Chương 3 KINH TẾ NĂNG LƯỢNG THỦY ĐIỆN
9. Đưa ra phương án với phúc lợi xã hội thực lớn nhất
5.3 Tiêu chí đánh giá dự án
3.3.1 Giá trị hiện tại và tỉ lệ chiết khấu
Phân tích chi phí lợi ích là một phương pháp để đánh giá (thẩm định) dự án. Một dự án sẽ được xem xét được đầu tư trong trường hợp lợi ích của nó lớn hơn chi phí của nó.
Trong thực tế, nhiều dự án với những lợi ích ròng dương phải cạnh tranh với nhau trong sự tài trợ bị giới hạn của chính phủ. Vì thế , sự ưu tiên của dự án phụ thuộc vào độ lớn của giá trị lợi ích thực của nó.
Đối với những dự án trong một năm, lợi ích ròng có thể được tính toán dễ dàng bằng cách lấy tổng lợi ích trừ đi tổng chi phí. Sau đó, kết quả này có thể được so sánh với những phương án khác. Tuy nhiên, những dự án điển hình có đời sống dài hơn một năm. Chi phí và lợi ích của dự án xảy ra ở những giai đoạn khác nhau xuyên suốt cả đời dự án. Về nguyên tắc, chúng không thể so sánh được với nhau bởi vì giá trị của chúng khác nhau ở những thời gian khác nhau. Giá trị tiền trong thời gian của 5 hoặc 10 năm sẽ có giá trị tiền khác ngày hôm nay. Để làm cho tất cả những so sánh về giá trị liên hệ đến thời gian, chúng cần được điều chỉnh về giá trị hiện tại (giá hiện tại). Giá trị tương lai sẽ được điều chỉnh bởi một tỷ lệ nhất định được gọi là ‘tỷ suất chiết khấu’.
Lợi ích ròng của dự án có thể được so sánh sau khi tính chiết khấu. Giá trị hiện tại thực (NPV) có thể được tính như sau :
( ) ( ) ( )
( )
1 2 n
o 2 t
n t
t t 0
V V V
NPV V ...
1 i 1 i 1 i
NPV V
1 i
=
= + + + +
+ + +
=∑ +
Trong đó : Vt = Giá trị ở thời điểm t i = Tỷ lệ chiết khấu t = Năm
n = Số năm (1) Khái niệm kinh tế của sự chiết khấu
Giá trị mong đợi của chi phí và lợi ích trong tương lai phải được tính chiết khấu trước khi lợi ích ròng của toàn bộ dự án có thể được tính đến. Sự lựa chọn một tỷ lệ chiết khấu cho dự án là rất cần thiết. Theo lý thuyết, một tỷ lệ chiết khấu nên phản ánh sự thích hợp của thời gian hoặc chi phí cơ hội của tiền vốn theo thời gian.
Sự ưu tiên về thời gian
Người ta thừa nhận rằng, con người có những nhu cầu sử dụng khác nhau tại các thời điểm khác nhau. Họ thích tiêu dùng những hàng hóa và dịch vụ ở hiện tại hơn là ở
tương lai. Họ chỉ hoãn sự tiêu dùng của mình trong tương lai khi họ nhận được sự đền bù hoặc tiền lãi cho sự hoãn lại đó. Tỷ lệ cho loại tiền lãi này được gọi là tỉ lệ xã hội của sự ưa tiên về thời gian.
Chi phí cơ hội của tiền vốn
Theo khái niệm này , tỷ suất chiết khấu nên phản ánh chi phí cơ hội xã hội.
Học thuyết kinh tế cơ bản nói rằng một xã hội hoặc quốc gia có tài nguyên bị giới hạn, không đủ để thoả mãn cho tất cả nhu cầu của con người cho cả hai bộ phận của nhà nước và của tư nhân. Khi nhà nước dành lượng tài nguyên cho dự án, bộ phận tư nhân sẽ có ít tài nguyên sẵn có tương đương với số lượng đã bị mất đi bởi dự án của nhà nước. Do đó, một tỷ lệ chiết khấu cần phải phản ánh chi phí cơ hội hoàn lại tiền vốn của xã hội đã bỏ ra.
(2) Giảm nhẹ các tác động môi trường
Giảm bớt chi phí và lợi ích của dự án mà những dự án có những tác động vào môi trường là một vấn đề quan trọng đối với nhà phân tích. Phần lớn những tác động môi trường thì là lâu dài trong thiên nhiên. Do đó, những thiệt hại môi trường thường làm giảm bớt giá trị không quan trọng đối với sự đánh giá dự án. Mặt khác, một dự án cung cấp những lợi ích môi trường lâu dài sẽ ít hấp dẫn hơn một dự án mà cung cấp những lợi ích kinh tế ngắn hạn. Nhiều nhà môi trường cho rằng sự giảm bớt sẽ cản trở một dự án tốt và một tỷ suất chiết khấu cao sẽ tăng nhanh sự cạn kiệt tài nguyên tái sinh. Nếu tỷ suất chiết khấu này cao hơn tốc độ phục hồi của tài nguyên , nó sẽ đẩy nhanh sự sử dụng tài nguyên cho tới khi chúng bị cạn kiệt.
Vấn đề này có thể được tránh bằng cách sử dụng một tỷ lệ chiết khấu thấp. Tuy nhiên, một tỷ lệ chiết khấu quá thấp (làm cho phần lớn các dự án được khả thi) ở những nước đang phát triển có thể đẩy mạnh sự đầu tư trong nước và nhu cầu về vốn. Điều này có thể dẫn đến sự giảm bớt việc làm và sự sử dụng lao động trong nước và làm nổi bật vấn đề đói nghèo, do đó đưa ra mối đe dọa đối với môi trường.
Sự chọn lựa tỷ suất chiết khấu nào để sử dụng còn là một vấn đề gây tranh luận. Một vài nhà phân tích chọn sử dụng tỷ lệ chiết khấu cao cho những tác động đến sự phát triển và tỷ lệ suất chiết khấu thấp cho những tác động đến môi trường. Một giải pháp khác sẽ sử dụng một tỷ lệ chiết khấu tiêu chuẩn cho sự phân tích chi phí – lợi ích, như là tỷ suất chiết khấu tiêu chuẩn 10% của ngân hàng Thế Giới mà được ước tính từ chi phí vốn. Sau đó, phân tích độ nhạy nên được tiến hành bằng cách sử dụng một miền tỷ lệ chiết khấu tiềm năng từ 0 – 17%. Nếu giá trị hiện tại thực của dự án là dương, mà nó sử dụng tỷ chiết khấu trong miền này, thì không nên có sự tranh cãi thêm nữa về tỷ lệ chiết khấu này. Mặt khác, nếu giá trị hiện tại thực âm được nhận được từ trong miền này, nhà phân tích nên kiểm tra lại điều này thêm nữa và quyết định xem sự thay đổi nào nhạy với tỷ lệ chiết khấu.
3.3.2 Các chỉ tiêu để đánh giá dự án
- Một khi giá trị kinh tế của lợi ích và chi phí được nhận được, kết quả của dự án có thể được biểu diễn theo ba hình thức truyền thống : Giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ số lợi ích và chi phí (B/C) và tỷ lệ hoàn vốn nội tại kinh tế (EIRR).