Đồng bằng Mê Kông và lưu vực sông Mê Kông

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 (Trang 37 - 40)

Hình 1.4 Lưu vực hạ du của sông Mêkông

Sông Mê Kông có chiều dài 4200 km chạy qua 6 nước Myan mar, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Cam phu chia và Việt Nam. Diện tích toàn bộ lưu vực sông là 795000 km2 trong đó đồng bằng Mê Kông là khoảng 49367 km2.

Đồng bằng Mê Kông ở Việt Nam hoặc đồng bằng Cửu Long phần cuối của đồng bằng Mê Kông gồm 12 tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau với diện tích đất khoảng 3.92 triệu ha, chiếm khoảng 79% đồng bằng Mê Kông hoặc chiếm 5% lưu vực Mê Kông.

Đồng bằng Cửu Long tương đối bằng phẳng nằm 0.3 – 0.4m trên mực nước biển. Vùng đất có độ cao từ 0.5 – 0.75m thì chiếm 60%, vì thế lũ ở thượng lưu gây ra lụt lội ở vùng đất thấp.

Đồng bằng Cửu Long đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và là vùng chủ yếu cho chiến lược an toàn lương thực quốc gia. Với tiềm năng phát triển nông nghiệp cao đồng bằng cửu long thường đóng góp khoảng 1 nửa lương thực cả nước (năm 2000 khoảng 17.5 triệu tấn) 55% sản lượng thuỷ sản và rau quả, 61% giá trị xuất khẩu và khẳng định là một vùng đảm bảo an toàn lương thực cho quốc gia.

Từ năm 1986 nền kinh tế của đồng bằng Cửu Long tăng trưởng nhanh chóng. Với lượng vốn đầu tư hạn chế nhưng do chính sách đổi mới sản lượng nông nghiệp và thuỷ sản của đồng bằng cửu long tăng nhanh chóng khuyến khích tăng ngành công nghiệp chế biến, giao thông, ngành thương mại trong và ngoài nước. Những thành công này đã đóng góp sự ổn định kinh tế của quốc gia. Năm 2000, mức GDP (sản lượng nội địa) trên 1 đầu người ở đồng bằng cửu long đã đạt được 280 USD / người.

(VNMC and SIWRP November 2003)

- Phần Việt Nam nằm trong Đồng bằng Mê Kông sản xuất 50% sản lượng gạo quốc gia và 90% giá trị xuất khẩu, 48% là diện tích tưới. Các CTTL là các công trình đa mục tiêu cấp nước tưới, chống lũ, kiểm soát mặn. Vùng đồng bằng ở thấp nằm ở nơi bị nhiễm mặn do nước biển, đòi hỏi phải có 1 dòng chảy tối thiểu nhằm duy trì chế độ nước ngọt. Dòng chảy tối thiểu không được ít hơn nhiều dòng chảy của tháng thấp nhất trung bình năm, khoảng 1,630 m3/s (hoặc 2,1 l/skm2diện tích lưu vực).

Dựa vào phát triển kinh tế xã hội của đồng bằng cửu long 2001-2005 và năm 2010 được thủ tướng duyệt, kết hợp nông nghiệp và qui hoạch lớn của các tỉnh trong vùng, phát triển nông nghiệp ở đồng bằng cửu long vào năm 2010 sẽ tập trung vào xu hướng như sau:

- Tập trung vào khai thác hiệu quả và bền vững những tiềm năng và nâng cao các vị trí địa chất, đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh học và nhân lực để tiếp tục phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp ở tỷ lệ tăng cao, khuyến khích các vị trí về gạo, thuỷ sản và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của quốc gia. Cần thiết nâng cao hiệu quả của các ngành sản xuất lương thực, rau, quả, giống, thuỷ sản, công nghiệp chế biến, khuyến khích các tiến bộ trong nông nghiệp để tạo nên các chuyển biến nhanh về cơ chế kinh tế xu hướng tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ.

- Chuyển cơ cấu nông nghiệp mạnh mẽ theo xu thế phát triển bền vững hiệu quả, tăng giá trị của mỗi đơn vị diện tích, tăng thu nhập của người nông dân, tập trung vào các ngành sản xuất có tính cạnh tranh cao kết hợp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.

- Tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội bao gồm: giao thông, ngành tài nguyên nước, y tế, giáo dục và đào tạo, xây dựng nhà ở trong vùng bị ngập lụt, vùng cửa sông và vùng ven biển. Cần thiết nâng cao việc chống thiên tai, giảm thiệt hại gây ra bởi lũ lụt và thiên tai, đảm bảo cuộc sống bền vững và an toàn cho dân địa phương vùng ngập lụt cửa sông và vùng ven biển (Cogels, 2004).

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 (Trang 37 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)