Chương 3 KINH TẾ NĂNG LƯỢNG THỦY ĐIỆN
5. Phân tích độ nhạy
Trong phân tích chi phí – lợi ích , nhà phân tích luôn bị đối mặt với một số vấn đề không chắc chắn liên quan đến những tác động của dự án và giá trị của chúng. Phân tích độ nhạy là kỹ thuật được sử dụng để tác động của những sự thay đổi trong lợi ích hoặc chi phí, của những tham số hay thay đổi cho sự đánh giá chắc chắn nhất hoặc trường hợp gốc . Kết quả của sự phân tích là vô cùng hữu ích trong quyết định liệu dự án được đảm bảo không và nếu như vậy, loại dự án nào sẽ khả thi. Kết quả cũng sẽ giúp xác định rõ biện pháp cần thiết để làm giảm những ảnh hưởng bất lợi của dự án.
3.4 Các bước phân tích độ nhạy 3.4.1 Xác định các biến quan trọng
Trước tiên , nhà phân tích phải xác định tham số quan trọng mà có thể có ảnh hưởng lớn đến chi phí và lợi ích của dự án. Không phải tất cả những biến số là những biến số chính trong phân tích độ nhạy. Thông thường chỉ có những biến số mà tương đối lớn về giá trị có mối liên hệ với quy mô của dự án thì được chọn để phân tích. Trong trường hợp xây dựng đập, những biến số chính như sau :
(a) Chi phí xây dựng, vận hành và bảo dưỡng , chi phí sửa chữa nhỏ và chi phí thanh lý
Những chi phí này phụ thuộc vào điều kiện địa lý kỹ thuật ở tuyếncông trình.
Chi phí xây dựng không thể được xác định chính xác khi công việc xây dựng đang thực hiện . Theo sự nghiên cứu của mô hình kiểm tra chéo bởi WCD (2000), hồ chứa đa mục tiêu cho thấy sự biến thiên lớn hơn khi so sánh với đập đơn mục tiêu. Trung bình , 45 mẫu đập đa mục tiêu được lấy có chi phí vượt quá 63% và đập Pak Mun, một đập ở Thái Lan, có chi phí vượt quá 68%. Nguyên nhân của những vượt quá này như đã báo cáo bởi WCD là (1) kỹ thuật kém và sự ước lượng giá và sự giám sát kém của ngườitài trợ, (2)vấn đề kỹ thuật phát sinh trong khi xây dựng, (3) dịch vụ kém của chủ đầu tư và nhà thầu, và (4) những thay đổi ở điều kiện bên ngoài.
(b) Đặc tính đập (phát điện, cung cấp nước và phòng chống lũ )
Những dự án thuỷ lợi đa mục tiêu thường được thiết kế để cho những lợi ích đã định (thủy điện, cung cấp nước , nước tưới , chống lũ …). Có nhiều trường hợp mâu thuẫn trong quá trình vận hành, góp phần hạ thấp hiệu suất về mặt kinh tế. Hoạt động của dự án đa mục tiêu cũng phụ thuộc vào thời tiết và điều kiện địa lý như là lượng nước đến, lượng mưa và lưu vực sông. Sự thay đổi trong điều kiện thời tiết sẽ dẫn đến sự dễ thay đổi hoạt động của đập . Ví dụ chẳng hạn, xem xét lại một vài đập ở Thái Lan bởi Sangsriratanakul (1981) thấy rằng một số lượng điện được phát ra giảm trong năm có dòng nước đến ít. Nói chung, phần lớn những đập trong nghiên cứu sự phát điện
thấp hơn mong đợi, Hạn hán thường làm cho nước trong hồ giảm tới mực nước không đủ để phát điện cấp nước tưới.
(c) Sản xuất nông nghiệp
Nhà phân tích có thể ước tính sản phẩm nông nghiệp từ số lượng đầu vào bằng cách sử dụng hàm sản xuất. Hàm sản xuất có thể bị tác động bởi nhiều nhân tố như những thay đổi công nghệ và điều kiện thời tiết . Sự thay đổi trong những nhân tố này có thể làm thay đổi lớn những sản phẩm mong đợi và do đó thay đổi cả lợi ích thực của dự án.
(d) Giá của tác động
Giá của tác động trong tương lai được xác định bởi nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu. Cuối cùng, bất cứ một nhân tố nào tác động đến nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu sẽ ảnh hưởng đến giá trị của những tác động. Ví dụ của những nhân tố tác động sẽ là dự báo số dân và mức thu nhập. Tính toán sự tăng thêm cho những nhân tố nhân tố này sẽ tăng nhu cầu thị trường về hàng hóa và dịch vụ và tăng giá (những nhân tố khác ngang bằng ).
(e) Tỷ lệ chiết khấu
Sự lựa chọn một tỷ lệ chiết khấu có tác động lớn đến NPV và tỷ số B/C của dự án. Nhà phân tích nên thực hiện phân tích độ nhạy, sử dụng một miền tỷ lệ chiết khấu.
Như đã tham khảo ở phần 5 , thường có sự tranh luận về cách sử dụng một tỷ lệ chiết khấu đặc biệt. Phân tích độ nhạy sẽ giúp giải quyết hoặc giảm sự tranh cãi như thế.
3.4.2. Tính toán kết quả của những thay đổi trong những biến số chính
Để tính toán kết quả của sự thay đổi có thể có trong những biến số chính , nhà phân tích phải xác định ra sự phân bố có thể đối với những biến số chính được nhận ra và thực hiện dựa theo kịch bản của dự án khác có thể khác nhau. Độ nhạy của trường hợp cơ sở có thể được kiểm tra theo một vài cách như sau :
o Tăng chi phí vốn đầu tư theo % nhất định o Giảm lợi ích kinh tế theo % nhất định o Kéo dài khoảng thời gian xây dựng .
Giá trị của những các chỉ tiêu kinh tế (NPV, B/C, EIRR) phải được tính toán lại cho mỗi một kịch bản. Độ nhạy của dự án là thước đo bởi một chỉ tiêu độ nhạy. Phương trình được đưa ra dưới đây :
( ) (bb 1)1 b b
NPV NPV / NPV
S X X / X
= −
− Trong đó : S = Chỉ tiêu độ nhạy
NPVb = Giá trị của NPV trong trường hợp cơ sở.
NPVc = Giá trị của NPV trong kiểm tra độ nhạy
Xb = Giá trị của biến số chính trong trường hợp cơ sở Xs = Giá trị của biến số chính trong kiểm tra độ nhạy.
Giá trị của chỉ tiêu độ nhạy càng cao, thì NPV càng chắc chắn hơn, mà NPV là đối tượng để thay đổi trong những biến số liên quan, và do đó sự rủi ro càng cao hơn cho dự án.
‘ Phân tích Monte Carlo ‘ là cách tiếp cận hữu ích khác để dẫn tới sự phân tích độ nhạy . Nó cố gắng ước tính sự phân bố lợi ích ròng bằng sự nghiên cứu giá trị của những tham số chính khi biến số ngẫu nhiên. Bước cơ bản trong phân tích Monter Carlo là :
1. Chỉ ra sự phân bố xác xuất cho tất cả những biến số chính.
2. Tiến hành thử bằng cách lấy số ngẫu nhiên từ phân bố cho mỗi một biến số và tính lợi ích ròng.
3. Lặp lại bước thứ hai nhiều lần với các số ngẫu nhiên khác nhau để đưa ra sự ứơc lượng cho lợi ích thực mong đợi.
Sự phân tích này rất hữu ích khi mà nhà quyết sách đặc biệt quan tâm tới những nhân tố rủi ro và những tham số có sự phân bố không đồng dạng hoặc những công thức để tính toán là rất phức tạp.
3.4.3 Kết luận từ sự phân tích độ nhạy
Nhà phân tích phải kiểm tra xem liệu dấu hiệu của giá trị lợi ích ròng thay đổi từ dương sang âm không khi giá trị của biến số chính bị thay đổi . Nếu kết quả không thay đổi, thì sự phân tích chi phí - lợi ích của dự án là đúng đắn và nhà phân tích có thể có tin tưởng hơn vào kết quả của nó. Nhà phân tích nên xác định thêm biến số chính nào cho giá trị của chỉ số độ nhạy cao.
3.4.4 Đưa ra phương án tốt nhất
Sau khi phân tích độ nhạy được hoàn thành , bước cuối cùng trong phân tích chi phí – lợi ích là đưa ra sự lựa chọn hiệu quả nhất. Nhà phân tích nên cung cấp không chỉ phương án lựa chọn mà còn cho thông tin về sự không chắc chắn của kết quả dự án.
Nhận ra những điều này sẽ tác động tích cực và tiêu cực bởi vậy sự lựa chọn được đưa ra, sẽ có ích cho nhà quyết sách trong quyết định của họ.
Phân tích chi phí – lợi ích là một công cụ rất hữu ích để cung cấp thông tin về hiệu quả dự án nhưng CBA cho rằng sự lựa chọn tốt nhất của nhà đầu tư chỉ trong lĩnh vực kinh tế . Trong thực tế , dự án được lựa chọn không thể được tiến hành bởi sự quyết định của con người (đó là nhà nước) phải xét đến chính trị , xã hội , văn hóa và những lý do khác trong tính toán.
3.5 Tổng giá trị kinh tế, đánh giá hệ sinh thái 3.5.1 Tổng giá trị kinh tế
Theo (Keith Ward (Sep 03): Strengthening the economic analysis of natural resource management projects)
Tổng giá trị kinh tế thường được định nghĩa là những giá trị sử dụng (gồm tiêu thụ hàng hoá môi trường) và những giá trị không sử dụng (bao gồm không tiêu thụ).
Giá trị sử dụng bao gồm cả giá trị sử dụng trực tiếp hiện tại và giá trị sử dụng gián tiếp.
Những giá trị không sử dụng thì bao gồm các mặt giá trị đánh giá dựa trên giá trị có thể trong tương lai quy về hiện tại và hệ tương lai, cũng như là sự bảo tồn tài nguyên sinh vật vì lợi ích của họ.
Phạm vi tiềm năng của các dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là rất đa dạng. Các tác động vào sử dụng tài nguyên là sự hiện ra trong sự thay đổi năng suất, và là sự tuân theo sự đánh giá bằng kỹ thuật phân tích lợi ích chi phí chuẩn. Những tác động này vì
nguyên môi trường. Hơn nữa những dự án như thế này có tác động môi trường được định nghĩa như là các hậu quả tiêu cực hoặc tích cực trải qua bởi con người động vật thực vật, hoặc vật liệu theo sự phơi bày của sự căng thẳng từ các hoạt động của dự án.
Đây là trong thiên nhiên về thay đổi số lượng đối với tài nguyên môi trường, và có thể là cả tích cực và tiêu cực. Những tác động này vì thế ảnh hưởng đến thành phần sử dụng gián tiếp và không sử dụngcủa tổng giá trị kinh tế (TEV) của các tài nguyên môi trường.
Chúng dễ dàng lấy được bằng kỹ thuật phân tích chi phí lợi ích điển hình.
Tổng giá trị kinh tế (TEV)
• Giá trị trực tiếp: là liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, (chính và thứ cấp), mà nó có thể thường được thương mại (buôn bán) (là giá trị rõ ràng, nhìn thấy được).
Ví dụ: Cây trồng, cá, gỗ, nước, điện.
• Giá trị không trực tiếp (gián tiếp): là lợi ích xuất phát từ các nhiệm vụ của hệ sinh thái.
Nó thường không được thương mại, giá trị không rõ ràng, nhưng có thể lớn. Ví dụ:
phòng chống lũ, bảo vệ bão, bảo vệ đất, giá trị liên quan đến thu nhập từ du lịch.
• Giá trị lựa chọn: là giá trị xuất phát từ việc sử dụng có thể trong tương lai. Ví dụ:
nguồn nước ngầm, tiềm năng thuỷ điện.
• Giá trị để lại: là giá trị của những vật bảo tồn để lại cho tương lai. Ví dụ tài nguyên cá, rừng hoặc thác nước
• Giá trị tồn tại: liên quan đến sự thoả mãn để hiểu biết những gì có nhý giá trị di sản văn hoá, giá trị tinh thần
• Giá trị thực chất bên trong: là giá trị của tài nguyên cuộc sống có quyền là chủ, không liên quan đến việc tận dùng của con người. Ví dụ như cá voi ở sống Mêkong
Con người
Phi-con người
Giá trị sử dụng
Giá trị không sử dụng
Giá trị trực tiếp Giá trị gián tiếp Giá trị lựa chọn
Giá trị để lại Giá trị tồn tại
Giá trị thực chất bên trong
TEV
3.5.2 Đánh giá hệ sinh thái
(King, Dennis M. and Marisa Mazzotta 2005):
Tại sao phải tính giá trị của hệ sinh thái?
Đối mặt với ngân sách hạn hẹp và nhu cầu tăng trưởng đối với các hành động môi trường, các cơ quan nhà nước phải đưa ra các quyết định khó khăn làm thế nào để phân phối đầu tư công cộng để bảo vệ và gìn giữ tài nguyên thiên nhiên. Trong khi làm các quyết định như thế, những nhà quản lý chương trình môi trường có thể xem xét nhiều mục tiêu bao gồm cả chất lượng môi trường, đe doạ tính nguyên vẹn của hệ sinh thái, và tác động vào chất lượng sống của con người.
Tại sao ước lượng lợi ích hệ sinh thái là cần thiết:
• Để đánh giá và quyết định làm thế nào phân phối sự chi tiêu công cộng vào bảo tồn, duy trì hoặc dẫn đầu cho phục hồi.
• Để xem xét các giá trị công cộng và khuyến khích tham gia công cộng cho hành động môi trường.
• Để so sánh lợi ích của các dự án hay chương trình khác nhau.
• Để ưu tiên cho dự án bảo tồn và phục hồi.
• Tối đa lợi ích môi trường trên một đồng đô la bị . Lợi ích của sự bảo tồn, duy trì hoặc phục hồi hệ sinh thái:
Sự chủ động môi trường có thể là kết quả trong sự cải thiện, mà nó cung cấp một phạm vi rộng lớn về lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường.
Đo lường bằng tiền giá trị của hệ sinh thái
Trong kinh tế thông thường nói chung được chấp nhận rằng đo lường giá trị kinh tế nên dựa vào những cái mà con ngường muốn; và cá nhân không phải chính phủ nên là người hiểu biết về những cái mà họ muốn. Sử dụng sự chú ý này của giá trị, số lượng lớn nhất của một đồ vật mà một cá nhân đang muốn dừng để nhận tiếp cái khác được cho là con người bằng lòng chi trả cho cái đó, sẽ phản ánh số tiền để bán hết các hàng hoá và dịch vụ mà họ sẵn sàng dừng lại để nhận nó.
Đối với mục đích của đánh giá giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái là quan trọng để lưu ý đo lường giá trị của những cái đang dùng tiền tệ không đòi hỏi được mua và bán trong thị trường. Nó chỉ đòi hỏi xác định con người phải trả bao nhiêu để dừng lại không nhận nó nữa (hoặc sẽ cần để trả để dừng nó lại), nếu chúng bị cưỡng ép lựa chọn.
Đo lường không bằng tiền giá trị của hệ sinh thái:
Dollars không chỉ là công cụ có ích để đo giá trị hệ sinh thái. Thỉnh thoảng nó có ích hơn
môi trường. Những lợi ích này được xác định như là một bộ ưu tiên bằng cách xác định lợi ích lớn nhất trên một đơn vị tiền tệ bị mất, không sử dụng đối với đánh giá dựa vào dollar.
Công cụ đánh giá dựa vào chỉ số có thể ít đắt hơn và đòi hỏi ít thời gian hơn để áp dụng. Do đó, chúng có thể được áp dụng rộng rãi hơn. Trong khi đo lường dựa vào dollar của lợi ích hệ sinh thái có thể cần thiết để đánh giá sự tiêu tốn vào chương trình bảo tồn, các chỉ số không dollar của các lợi ích mong đợi là có ích hơn để quản lý sự tiêu tốn để đạt đến sự trả tiền về kinh tế và môi trường lớn nhất.
Tầm quan trọng thực tế về đánh giá hệ sinh thái:
Hai điều cần phải được học từ kinh nghiệm hiện nay về đánh giá hệ sinh thái. Thứ nhất, nó dễ dàng dàng một lượng lớn tiền để nghiên cứu kinh tế để thử cố gắng chỉ định giá trị dollar để cải thiện môi trường. Thứ hai, nó dễ dàng đối với người quản lý chương trình môi trường để lạm dụng kết quả của những nghiên cứu này bằng cách mà có thể huỷ hoại sự hỗ trợ đối với chương trình của họ.
Mặt khác hai điều được học từ kinh nghiệm hiện nay vớisự rút lại ngân sách của liên bang. Thứ nhất là sự nguy hiểm đối với người quản lý chương trình môi trường để bỏ qua nhu cầu đối với trách nhiệm giải trình về tài chính hơn và đánh giá các quyết định chi tiêu đặc biệt. Thứ hai là “Quyết định chuyên môn tốt nhất” và các chỉ tiêu xắp xếp dự án “khoa học khách quan” mà bỏ qua kết quả lợi ích đối với con người là phương pháp cực kỳ không thông dụng của việc đánh giá đầu tư công cộng.
Các phần tiếp theo của chương này sẽ tiếp tục làm rõ tổng giá trị kinh tế và đánh giá hệ sinh thái khi lợi dụng nguồn tài nguyên nước đa mục tiêu.
3.6 Kinh tế sử dụng nước đa mục đích (tiêu thụ và không tiêu thụ nước) Economics of multiple (in-stream and off-stream) water uses
3.6.1 Một thách thức để cân bằng lợi ích – chi phí Theo Le Quy An (Feb 00)