2.1 Kiến thức
Kiến thức là sự hiểu biết, kinh nghiệm được tổng hợp, khái quát hóa từ quá trình sự học tập, trải nghiệm trong cuộc sống, thông qua việc tiếp thu kiến thức từ cha mẹ, giáo viên, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng.
Có thể đánh giá kiến thức của một cá nhân hay cộng đồng nhất định là đúng hay sai về một vấn đề cụ thể nào đó. Chẳng hạn như: kiến thức đúng về các bệnh lây truyền QĐTD. [2]
Kiến thức của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trong việc phòng chống HIV/AIDS là những hiểu biết của phụ nữ về bệnh HIV/AIDS, về con đường lây truyền HIV/AIDS cũng như các biện pháp phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS.
2.2 Thái độ
Thể hiện một phản ứng, quan điểm của cá nhân đối với một người, sự kiện, quan điểm nào đó. Nó phản ánh những gì người ta thích hoặc không thích, ủng hộ hoặc không ủng hộ. Thái độ bắt nguồn từ trải nghiệm của bản thân hoặc từ những người thân. Thái độ biểu hiện sự thích thú, tin tưởng, ủng hộ điều này hoặc đề phòng, cảnh giác với điều khác của chúng ta. Tuy nhiên, thực tế cho thấy người ta không luôn ứng xử theo thái độ của họ.[2]
Thái độ của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trong việc phòng chống HIV/AIDS là những cảm xúc, niềm tin và quan điểm của phụ nữ đối với bệnh HIV/AIDS, đối với người nhiễm HIV/AIDS và đối với việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS. Nó được thông qua việc cảm thấy sợ hãi hay bình thường khi nghe tới HIV/AIDS, mức độ kỳ thị (xem những người nhiễm là những người xấu cần phải né tránh hay cách ly họ ra khỏi cộng đồng) hay không kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS. Thái độ ủng hộ hay phản đối trong việc sử dụng BCS khi QHTD.
2.3 Hành vi
Hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, sự kiện, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định. Hành vi hàm chứa các yếu tố nhận thức, kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị xã
25 hội cụ thể của mỗi con người. Các yếu tố này thường đan xen, liên kết chặt chẽ với nhau, khó có thể phân tách rõ ràng. [2]
Trong đó, hành vi sức khỏe là hành vi của con người có liên quan đến việc tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe hoặc liên quan đến một vấn đề sức khỏe nhất định, như:
hành vi tập thể dục buổi sáng, hành vi về dinh dưỡng, về vệ sinh môi trường,…
Hành vi sức khỏe của cá nhân là trọng tâm của quá trình GDSK và NCSK.
Gochman (1982) đã định nghĩa hành vi sức khỏe là “những thuộc tính cá nhân như niềm tin, sự mong đợi, động lực thúc đẩy, giá trị, nhận thức, kinh nghiệm; những đặc điểm về tính cách bao gồm tình cảm, cảm xúc; các loại hành vi hành động và thói quen có liên quan đến sự duy trì, phục hồi và cải thiện sức khỏe có khi rõ ràng, công khai, có thể quan sát được như hút thuốc lá, cũng có khi là những trạng thái cảm xúc không dễ dàng quan sát được như thái độ đối với việc dùng mũ bảo hiểm khi đi xe máy…
Hành vi của phụ nữ ở khu vực biên giới thị xã Tân Châu trong việc phòng chống HIV/AIDS là những hành động hay cách họ xử lý trong cuộc sống hàng ngày để phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS. Hành vi khi tiếp xúc với người nhiễm là tôn trọng, thân thiện hay né tránh (tạo một khoảng cách nhất định). Hành vi đúng hay không đúng trong việc sử dụng BCS khi QHTD. Hành vi khi tiếp xúc và xử lý các vật dụng có dính máu của những người bị nhiễm HIV/AIDS.
2.4 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và hành vi
Thông thường để làm được một điều gì người ta phải có hiểu biết đầy đủ về điều đó. Tuy nhiên không phải có hiểu biết thì người ta sẽ làm, giữa biết và làm còn có thái độ muốn hay không muốn.
Rất nhiều trường hợp biết và làm của con người trái ngược với nhau.
Kiến thức, thái độ là hai yếu tố quan trọng trong tiến trình thay đổi hành vi. Xét theo logic hành động thì để có hành vi có lợi cho sức khỏe thì người dân phải:
− Có hiểu biết về lợi và hại của từng loại hành vi và biết cách thực hiện hành vi mới.
− Có thái độ hướng tới hành vi mới để có một sự thay đổi tốt hơn.
− Có kỹ năng thực hành chính xác và phù hợp với kiến thức và thái độ[4]
26 2.5 Các khái niệm về HIV/AIDS
Theo luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Khóa XI, Luật số: 64/2006/Q11, ngày 29 tháng 06 năm 2006.
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. Vi rút HIV có dạng hình cầu, kích thước rất nhỏ (100-200nm), không nhìn thấy được bằng kính hiển vi thông thường mà phải dùng kính hiển vi điện tử có độ phóng đại hàng chục ngàn lần.
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thu và có thể dẫn đến tử vong.
Các con đường lây nhiễm HIV:
Cho đến nay, HIV/AIDS vẫn được xác định chỉ lây qua ba đường chính: đường máu, đường tình dục và mẹ truyền sang con. Hành vi của con người nếu không đảm bảo an toàn đối với ba đường lây này thì HIV sẽ lây truyền từ người này sang người khác rất dễ dàng. Một người không biết mình đã bị nhiễm HIV có thể làm lây HIV cho nhiều người khác một cách vô tình hay cố ý và sẽ tạo nên “cái chết cộng đồng”. Sự lây nhiễm HIV chủ yếu là các hành vi không an toàn nếu chỉ dựa vào ngành y tế thì sẽ không thể nào tác động một cách toàn diện và triệt để vào nhận thức về HIV/AIDS cũng như sự thay đổi hành vi an toàn của cộng đồng. Cụ thể như:
- Lây truyền HIV qua đường máu: khả năng lây truyền HIV qua đường máu là rất cao (gần 100%), vì vi rút HIV có nhiều trong máu, luôn hiện diện trong máu của người nhiễm HIV, chúng tồn tại và sinh sôi nảy nở trong suốt thời gian bệnh nhân HIV còn sống. Truyền máu có nhiễm HIV, dùng chung bơm kim tiêm hoặc các vật sắc nhọn xuyên, chích qua da có dính máu của người khác như: tiêm chích ma túy, cắt, lể, nẻ, xâm mình, xâm mài,… và tiếp xúc trực tiếp với máu của người nhiễm HIV qua vết thương hở, tổn thương ở chân răng, viêm nướu, viêm lợi răng làm lây truyền HIV khi hôn sâu. Tuy
27 nhiên, tỷ lệ lây truyền HIV qua đường máu ở Tân Châu không cao so với lây truyền qua đường TD.
- Lây truyền HIV qua đường tình dục: vi rút HIV có nhiều trong tinh dịch, quan hệ TD không an toàn với nhiều người hoặc với người nhiễm HIV, không sử dụng bao cao su hoặc sử dụng BCS không đúng cách có khả năng làm lây nhiễm HIV. Bên cạnh đó, khả năng lây nhiễm ở nữ giới sẽ cao hơn so với nam, vì bộ phận sinh dục nữ luôn là nơi chứa tinh dịch và rất dễ bị viêm nhiễm một số bệnh phụ khoa gây tổn thương niêm mạc âm đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho vi rút HIV đi thẳng vào máu. Thực tế hiện nay cho thấy, bệnh nhân nhiễm HIV tại thị xã Tân Châu chủ yếu bị lây truyền qua đường TD là 85%.
- Lây truyền HIV từ mẹ sang con: người mẹ nhiễm HIV, mang thai có khả năng lây truyền HIV cho con với tỷ lệ từ 30 % đến 40 %, sự lây truyền này diễn ra ở ba giai đoạn: lúc mang thai (25%), khi sinh đẻ (50%); cho con bú (25%). [25]
Cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS Phòng lây nhiễm HIV qua đường máu:
- Không dùng chung bơm, kim tiêm khi tiêm hay chích. Nên sử dụng bơm kim tiêm dùng 1 lần rồi bỏ đi. Tốt nhất là không tiêm chích ma tuý.
- Hạn chế truyền máu, sử dụng các loại thuốc tiêm chích.
- Không dùng chung những vật xuyên qua da và niêm mạc như: bàn chải đánh răng, dao cạo râu, kim xăm mình, kim xuyên lỗ tai, …
- Khi đi cắt tóc không nên sử dụng chung lưỡi dao cạo, đồ dùng ngoái tai vì những đồ dùng này vẫn có thể gây tổn thương da và lây nhiễm HIV/AIDS.
Phòng nhiễm HIV qua đường tình dục
- Khi chưa có đủ điều kiện, không biết rõ về lịch sử của người tình không nên vội vàng có quan hệ tình dục. Việc tránh có quan hệ tình dục là biện pháp phòng tránh HIV/AIDS và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục hiệu quả nhất.
- Đã có bạn tình hoặc đã lập gia đình, việc sống chung thuỷ đối với cả hai người là cách phòng tránh hữu hiệu nhất cho việc lây nhiễm HIV/AIDS và nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục.
28 - Trong trường hợp có quan hệ với một người mà mình không biết rõ về lịch sử tình dục của họ thì việc dùng bao cao su đúng cách là rất cần thiết. Cần phải dùng bao cao su khi có quan hệ tình dục với tất cả các đường âm đạo, miệng và hậu môn.
- Phát hiện sớm và chữa trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS vì những tổn thương do nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục sẽ là cửa vào lý tưởng cho HIV.
Phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con:
- Người phụ nữ bị nhiễm HIV thì không nên có thai, nếu đã có thai thì không nên sinh con.
- Trường hợp muốn sinh con, cần đến cơ sở y tế để được tư vấn về cách phòng lây nhiễm HIV cho con.
- Sau khi đẻ nếu có điều kiện thì nên cho trẻ dùng sữa bò thay thế sữa mẹ.
Kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS
Là sự hiểu biết cũng như cách phản ứng thông qua lời nói, cử chỉ, nét mặt đặc biệt là hành động trong việc ngăn ngừa và đối phó với tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS.