Tình hình nghiên cứu trong nước 9

Một phần của tài liệu Đánh giá kiến thức thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV AIDS của phụ nữ độ tuổi từ 15 40 ở khu vực biên giới thị xã tân châu (Trang 26 - 29)

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao so với các nước trong khu vực. Bắt đầu từ những năm 90 Việt Nam đã và đang nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phía các nước phát triển cũng như các tổ chức phòng chống HIV/AIDS trên thế giới cả về vật chất lẫn kiến thức và kinh nghiệm phòng chống HIV. Theo sau đó là sự thành công của nhiều chương trình, dự án cũng như các công trình nghiên cứu liên quan đến phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng. Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi chỉ tóm lược kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu có liên quan, như sau:

Nghiên cứu điều tra cơ bản: Kiến thức, thái độ và hành vi của thính giả nghe đài về vấn đề liên quan đến phòng chống HIV/AIDS và Sức khỏe sinh sản của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng [17]

Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng 50% đối tượng nghiên cứu được đánh giá là có kiến thức khá đầy đủ về SKSS. Các nhân tố quan trọng tác động tới kiến thức về SKSS, KHHGĐ là trình độ học vấn, mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng, mức độ nói chuyện với những người khác về các vấn đề trên. Trình độ học vấn là nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kiến thức về phòng chống HIV/AIDS, nhưng vẫn còn không ít phụ nữ chưa được biết về HIV/AIDS do mạng lưới thông tin trong cộng đồng chưa sâu rộng; kiến thức về phòng chống HIV/AIDS ở phụ nữ còn thấp nên còn thiếu các hành vi thực hành về tình dục an toàn, SKSS và phòng chống HIV/AIDS.

Do đó, cần có biện pháp giáo dục SKSS để người dân đặc biệt là phụ nữ nhận biết nguy cơ lây nhiễm.

Cần xây dựng đội ngũ tư vấn mạnh về lượng và chất ở địa phương.

Các chương trình phòng chống lây nhiễm HIV và chăm sóc SKSS cần chú ý hơn nữa đến đối tượng là thanh niên, đặc biệt là nữ thanh niên.

20 Nâng cao nhận thức phòng chống HIV/AIDS tại Hòa Bình của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng [16]

Kết quả nghiên cứu cho thấy có hơn 70% người dân nêu đúng các đường lây truyền HIV; có sự khác biệt về kiến thức giữa nghề nghiệp và giữa các nhóm có nguy cơ cao; tuy nhiên ở đây không có sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân; hệ thống cơ sở y tế ở địa phương còn hạn chế, các nhân viên y tế và dược sĩ địa phương còn thiếu kiến thức và các kỹ năng cần thiết về tư vấn.

Vì vậy cần nâng cao các hoạt động thông tin giải trí và giáo dục về QHTD an toàn thông qua việc sử dụng các hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành cho các nhân viên y tế, bên cạnh việc tổ chức các khóa đào tạo cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao và nhóm nhiễm HIV/AIDS.

Báo cáo điều tra cơ bản về chương trình giáo dục và truyền thông SKSS và phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y tế cộng đồng [15]

Kết quả nghiên cứu cho thấy các chương trình giáo dục và truyền thông về SKSS và phòng chống HIV/AIDS đã tới được với nhiều đối tượng và đã có hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Song, ở đây có sự không đồng đều về mức độ tiếp cận thông tin giữa các vùng miền, trình độ học vấn, nhóm dân cư. Nhóm tác giả đã đưa ra các yếu tố tác động đến kiến thức của người dân như độ tuổi, trình độ học vấn, tần xuất xem tivi, đọc báo, mức độ nói chuyện với vợ chồng hoặc bạn tình,…Vẫn còn những khoảng trống kiến thức quan trọng về SKSS và QHTD an toàn của người dân để có thể thực hành QHTD an toàn và tự bảo vệ mình trong việc phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS cũng như các bệnh lây truyền qua đường TD khác, đó là:

- Hiểu biết đầy đủ về tất cả đường lây truyền còn thấp.

- Ít hiểu biết về tác dụng phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục của BCS.

- Chưa đánh giá đúng các nguy cơ lây nhiễm của bản thân.

- Chưa thật sự hiểu biết về phương thức phòng tránh lây nhiễm có hiệu quả.

21 Vì vậy cần tăng cường công tác tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông đặc biệt là truyền thanh vào các buổi sáng và tối trong ngày lồng ghép các vở kịch hay mang tính hấp dẫn phù hợp với sở thích và văn hóa của từng vùng.

Bạo lực giới vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của HIV/AIDS của Trần Đức Quang; Qũy Dân số Liên hợp Quốc [13]

Nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhiễm HIV ở phụ nữ bị bạo lực cao hơn so với những người không bị bạo lực. Bạo lực ở phụ nữ là sự cản trở đối với những nỗ lực phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, cản trở phụ nữ đi xét nghiệm và hạn chế việc tiếp cận với phòng tránh và điều trị, điều này cũng cản trở họ đưa ra các quyết định về sức khỏe và tương lai của mình. Trong nhiều trường hợp, các nạn nhân của bạo hành luôn sợ hãi hoặc không thể thảo luận việc dùng BCS. Để giải quyết vấn đề này cần có hành động phối hợp của cá nhân, cộng đồng và chính quyền địa phương.

HIV/AIDS, Giới, Thanh niên ở nông thôn và thành thị Việt Nam: Kiến thức, thái độ, hành vi và khuyến nghị cho phòng tránh của Nguyễn Thị Tiềng và các cộng sự [10]

Kết quả nghiên cứu cho thấy có lỗ hổng kiến thức đúng về phòng chống lây nhiễm HIV của thanh niên ở cả hai khu vực đặc biệt là khu vực nông thôn. Những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức của thanh niên là vùng miền, giới, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình,…. Điều này làm hạn chế khả năng tự bảo vệ mình trong việc phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS. Qua đó, các tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau: Cần phát triển các góc dịch vụ tư vấn thân thiện, chú ý đến các nhân tố mang tính đặc trưng giới, cải thiện việc tiếp cận dịch vụ của thanh niên ngoài trường học, cần quan tâm đến khu vực nông thôn.

Xây dựng mô hình phòng chống HIV/AIDS cho gái mại dâm tỉnh Quảng Ninh của Nguyễn Minh Tâm và Lê Thị Hà [8]

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về khả năng lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục không đồng đều, có sự mâu thuẫn giữa nhận thức, thái độ, hành vi của nữ tiếp viên đối với phòng chống HIV/AIDS. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mong muốn của họ là được tham gia các hoạt động hoặc câu lạc bộ với những người cùng làm việc

22 như họ, được tư vấn bảo vệ sức khỏe, khám chữa bệnh miễn phí, hướng dẫn cách xử lý những khó khăn trong cuộc sống.

Qua đó nhóm tác giả đề xuất là phải cần tiếp tục nâng cao nhận thức cho nữ tiếp viên về các con đường lây nhiễm và các biện pháp phòng tránh, cần có các biện pháp tác động đến tâm lý, thời gian, hướng dẫn kỹ năng để thay đổi thái độ, hành vi của các nữ tiếp viên; xây dựng mô hình thí điểm câu lạc bộ nữ tiếp viên, đội giáo dục đồng đẳng là chỗ dựa tin cậy, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, tư vấn phòng chống HIV/AIDS; tăng cường mạng lưới đầu tư y tế và BCS cho phụ nữ khi có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận dễ dàng.

Một phần của tài liệu Đánh giá kiến thức thái độ và hành vi phòng chống lây nhiễm HIV AIDS của phụ nữ độ tuổi từ 15 40 ở khu vực biên giới thị xã tân châu (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(128 trang)