồn trữ nước phổ biến như các nguồn nước chung của làng, các tầng nước ngầm và hồ ao mà mọi người đều được sử dụng trừ khi có những cơ chế quy định không cho phép một vài người nào đó sử dụng hoặc phải trả thuế sử dụng) hoặc do các nguồn trữ nước đó bị nhiễm bẩn. Cũng có những tác động ngoại lai của sản xuất chẳng hạn như sản xuất nông nghiệp trong những vùng có hệ thống thủy lợi tưới tiêu tác động xấu tới các thị trường của nông nghiệp không có hệ thống thủy lợi ở vùng cao, hoặc buộc các thị trường đó phải thay đổi đầu vào. Cách tiếp cận kinh tế chuẩn mực đối với các tác động ngoại lai là xác định một hệ thống theo cách “nội hóa các tác động ngoại lai”. Trong bài viết này chúng tôi đã chọn cách tách riêng các tác động ngoại lai về môi trường và về kinh tế, nhưng vẫn công nhận rằng trong một vài trường hợp sẽ khó phân biệt chính xác giữa hai loại tác động này. Các tác động ngoại lai có thể là tích cực hoặc tiêu cực và việc xác định tính chất của từng trường hợp trong một bối cảnh sẵn có, dự tính được các tác động ngoại lai tích cực hoặc tiêu cực và điều chỉnh được tổng chi phí dựa theo những tác động này là rất quan trọng.
Các tác động ngoại lai tích cực xảy ra, chẳng hạn như khi việc tưới tiêu bề mặt đáp ứng được cả nhu cầu bốc hơi nước của cây trồng và nạp lại lượng nước cho tầng nước ngầm. Như vậy việc tưới trên bề mặt cung cấp hiệu quả “dịch vụ nạp”. Tuy nhiên, lợi ích thực của “dịch vụ” này sẽ phụ thuộc vào sự cân bằng tổng thể giữa tổng lượng nạp (từ nước mưa và nước tuới tiêu bề mặt) và tốc độ khai thác nước ngầm.
Ràng buộc bởi những điều kiện tại nơi mà nguồn nước ngầm đang được khai thác, lượng nước nạp từ một hệ thống tưới tiêu bề mặt mang lại một lợi ích thực bằng với giá trị thực của sản phẩm cây trồng được tạo thêm nhờ chính lượng nước bổ sung này. Khi mà tổng lượng nước nạp lớn hơn tổng lượng nước bị khai thác (nhưng vẫn
việc giảm chi phí bơm nước. Việc tiết kiệm chi phí này có thể là nhỏ (tương đương với chi phí nhiên liệu hoặc điện) nếu nó không mang lại việc tiết kiệm đáng kể chi phí đầu tư nhờ tạo ra mực nước ngầm cao hơn. Do vậy, lợi ích thực của các tác động ngoại lai tích cực cần được ước định một cách cẩn trọng dựa vào các chi phí vốn bổ sung xây dựng các hồ chứa và/hoặc chi phí xây dựng hệ thống kênh dẫn và phân phối của các hệ thống tưới mặt “rò rỉ”.
Các tác động ngoại lai tiêu cực, như được thảo luận tại Briscoe năm 1996, có thể gây ra những chi phí cho người sử dụng nước ở hạ lưu nếu dòng chảy hồi quy bị nhiễm mặn, hoặc những dòng chảy hồi quy từ các đô thị cũng gây ra những chi phí cho người sử dụng nước ở hạ lưu. Một phương pháp được sử dụng có tính đến các tác động ngoại lai này, đó chính là đánh thuế nước mặn lên đối tượng sử dụng, tuỳ thuộc vào cách sử dụng nước của họ.
Ví dụ về các tác động ngoại lai
Nếu nước lấy từ sông MêKông trong mùa khô bất cứ chỗ nào trong lưu vực đến khu vực mà dòng chảy đến đồng bằng được giảm, sự nhiễm mặn đồng bằng sẽ tăng sự nhiễm mặn nước biển. Nếu sự nhiễm mặn tăng sẽ cản trở cấp nước công cộng hoặc cấp nước cho nông nghiệp, một sự thu được về kinh tế ở thượng lưu sẽ đối lập với sự thiệt hại ở hạ lưu.
Tổng chi phí
Tổng chi phí của việc sử dụng nước là Tổng chi phí kinh tế được nêu ở trên cộng với Các tác động môi trường ngoại lai. Các chi phí này cần phải được xác định dựa trên những tổn thất nếu có sẵn số liệu hoặc là các chi phí phụ trội để xử lý nước trở về chất lượng ban đầu.
Các tác động môi trường ngoại lai: Chúng tôi phân biệt giữa Các tác động môi trường và kinh tế ngoại lai. Các tác động môi trường ngoại lai là những tác động gắn với sức khỏe cộng đồng và việc duy trì hệ sinh thái. Do vậy, nếu ô nhiễm làm tăng các chi phí sản xuất hoặc tiêu dùng cho các đối tượng sử dụng ở hạ lưu, đó chính là một Tác động kinh tế ngoại lai, nhưng nếu nó gây tác động tới sức khoẻ cộng đồng hoặc hệ sinh thái, chúng ta sẽ coi đó là một Tác động môi trường ngoại lai. Thường Các tác động môi trường ngoại lai vốn đã khó đánh giá về mặt kinh tế hơn Các tác động kinh tế ngoại lai, nhưng chúng tôi cho rằng trong hầu hết mọi trường hợp, có thể ước tính được một số chi phí phục hồi để đưa ra một giới hạn dưới của giá trị thiệt hại về mặt
kinh tế. Chúng ta bây giờ
đã sẵn sàng để đánh giá mặt khác của vấn đề nêu ra: đó là giá trị của nước.
Các thành phần Giá trị của nước
Để cân bằng về mặt kinh tế, giá trị của nước mà chúng ta ước tính từ Giá trị sử dụng phải vừa bằng với tổng chi phí của nước. Tại điểm cân bằng đó, mô hình kinh tế cổ điển chỉ ra rằng lợi ích xã hội đạt được mức tối đa. Tuy nhiên trong thực tế, Giá trị sử dụng thường được mong đợi là phải cao hơn tổng chi phí ước tính. Điều này là do những khó khăn trong việc đánh giá các tác động môi trường ngoại lai trong khi tính toán tổng chi phí. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, Giá trị sử dụng có thể thấp hơn Tổng chi phí, Tổng chi phí kinh tế, và thậm chí thấp hơn cả Tổng chi phí cung cấp.
Điều này thường là do các mục tiêu về chính trị và xã hội được đặt lên trên các tiêu chí về kinh tế.
Giá trị của nước phụ thuộc vào cả người sử dụng lẫn mục đích sử dụng. Hình 2 cho thấy một cách sơ lược các cấu phần Giá trị sử dụng của nước là tổng của các Giá trị kinh tế và Giá trị nội tại như được nêu ra trong hình; các cấu phần của Giá trị kinh tế bao gồm:
- Giá trị cho người sử dụng nước - Lợi ích thực từ các dòng chảy hồi quy - Lợi ích thực từ sử dụng gián tiếp - Điều chỉnh đối với các mục tiêu xã hội.
Giá trị Kinh tế
Giá trị cho người sử dụng nước: Trong công nghiệp và nông nghiệp, giá trị cho người sử dụng tối thiểu là bằng giá trị cận biên của sản phẩm. Là giá trị tăng thêm cho người sử dụng (hoặc cho xã hội) của một đơn vị nước tăng thêm. Trong sinh hoạt, việc sẵn sàng trả tiền sử dụng nước biểu hiện một giới hạn dưới giá trị của nước, vì nước có giá trị tăng thêm như được mô tả dưới đây. Ví dụ, việc sẵn sàng trả tiền dùng nước có thể được ước tính bằng sử dụng “trò chơi đấu thầu” trong đó người dùng nước tự định ra số tiền hàng tháng phải trả để sử dụng dịch vụ. Có rất nhiều nghiên cứu nhằm tính toán giá trị cận biên của nước sử dụng trong công nghiệp và nông nghiệp, sự sẵn sàng trả tiền sử dụng nước sinh hoạt của người tiêu dùng.
Lợi ích thực từ các dòng chảy hồi quy: Các dòng chảy hồi quy sau khi nước được sử dụng cho đô thị, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp tạo nên một yếu tố sống còn cho nhiều hệ thống thủy văn, bởi vậy ảnh hưởng của các dòng chảy này cần được xem xét khi đánh giá giá trị và chi phí của nước. Ví dụ, một phần của nước dành cho tưới tiêu có thể bổ sung trở lại cho nguồn nước ngầm trong khu vực và/hoặc làm tăng dòng chảy trở lại vào sông/kênh ở hạ lưu. Tuy nhiên, lợi ích của các dòng chảy đặc biệt phụ thuộc vào phần nước “mất” đi do bốc hơi (trong các kênh lộ thiên) hoặc chảy vào các vũng lầy.
Lợi ích thực từ việc sử dụng gián tiếp: Ví dụ điển hình về những lợi ích này nằm trong những hệ thống cung cấp nước cho sinh hoạt (nước uống và vệ sinh cá nhân) và chăn nuôi gia súc, có thể cải thiện được sức khoẻ và/hoặc tăng thu nhập cho người nghèo ở nông thôn. Chẳng hạn như ở các vùng phía tây bắc ấn Độ (Haryana và miền tây Uttar Pradesh) nơi mà nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn, các kênh dẫn nước không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt và chăn nuôi gia súc mà còn bổ sung nước cho nguồn nước ngầm, do vậy việc bơm nước ngầm bằng bơm tay và các ống giếng nông có khả năng thực hiện được. Khi thiếu nước ngọt, việc sử dụng nguồn nước ngầm nhiễm mặn cho chăn nuôi đã làm giảm tới 50% sản lượng sữa. ở nhiều vùng khô cằn tại Haryana, bang Punjab của ấn Độ và của Pakistan, thu nhập từ chăn nuôi chiếm một phần quan trọng trong thu nhập của các hộ nghèo, đặc biệt trong thời kỳ hạn hán. Không chỉ góp phần vào chăn nuôi, các kênh dẫn nước còn cung cấp nước cho động vật hoang dã, cho các hệ động thực vật, và cung cấp các lợi ích nội dòng.
Trên một số kênh ở miền nam ấn độ, những bậc dốc trên kênh được sử dụng để lắp đặt các trạm thủy điện nhỏ và mini. Những lợi ích gián tiếp này phải được tính đến khi
ích này sẽ dẫn tới đánh giá không đúng mức những lợi ích xã hội của nước dùng trong thủy lợi. Thủy lợi còn được biết đến với những tác động tiêu cực đối với môi trường và xã hội, dẫn tới tình cảnh khó khăn cho các hộ nghèo hơn. Những hậu quả đó, không kể những cái khác, bao gồm úng ngập, mặn hóa đất, giảm mực nước ngầm (dẫn tới việc khó sử dụng bơm tay và ống giếng nông), nước bị nhiễm hóa chất nông nghiệp và các bệnh lây truyền qua đường nước tăng lên.
Những tác động tới môi trường này có thể được coi là những mặt nguy hại khi đánh giá giá trị của nước trong nông nghiệp. Nói cách khác, chúng có thể được bổ sung vào thành phần Các tác động môi trường ngoại lai trong Tổng chi phí của nước.
Điều chỉnh hướng tới các mục tiêu xã hội: Về việc sử dụng nước tại hộ gia đình và trong nông nghiệp, có thể tiến hành điều chỉnh vì các mục tiêu xã hội chẳng hạn như xoá đói giảm nghèo, việc làm và an ninh lương thực (đặc biệt là ở các vùng nông thôn, nơi mà giá ngũ cốc có chiều hướng tăng cao do thiếu các sản phẩm bổ sung từ nông nghiệp có tưới tiêu, và là nơi khó nhận được các nguồn cung cấp ngũ cốc nhập khẩu). Trong đánh giá giá trị của nước đối với người sử dụng, những điều chỉnh như vậy nên được thêm vào để phản ánh các mục tiêu xã hội khác nhau như được nêu trong phần nói về nông nghiệp có tưới tiêu. Cần đặc biệt cẩn trọng khi sử dụng những điều chỉnh này và cần xem xét toàn diện những phương án khác nhau để đạt được các mục tiêu đề ra. Không nên tùy tiện đánh giá các giá trị này mà phải dựa trên cơ sở các phương pháp phù hợp nhất sẵn có để mang lại lợi ích thực sự cho xã hội từ sự chênh lệch về giá giữa các lĩnh vực khác nhau.
Giá trị nội tại
Điều chỉnh cho các mục tiêu xã hội
Lợi ích thực từ những sử dụng gián tiếp
Lợi ích thực các dòng chảy hồi quy
Giá trị cho người sử dụng nước
Giá trị kinh tÕ
Tổng giá
trị