AN GIANG QUA 40 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1975-2015)
5.1. Xây dựng chính quyền, bảo vệ biên giới trong những năm 1975-1986 5.1.1. Xây dựng chính quyền, giữ vững an ninh xã hội
Trong Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) xác định nhiệm vụ chiến lược của cả nước trong giai đoạn mới là hoàn thành thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, còn nêu bật nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là xây dựng chính quyền cách mạng ở các cấp, kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội.
Đứng trước tình hình và nhiệm vụ trên đã đặt ra cho An Giang là phải nhanh chóng xây dựng chính quyền cách mạng, giữ vững an ninh trật tự xã hội, khôi phục kinh tế và ổn định đời sống cho nhân dân. Thực hiện Quyết định số 19 của Bộ Chính trị ngày 20-12-1975 và Nghị định của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, tháng 2-1976, tỉnh An Giang được lập lại trên cơ sở của hai tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hậu, bao gồm các huyện Châu Thành, Huệ Đức, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Phú Châu, Phú Tân, Chợ Mới và 2 thị xã Long Xuyên, Châu Đốc. Tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên. Chính quyền các cấp được chuyển từ Uỷ ban quân quản sang Uỷ ban nhân dân và từng bước được củng cố vững chắc. Bên cạnh công tác xây dựng chính quyền, công tác giữ vững chính trị an ninh cũng được quan tâm và tiến hành có kết quả, xây dựng lực lượng vũ trang kết hợp với xây dựng quốc phòng an ninh nhân dân và phong trào quốc phòng toàn dân.
Thực hiện chủ trương trên, từ năm 1975-1985, các ngành chức năng lần lượt phá vỡ nhiều vụ án phản động lớn nhỏ, trừng trị những tên phản động đội lốt tôn giáo, cầm đầu các đảng phái, làm gián điệp cho đế quốc,… lực lượng quốc phòng an ninh được xây dựng và củng cố vững chắc. Gắn với xây dựng chính quyền là công tác vận động quần chúng. Mặc dù, tình hình đất nước còn đứng trước nhiều khó khăn nhưng với tinh thần yêu nước và cách mạng, quần chúng đã chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Nhân dân chăm lo xây dựng đời sống mới, phát triển các tổ chức và đoàn thể cách mạng.
Sau giải phóng, tổ chức chi bộ ở các cơ sở còn mỏng, toàn Đảng bộ An Giang chỉ có 1.180 đảng viên, tập trung chủ yếu là ở Tri Tôn, Tịnh Biên và Phú Châu, trong đó có 17 xã chưa có chi bộ. Do vậy, Đảng bộ quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng, phát triển Đảng để nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Đến năm 1985, toàn tỉnh có 6.375 đảng viên, trên 6.600 cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ từ trung cấp kỹ thuật, cao đẳng, đại học. Đây là lực lượng hùng hậu giúp cho An Giang bước vào thời kỳ xây dựng và đổi mới đất nước.
5.1.2. Bảo vệ biên giới Tây Nam
Cả nước đang hân hoan ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước thì bọn phản động Pôn Pốt – Iêng Xary đã mở các cuộc lấn chiếm và gây hiềm khích trên toàn biên giới Tây Nam. Ở An Giang, từ ngày 02-5-1975, lính Pônpốt dùng súng cối, pháo bắn vào nội địa huyện Tịnh Biên. Từ 7 đến 19-5-1975, địch tấn công vào xã Vĩnh Gia (Tịnh Biên), Vĩnh Xương (Phú Châu), lực lượng vũ trang đã phản công và đuổi chúng ra khỏi lãnh thổ.
Tình hình sau đó càng trở nên phức tạp khi bọn Pônpốt đuổi hàng vạn người Việt kiều, Hoa kiều từ Campuchia về An Giang. Đứng trước tình hình đó, tỉnh An Giang chủ trương giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình với các tỉnh Campuchia, giáp biên giới với An Giang.
Bước sang năm 1977, đêm 30-4 quân Pônpốt tiến vào đất An Giang và cho đồng loạt nổ súng tấn công vào 14 xã biên giới. Hành động của địch rất dã man như bắt giết, chặt đầu, mổ bụng, moi gan cả người già lẫn người trẻ, hãm hiếp và giết những phụ nữ bị bắt, đồng thời cướp của, đốt nhà, vơ vét tài sản của nhân dân.
Thực hiện chủ trương của cấp trên, ngày 15-2-1977, lực lượng vũ trang trên địa bàn đồng loạt nổ súng tấn công địch, mở đầu chiến dịch, mở rộng địa bàn trên đất địch vào sâu 2km. Tuy nhiên, để tỏ rõ thiện chí và tạo điều kiện cho đấu tranh ngoại giao, ngày 4-01-1978, toàn bộ lực lượng vũ trang của ta rút về nước. Trong tháng 01- 1978, Pônpốt dùng lực lượng lớn tấn công vào Phú Châu và Bảy Núi, sau đó, Quân khu quyết định trận đánh lớn ở khu vực Bảy Núi. Suốt 10 giờ chiến đấu, bộ đội giành thắng lợi và đã quét sạch quân xâm lược ra khỏi biên giới.
Theo lời kêu gọi của nhân dân Campuchia, lực lượng vũ trang Tỉnh đã đánh chiếm toàn bộ huyện Rêminh và giải phóng Kandal, chiếm và giải phóng 4 huyện và nửa huyện khác thuộc tỉnh Tà Keo và Kandal, cứu hơn 400.000 người dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pônpốt. Đến tháng 01-1979, bộ đội tình nguyện cùng lực lượng nổi dậy ở Campuchia đã chiếm Thủ đô Phnôm Pênh, chính quyền phản động Pônpốt chạy về biên giới Thái Lan, đất nước Campuchia giải phóng.
5.1.3. Thực hiện nghĩa vụ quốc tế
Theo phân công, tỉnh An Giang sẽ giúp tỉnh Tà Keo thực hiện nhiệm vụ truy quét tàn quân Pônpốt, giúp xây dựng chính quyền các cấp, ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện nhiệm vụ trên, tháng 9-1979, quân tình nguyện của tỉnh An Giang đã mở nhiều đợt truy quét tàn quân địch, đưa dân trở về quê cũ, đồng thời cho đoàn chuyên gia giúp cho tỉnh Tà Keo xây dựng lại bộ máy chính quyền. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành chỉ thị cấp trên, lực lượng An Giang rút quân về nước.
Đến tháng 7-1988, quân tình nguyện của tỉnh An Giang đã giúp tỉnh Tà Keo hoàn thành các nhiệm vụ quốc tế trong sáng của mình.
5.2. Tiến hành công cuộc đổi mới trong những năm 1987-2015
5.2.1. Những chủ trương, chính sách đổi mới chủ yếu của Đảng bộ 5.2.1.1. Chính sách về kinh tế nông nghiệp
Trên nguyên tắc nhất quán những quan điểm của Đảng, An Giang đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương, đề ra những chủ trương, quyết sách đúng, táo bạo với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Trong đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ tỉnh đã nêu chủ trương mới về “tư tưởng tam nông”
(chính sách tam nông) là nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Trong đó, xác định nông nghiệp là mũi nhọn gắn với xây dựng nông thôn mới và nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới ở nông thôn. Nội dung chủ yếu là đưa ruộng đất, máy móc nông nghiệp về hộ nông dân, lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất cơ bản.
Thực hiện trên tinh thần đổi mới của Nghị quyết Đại hội IV của Đảng bộ Tỉnh, trước hết về chính sách ruộng đất, An Giang chủ trương (Nghị quyết 1987) “thực hiện chính sách giao ruộng đất và đất núi hoang hoá cho gia đình và tập thể, xoá khái niệm xâm canh tạo điều kiện khai thác các vùng hoang hoá, miễn thuế theo chính sách ai có vốn, lao động thì cho nhận đất để sản xuất, trồng tràm, cây công nghiệp dài ngày, có giá trị xuất khẩu và cây gỗ, với diện tích ruộng và thời gian dài”.
Bên cạnh đó, An Giang còn chủ trương khôi phục quyền sử dụng đất với quyền sử dụng các tư liệu sản xuất khác, cho phép sang nhượng và kế thừa quyền sử dụng đất để người dân phấn khởi, yên tâm sản xuất. Đồng thời, dẫn đến giải thể một cách tự nhiên các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất, hình thành kinh tế nhiều thành phần ở nông thôn.
Năm 1988, để khai thác hết tiềm năng nông nghiệp, An Giang tập trung khai phá vùng Tứ giác Long Xuyên, bắt đầu từ các xã Vĩnh Chánh (Thoại Sơn), Vĩnh Nhuận (Châu Thành),… lúa mùa được chuyển sang lúa tăng vụ Hè Thu. Việc làm này đã đưa sản lượng lúa của Tỉnh tăng lên, góp phần đưa An Giang trở thành tỉnh đạt trên 1 triệu tấn lương thực (1990), sớm là một vựa lúa lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước.
Công tác về khuyến nông và cho nông dân vay vốn (thế chấp và tín chấp) ở An Giang đã thúc đẩy phong trào thâm canh tăng vụ, đạt sản lượng cao nhất cả nước, giúp cho nông nghiệp khởi sắc, đời sống nông thôn từng bước thay đổi, nông dân phấn khởi. Kết quả này đã khẳng định “chính sách tam nông” An Giang là phù hợp với quy luật, phù hợp với tình hình thực tế của nhân dân An Giang.
5.2.1.2. Về công thương nghiệp
Từ năm 1987, An Giang thực hiện chính sách một giá, xoá bỏ các trạm kiểm soát kinh tế, xoá bỏ sự bao cấp của Nhà nước qua giá, đồng thời cũng kiểm soát hành chính quan liêu, tránh can thiệp quá sâu vào các hoạt động kinh tế. Thực hiện chính sách tự do thương mại với nhiều thành phần kinh tế, đầu tư trực tiếp các cơ sở hạ tầng và dịch vụ công nghiệp, đồng thời tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho khu vực
công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển. Ngoài ra, An Giang còn ban hành chính sách khuyến khích như ưu tiên cung ứng điện nước, cho vay vốn, giới thiệu sản phẩm, thủ tục kinh doanh,… Những chính sách trên đã thúc đẩy ngành công nghiệp và thủ công nghiệp ngày càng phát triển.
5.2.1.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng
An Giang cho tập trung đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như thuỷ lợi, giao thông vận tải, điện, bưu điện, bệnh viện, trường học,… có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Từ 1987 đến 1993, kết quả là đào đắp 18 công trình kênh cấp I, 375 công trình kênh cấp II, 14.370 công trình kênh cấp III và nội đồng, 39 công trình cống, 17 trạm bơm và 3 hồ chứa nước. Do công tác thuỷ lợi phát triển đã tạo điều kiện cho công tác khai hoang, tăng cao năng suất mùa vụ.
An Giang cùng với cả nước chuyển sang cơ chế thị trường, giao thông trở thành huyết mạch gắn sản xuất với thị trường, thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho nhân dân, bảo vệ an ninh quốc phòng vững chắc, bên cạnh đó còn tạo ra sức phát triển đồng đều giữa các vùng giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi và giữa các dân tộc với nhau. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, An Giang đã đẩy mạnh cải tạo và xây dựng giao thông, các cầu tre ở nông thôn được thay bằng cầu ván, cầu ván được thay bằng bê tông.
Như vậy, ngoài hai ngành mũi nhọn là thuỷ lợi và giao thông nông thôn, An Giang còn quan tâm phát triển điện nông thôn, mạng lưới thông tin liên lạc, nước sinh hoạt, trường học, bệnh viện, chợ nông thôn,…
5.2.1.4. Chính sách giải quyết việc làm
Từ năm 1986 đến năm 1995, An Giang đã giải quyết công ăn việc làm cho 502.695 người lao động bằng nguồn vốn lồng ghép cho việc giải quyết việc làm, kết hợp với chương trình khuyến nông, khuyến công, đào tạo tay nghề hướng dẫn hộ gia đình kế hoạch làm ăn, di dân vào các xã kinh tế mới, khai hoang để phát triển sản xuất. Tỉ lệ thất nghiệp của Tỉnh giảm xuống đáng kể, giảm bớt tình trạng thiếu việc làm ở thành thị và nông thôn, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện.
5.2.2. Những thành tựu chủ yếu của quá trình thực hiện công cuộc đổi mới (1986-2015)
5.2.2.1. Khái quát chung
Theo kết quả điều tra của Cục Thống kê An Giang thì GDP bình quân đầu người trong toàn Tỉnh năm 1991 là 1,161 triệu đồng tăng lên 2,769 triệu năm 1995, lên 4,255 triệu năm 1998. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống đáng kể.
Về phương tiện đi lại, việc vận chuyển hàng hoá ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, mạng lưới giao thông được nâng cấp. Hầu hết các tuyến đường đều được đầu tư, xây dựng lại, cầu cống được củng cố và xây dựng mới.
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ được tăng cường đáng kể. Các dịch bệnh đã được khống chế và dập tắt, các chương trình tiêm chủng mở rộng, chất lượng khám và điều trị bệnh ở các tuyến được nâng lên. Trung tâm Tim mạch và bệnh viện tư nhân Hạnh Phúc là những mô hình được Bộ Y tế quan tâm nghiên cứu và nhân rộng. Việc chủ trương đa dạng hoá và xã hội hoá công tác y tế, kết hợp giữa y học dân tộc và y học hiện đại để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân.
Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, An Giang thực hiện tốt chính sách như “đền ơn đáp nghĩa”, “xoá đói giảm nghèo”, “bảo trợ xã hội”,… Từ năm 1987 đến năm 2000, An Giang đã cất mới và sửa chữa nhiều căn nhà tình nghĩa, nhà bia ghi danh liệt sĩ, tạo quỹ xoá đói giảm nghèo để cho hộ nghèo vay làm ăn đạt hiệu quả tốt.
Giáo dục An Giang có bước phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng sau giai đoạn suy thoái 1986-1991. Số trẻ huy động đến trường tăng nhanh, hệ thống trường lớp phát triển phong phú và đa dạng như trường công, bán công, dân lập, trường dân tộc nội trú, tiểu học bán trú, trẻ em khuyết tật,… được hình thành, củng cố và phát triển. Ngày 30-12-1999, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học An Giang, đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh An Giang nói riêng, Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Bên cạnh đó, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng đào tạo hàng chục ngàn lượt cán bộ, đảng viên có trình độ từ sơ cấp đến cao cấp chính trị, đáp ứng về cơ bản yêu cầu lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành của Tỉnh. Đội ngũ giáo viên các cấp từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông lẫn cao đẳng, đại học ngày càng tăng mạnh, đời sống ngày càng được cải thiện nên gắn bó với nghề nghiệp và chất lượng dạy học ngày càng nâng cao.
Hoạt động văn hoá – thông tin ở An Giang đạt được nhiều thành quả đáng kể, đáp ứng được phần lớn nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động sáng tạo, văn hoá nghệ thuật phong phú, đa dạng về hình thức lẫn nội dung. Hệ thống trung tâm văn hoá – thông tin các cấp giữ vai trò quan trọng cho các hoạt động mang tính chất cộng đồng. Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là báo chí, phát thanh – truyền hình được mở rộng; thư viện An Giang có nhiều đầu sách hơn. Bên cạnh đó, lễ hội truyền thống văn hoá, lịch sử được tổ chức ngày càng phong phú.
Toàn tỉnh An Giang (2015) có tổng 1287 di tích, trong đó có 26 di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia (02 di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt) và 46 di tích cấp tỉnh được Bộ Văn hoá công nhận. Phong trào thể dục thể thao phát triển mạnh, với số lượng người tập luyện ngày càng tăng lên.
Về nền quốc phòng toàn dân và an ninh ở địa phương ngày càng được củng cố, phát triển, đồng thời, tích cực chủ động triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm. Đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền vững chắc ở các tuyến biên giới, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ quan hệ tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị với nước bạn Campuchia.
Chính sách hậu phương trong quân đội, phong trào đền ơn đáp nghĩa luôn được nhân dân An Giang thực hiện có hiệu quả, làm cho công tác an ninh, quốc phòng toàn dân ngày càng phát triển vững chắc. Đến năm 2000, toàn Tỉnh đã ghi danh, tặng thưởng,… cho 232 bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 3.903 liệt sĩ, 4.467 thương bệnh binh, 25.443 người và gia đình có công với cách mạng.
5.2.2.2. Thành tựu đổi mới và quá trình phát triển kinh tế – xã hội
* Thời kỳ trước đổi mới
Nền kinh tế thực hiện theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, nóng vội trong cải tạo quan hệ sản xuất, kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
* Thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 1990
Thực hiện chủ trương đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường, Tỉnh mạnh dạn thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ mọi rào cản cho phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá. An Giang thực hiện bỏ giá chỉ đạo, thực hiện thuận mua vừa bán, bù giá vào lương cho cán bộ công chức, xoá quy định về xâm canh, các trạm ngăn sông cấm chợ.
Quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”, tư tưởng tam nông: nông nghiệp là nền tảng và là nền tảng và là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể trong quá trình đổi mới, nông thôn là địa bàn chiến lược. Với quyết định số 303, UNBD Tỉnh đã tiến hành giao đất ruộng cho nông dân trực tiếp canh tác, tôn trọng quyền sử dụng hợp pháp ruộng đất lâu dài và ổn định của nông dân để phát triển sản xuất.
Hệ thống ngân hàng thương mại tách khỏi ngân hàng nhà nước, tách cơ quan thuế ra khỏi tài chính, hệ thống kho bạc ra đời đã phục vụ tốt và đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế của Tỉnh.
Kết quả năm 1988, sản lượng lương thực vượt ngưỡng 1 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 60 triệu USD, gấp 9 lần năm 1985. Như vậy, sau cải cách một thời gian ngắn, nền kinh tế được phục hồi, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
* Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2000
Nền kinh tế phát triển với nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nhất là gia nhập khối ASEAN, xã hội đã có bước phát triển đáng kể.
Cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội có bước phát triển, hệ thống thuỷ lợi được đầu tư mạnh. Hệ thống kênh tạo nguồn, kênh xổ phèn, kênh nội đồng, đê đập và các hồ chứa nước trên núi đã được đầu tư, xây đắp và sử dụng có hiệu quả nguồn nước mặn, nước mưa, nước ngầm, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển nhanh. Đặc biệt, vùng Tứ giác Long Xuyên có hệ thống các công trình kênh T4, T5, T6 và các đập Tha La, Trà Sư, có tác dụng ngăn lũ đầu mùa, thoát lũ ra biển Tây, đồng thời bảo vệ