QUÂN VÀ DÂN AN GIANG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)

Một phần của tài liệu Lịch sử địa phương an giang (Trang 24 - 32)

LƯỢC SỬ VÙNG ĐẤT NAM BỘ VÀ QUÁ TRÌNH MỞ ĐẤT, GIỮ ĐẤT CỦA NHÀ NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP ĐẶT

ÁCH ĐÔ HỘ (TỪ THẾ KỶ I ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XVIII)

2.1. Lược sử vùng đất Nam Bộ trước năm 1757

Trong thời kỳ lịch sử cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, xuất hiện ba trung tâm văn minh và nhà nước vào loại sớm nhất Đông Nam Á, đó là: Trung tâm văn hoá Đông Sơn với nhà nước Văn Lang (miền Bắc); trung tâm văn hoá Sa Huỳnh với nhà nước Lâm Ấp (Champa) (miền Trung); và trung tâm văn hoá Óc Eo với nhà nước Phù Nam (miền Nam).

2.1.1. Giai đoạn từ thế kỷ I đến thế kỷ VII

Căn cứ các ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc, vào khoảng những thế kỷ đầu công nguyên ở phía Nam của nước Lâm Ấp (Champa), tương ứng với vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay, đã tồn tại một quốc gia có tên gọi là Phù Nam. Các cư dân Phù Nam chính là chủ nhân của nền văn hoá Óc Eo.

Phù Nam là một vương quốc cổ ở Đông Nam Á, tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Thời kỳ thịnh vượng nhất của vương quốc, lãnh thổ bao gồm phía Nam Trung Bộ (Việt Nam) về phía Tây đến sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phía Bắc bán đảo Mã Lai. Vương quốc này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ VII (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp vì bị Chân Lạp đánh bại. Phần phía Nam Bộ Việt Nam được gọi là Thuỷ Chân Lạp để phân biệt với vùng Lục Chân Lạp, tức vùng đất gốc của Chân Lạp. Từ đây, vùng đất Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Chân Lạp. Nhưng trên thực tế, việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn.

Những phát hiện mới về văn hoá Óc Eo trong thời gian gần đây cho thấy nền văn hoá này phân bố đều khắp trên vùng đất Nam Bộ, ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và nhiều địa điểm khác thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Hơn nữa, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều chứng tích của giai đoạn văn hoá tiền Óc Eo trên đất Nam Bộ, chứng tỏ đây là một nền văn hoá có nguồn gốc bản địa mà trung tâm là vùng đất Nam Bộ, đồng thời có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài. Trong đó, ngoài việc quan hệ thường xuyên với các vùng lân cận, dấu tích vật chất cho thấy sự liên hệ khá mật thiết với Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải.

Trong quá trình mở rộng ảnh hưởng từ thế kỷ III đến thế kỷ VI, Phù Nam đã phát triển thành đế chế lớn mạnh. Theo sử liệu Trung Hoa, các vua Phù Nam vào thời kỳ này đã thôn tính hơn 10 nước, mở rộng lãnh thổ đến 5,6 nghìn dặm. Những tiểu quốc này nằm trên bán đảo Mã Lai và một phần vùng hạ lưu sông Mê Nam. Tuy

nhiên, mức độ phụ thuộc của các tiểu quốc này không giống nhau, được gọi là thuộc quốc hoặc chi nhánh của Phù Nam.

Trong thư tịch cổ của Trung Hoa phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp. Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay của Việt Nam, cư dân cụ thể là người Mã Lai – Đa Đảo có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển. Trong thời kỳ thịnh vượng, Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng, chi phối toàn bộ vùng vịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thông huyết mạch từ Nam Đông Dương sang Ấn Độ.

Cư dân Phù Nam là một cộng đồng đa chủng tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hoá.

Vương quốc Phù Nam là nơi gặp gỡ giao lưu giữa nhiều chủng tộc, tộc người thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau, trong đó yếu tố nhân chủng của nhóm Mã Lai – Đa Đảo nổi trội chiếm ưu thế.

Sau thời kỳ phát triển rực rỡ, đế chế Phù Nam suy yếu và bắt đầu quá trình tan rã vào cuối thế kỷ VI. Chân Lạp do người Khmer xây dựng, lúc bấy giờ là ở vùng trung lưu sông Mê Kông và khu vực phía Bắc Biển Hồ, là một thuộc quốc của Phù Nam. Mặc dù là một thuộc quốc nhưng Chân Lạp đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỷ thứ VI và nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỷ VII (627).

Như vậy, Phù Nam là một quốc gia có cư dân và truyền thống văn hoá riêng của mình. Với hiểu biết khoa học cho đến tận ngày nay có thể thấy đó là một quốc gia hình thành và phát triển trên vùng đất có vị trí giao thoa nên có nhiều lớp cư dân đan xen. Như vậy, từ chỗ là một vùng đất thuộc Phù Nam – một quốc gia độc lập và hùng mạnh, sau năm 627, vùng đất này đã bị Chân Lạp đánh chiếm.

2.1.2. Giai đoạn từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI

Khi vùng đất Nam Bộ thuộc Chân Lạp, trong một số sách cổ Trung Hoa đã có tên gọi “Thuỷ Chân Lạp” để phân biệt với vùng “Lục Chân Lạp”, tức vùng đất gốc của Chân Lạp.

Cũng từ đây, vùng đất Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Chân Lạp. Nhưng trên thực tế, việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn. Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, dân số còn ít ỏi, người Khmer khi đó khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn một vùng đồng bằng mới bồi đắp, còn ngập nước và sình lầy. Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức.

Theo những tài liệu bi kí, đến thế kỷ thứ VIII tại vùng trung tâm của Phù Nam trước đây vẫn còn tồn tại tiểu quốc do người Phù Nam cai quản. Vào nửa sau thế kỷ VIII, Thuỷ Chân Lạp bị người Java tấn công và kiểm soát đến năm 802 thì kết thúc.

Một trở ngại cho việc cai quản và phát triển vùng Thuỷ Chân Lạp là tình trạng chiến tranh diễn ra thường xuyên giữa Chân Lạp với Champa. Trong khi đó, chính quyền Chân Lạp dồn sức phát triển vùng trung tâm truyền thống ở khu vực Biển Hồ, trung

tâm sông Mê Kông và hướng nỗ lực mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya. Như vậy, trong suốt khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ sang tận Lào (về phía Nam) và bao trùm cả khu vực sông Chao Phaya. Tuy nhiên, tính từ những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất Nam Bộ trước thế kỷ XVI là không nhiều và ảnh hưởng của nền văn minh Angkor cũng không đậm nét.

Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt, theo Chu Đạt Quan – sứ thần nhà Nguyễn của Trung Hoa, được cử tới Chân Lạp và ghi lại trong sách Chân Lạp phong thổ ký – vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất hoan vu, với: “Từ chỗ vào Chân Bồ (vùng Bà Rịa ngày nay) trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy tram dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây. Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rợn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy. Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm. Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng”.

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của vương quốc Xiêm từ phía Tây và có lúc bị quân đội Ayuthaya (hình thành vào giữa thế kỷ XIV) chiếm đóng. Sang thế kỷ XVI, nhất là thế kỷ XVII, do có sự can thiệp của Xiêm nên triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc. Vương quốc này bước vào thời kỳ suy vong. Trong bối cảnh như vậy, Chân Lạp hầu như không có khả năng kiểm soát đối với vùng ngập nước ở phía Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam – Thuỷ Chân Lạp. Trên thực tế, khả năng kiểm soát và quản lý vùng đất này của vương triều Chân Lạp giảm sút dần.

2.1.3. Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII

Vào thế kỷ XVII, cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn diễn ra tàn khốc, nhân dân đói khổ, bỏ quê hương vào Nam sinh sống, chủ yếu là nông dân nghèo ở vùng đất Thuận – Quảng. Vùng đất đầu tiên họ đến là Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nam (Biên Hoà), Gia Định (Sài Gòn), về sau lưu dân định cư dọc theo sông Cửu Long, khai phá ruộng đất ven theo bờ sông hay cù lao.

Năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái mình là công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II làm hoàng hậu của vương triều Chân Lạp. Dưới sự bảo trợ của bà hoàng hậu người Việt (Ngọc Vạn), cư dân Việt từ vùng Thuận – Quảng vào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai một ngày thêm đông. Đây là cơ sở thuận lợi cho chúa Nguyễn từng bước hợp pháp hoá sự kiểm soát của mình một cách hoà bình đối với vùng đất đã được người Việt khai khẩn.

Năm 1623, chúa Nguyễn đã cho lập thương đếm ở vị trí tương ứng với Sài Gòn (Tp. Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thế.

Cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong thời gian này cũng xuất hiện một số người Hoa cũng đến khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống trên vùng đất Nam Bộ. Nhân sự kiện nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Hoa, năm 1679, một số quan lại nhà Hán đem 3.000 và hơn 50 chiến thuyền quân cùng gia đình đến Đàng Trong xin cư trú. Cụ thể là nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hoà mở đất, lập phố, còn nhóm Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho “dựng nhà, lập xóm”.

Như vậy, cùng với Sài Gòn – Gia Định, Biên Hoà và Mỹ Tho cũng đã dần dần trở thành những trung tâm cư dân và kinh tế phát triển dưới thời cai quản của chúa Nguyễn ở miền Đông và Tây Nam Bộ.

Năm 1680, Mạc Cửu ở Quảng Đông (Trung Quốc) cũng cùng 200 người đến Hà Tiên khai khẩn, lập phố chợ. Mạc Cửu đã biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên – Long Xuyên – Bạc Liêu – Cà Mau (được gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực cát cứ của dòng họ mình, không còn lệ thuộc vào chính quyền Chân Lạp nữa.

Những sự kiện trên cho thấy, trong thời kỳ này vùng đất Nam Bộ đã trở thành nơi tranh chấp ảnh hưởng và quyền hành của hai thế lực vương triều Chân Lạp và chúa Nguyễn, trong đó vai trò của Chân Lạp ngày càng lu mờ, còn vai trò của chúa Nguyễn thì ngày càng được khẳng định, mở rộng và củng cố.

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam kinh lược vùng đất Đồng Nai, lập phủ Gia Định. Như vậy, chúa Nguyễn đã xác lập quyền quản lý về mặt nhà nước đối với xứ Đồng Nai (huyện Phúc Long) – Sài Gòn (huyện Tân Bình) sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Đàng Trong. Đến đây, Sài Gòn – Gia Định đã trở thành trung tâm hành chính – chính trị và đang từng bước hình thành một trung tâm kinh tế và văn hoá của vùng đất mới. Sự kiện năm 1698 là một cột mốc quan trọng trong quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của chúa Nguyễn đối với vùng đất Nam Bộ.

Năm 1699, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh đem quân vào Tân Châu đánh dẹp sự quấy phá của vua Chân Lạp, đồng thời ông cho một số binh lính xuất ngũ và ở lại đây sinh sống.

Trước tình hình phát triển hết sức nhanh chóng của khu vực Gia Định dưới quyền quản lý của chính quyền chúa Nguyễn, Mạc Cửu càng ngày càng nhận thấy không thể dựa vào chính quyền chúa Nguyễn nếu muốn tiếp tục củng cố và mở rộng thế lực trên vùng đất này, nên đã đem toàn bộ vùng đất đang cai quản về với chúa Nguyễn (1708). Năm 1711, Tổng binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu đã đến cửa khuyết để tạ ơn và được chúa Nguyễn Phúc Chu hậu thưởng.

Việc vùng đất Hà Tiên được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong là sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình mở rộng chủ quyền của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ. Đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm các hải đảo ngoài Biển Đông và vịnh Thái Lan. Sau Mạc Cửu mất, chúa Nguyễn tiếp tục phong cho con của Mạc Cửu là Mạc

Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ không chỉ ra sức xây dựng và phát triển Hà Tiên trở thành một trung tâm kinh tế phồn thịnh, mà còn nêu cao ý thức bảo vệ chủ quyền với tư cách là người được giao trách nhiệm bảo vệ vùng biên giới cực Nam của đất nước.

Vào khoảng thời gian này, vương triều Chân Lạp lâm vào tình trạng nội bộ mâu thuẫn, chia rẽ. Có thế lực muốn dựa hẳn vào chúa Nguyễn, nhưng lại có thế lực muốn chạy theo vua Xiêm. Các thế lực đối địch luôn tìm mọi cơ hội thuận lợi để thôn tính lẫn nhau. Vùng đất Hà Tiên sau khi sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, một ngày càng hưng thịnh, trở thành nơi nhiều thế lực trong triều đình Chân Lạp tìm đến với hy vọng được cưu mang và nhờ cậy.

Cuối năm 1755, chính vua Chân Lạp là Nặc Nguyên đã “chạy về Hà Tiên, nương tựa Đô đốc Mạc Thiên Tứ”. Năm 1756, Nặc Nguyên xin hiến đất hai phủ Tầm Bồn, Lôi Lạp để chuộc tội, chúa Nguyễn chấp nhận. Năm sau, 1757, Nặc Nguyên qua đời. Người chú họ là Nặc Nhuận tạm trông coi việc nước nhưng ngay sau đó triều đình Chân Lạp rối loạn, đánh giết lẫn nhau. Người con của Nặc Nhuận (em họ Nặc Nguyên) là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đã cưu mang và giới thiệu Nặc Tôn lên chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn sắc phong cho Nặc Tôn làm vua nước Chân Lạp và sai Thiên Tứ cùng với các tướng sĩ hộ tống về nước. Bấy giờ, Nặc Tôn cắt năm phủ là Hương Úc, Cần Bột, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ hiến cho triều đình chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho năm phủ này vào quản hạt Hà Tiên.

Năm 1757, để tạ ơn chúa Nguyễn, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long “xứ Sa Đéc đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ cù lao ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu Đốc ở Hậu Giang đặt làm đạo Châu Đốc”. Thời gian này, Mạc Thiên Tứ xin chúa Nguyễn lập đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau) thuộc Hà Tiên.

Năm Đinh Sửu (1757), chúa Nguyễn tiếp quản vùng đất Tầm Phong Long do Nặc Ông Tôn dâng tặng (tức vùng từ Sa Đéc lên đến vùng biên giới đầu nguồn, từ phía Bắc đến phía Nam sông Tiền, sông Hậu hiện nay), lập nên các đơn vị hành chính miền Tây Nam Bộ: đạo Tân Châu, đạo Châu Đốc, đạo Đông Khẩu. Bên cạnh đó, năm phủ phía Tây Hà Tiên là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh cũng thuộc về chúa Nguyễn. Hà Tiên và Tầm Phong Long được sát nhập lãnh thổ Đàng Trong đánh dấu hành trình mở cõi về phía Nam hoàn thành, góp phần ngăn chặn tham vọng “Đông tiến” của người Xiêm, đập tan âm mưu khuynh đảo, cát cứ của người Hoa lưu vong, hoạch định biên giới quốc gia của cha ông ta tạo nên sự ổn định an ninh khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ XVIII.

Bảo vệ dân chúng khẩn hoang và xác lập chủ quyền là hai quá trình được các chúa Nguyễn tiến hành song song đồng thời, trong đó xác lập chủ quyền là để bảo vệ tính hợp pháp của công cuộc khẩn hoang và thành quả của công cuộc khẩn hoang chính là cơ sở để xác lập chủ quyền một cách thật sự. Chỉ sau hơn một thế kỷ, tính từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XVIII, toàn bộ khu vực Nam Bộ đã hoàn toàn

Một phần của tài liệu Lịch sử địa phương an giang (Trang 24 - 32)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(149 trang)