LỄ HỘI VÀ TÔN GIÁO BẢN ĐỊA AN GIANG

Một phần của tài liệu Lịch sử địa phương an giang (Trang 73 - 149)

6.1. Nhà doanh điền Nguyễn Cư Trinh 6.1.1. Vài nét về tiểu sử

Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) là một danh tướng, danh sĩ, nhà doanh điền dưới đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát và Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, tên tục là Nghi, hiệu Đạm Am, con danh sĩ Nguyễn Đăng Đệ. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống văn chương nên sự nghiệp của Nguyễn Cư Trinh cũng thành đạt, thi đỗ Hương cống (1740) và được bổ nhiệm làm Tri phủ phủ Triệu Phong (Quảng Trị). Năm 1750, Nguyễn Cư Trinh được cử giữ chức Tuần phủ Quảng Ngãi, nơi đây thường có mọi Đá Vách khuấy rối nên ông đem quân đánh dẹp, để khích lệ tinh thần quân sĩ tiến về phía Nam, ông có sáng tác quyển Sãi Vãi. Năm 1753, được chúa Võ Vương cử đi đánh Chân Lạp, từ đó ông đã góp phần đáng kể vào công cuộc khẩn hoang, mở cõi ở phương Nam, đặc biệt là An Giang - mảnh đất cuối cùng được sáp nhập vào phía Tây Nam Tổ quốc.

6.1.2. Cuộc đời binh nghiệp

Khi Nguyễn Cư Trinh nhậm chức Tuần phủ Quảng Ngãi (1750), giặc Đá Vách hung dữ, đánh phá ngăn chặn đoàn quân tiến về hướng Nam, vì lúc này phía Tây dãy Trường Sơn điệp điệp trùng trùng, phía Bắc quân Trịnh án ngữ, phía Đông biển cả mênh mông, cho nên ông không còn con đường nào khác là đưa nhân dân Nam Hà tiến về phía Nam. Với tài thao lược của mình, ông đã thành công trong công cuộc bình định mọi Đá Vách khi mới 35 tuổi. Lúc này, triều đình đã chú ý đến tài cầm quân và cách tổ chức quân đội của ông. Năm 1753, khi vua Chân Lạp là Nặc Ông Nguyên lấn át người Côn Man ở trong Nam, chúa Võ Vương sai Cai đội Thiện Chánh hầu (khuyết tên) làm Thống suất và Ký lục Nghi Biểu hầu Nguyễn Cư Trinh làm quan tham mưu lo việc đánh dẹp, trọn quyền điều động binh lính trong năm dinh sang đánh Chân Lạp. Khi quan quân tiến đến Bến Nghé thì cho tiến hành xây dựng dinh trại, luyện tập và kén chọn binh sĩ, chuẩn bị lương thảo, tính kế mở mang bờ cõi. Năm 1754, Nguyễn Cư Trinh và Thống suất chia làm hai đạo quân tiến lên, đi đến đâu, giặc tan chạy đến đó. Dân bốn phủ: Lôi Lạp (Gò Công), Tầm Bôn (Tân An), Cầu Nam (Ba Nam), Nam Vinh (Nam Vang: Phnôm Pênh), ra hàng, rồi hai ông chiêu phục người Côn Man để làm thanh thế.

Đến năm 1755, khi Trương Phước Du thay chức Thống suấtcùng với Nguyễn Cư Trinh và người Côn Man đi tiên phong đến đánh hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.

Nặc Ông Nguyên thua, chạy sang Hà Tiên nương nhờ Mạc Thiên Tứ xin hộ với Chúa Nguyễn, hiến hai phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội và bổ vào lệ triều cống đã bỏ ba năm về trước, cùng xin cho về nước. Chúa không cho, tuy nhiên, Nguyễn Cư Trinh dâng sớ can ngăn với kế hoạch “Tàm thực” và thuận theo lời tâu, Chúa nhận lấy hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (1756) và cho Nặc Ông Nguyên về nước.

Năm 1757, nhân lúc triều đình Chân Lạp rối loạn, Mạc Thiên Tứ đưa Nặc Ông Tôn về nước làm vua và được Võ Vương sắc phong chức Phiên Vương. Để tạ ơn chúa Nguyễn, Nặc Ông Tôn xin dâng đất Tầm Phong Long, đồng thời đem năm phủ Hương Úc, Cần Bột, Chưng Rừm, Sài Mạt và Linh Quỳnh làm quà tặng thêm cho Mạc Thiên Tứ.

Nguyễn Cư Trinh là người có công về cuộc phòng thủ lâu dài bằng kế sách

“Tàm thực”, với phương pháp “dĩ địch chế địch” nên đặt người Côn Man đồn trú Tây Ninh và Hồng Ngự (Châu Đốc), và lấy đất Tầm Phong Long đặt đạo Tân Châu (thượng nguồn sông Tiền), đạo Châu Đốc (thượng nguồn sông Hậu), đạo Đông Khẩu (Sa Đéc) ở phía nam sông Tiền. Các đạo ấy đặt dưới sự quản lý của dinh Long Hồ và đạo Đông Khẩu làm hậu thuẫn cho hai đạo tiền phương là Tân Châu và Châu Đốc để giữ gìn an ninh biên giới quốc gia. Nguyễn Cư Trinh còn phối hợp với Mạc Thiên Tứ đặt ra đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau) thuộc Hà Tiên.

Ngay từ buổi đầu, Nghi Biểu hầu là người quy hoạch đất đai, thiết chế hành chính, xây dựng đồn bảo, điều động binh lính bảo đảm an ninh vùng đất mới. Ông là người rất giàu sáng kiến, lo thắt chặt ngoại giao với Chân Lạp, mộ dân lập ấp, đoàn kết các cộng đồng cư dân trong vùng, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên vùng rạch hồ,... Nguyễn Cư Trinh bày ra lệ bắt thuyền các Hạt, bất luận lớn nhỏ, trước mũi phải khắc tên họ, quê quán, chủ thuyền và ghi bộ quan sở tại để tiện tra xét. Khi ghe thuyền ngày đêm qua sông va chạm nhau, gây thiệt hại và sinh ra kiện tụng, Nguyễn Cư Trinh đặt ra lệ khi đi ngược chiều, đến gần nhau phải hô “Bát” thì ghe mình đi bên phải, ghe kia cũng phải đi phía phải để thuận lái cho dễ điều khiển mà tránh nhau. Nếu ghe này đã hô “Bát” mà ghe kia còn đi về phía trái không tránh để đụng nhau làm hư hỏng, thì lỗi ấy thuộc về ghe không tránh kia.

6.1.3. Công lao

Sử triều Nguyễn ghi nhận, Nguyễn Cư Trinh đã thực hiện chính sách khẩn hoang ở An Giang thời bấy giờ: thủ Đông Xuyên (đặt tại rạch Long Xuyên), thủ Vĩnh Hùng (đặt tại Hồng Ngự), thủ Thuận Tấn (đặt tại Vàm Nao). Xung quanh các đồn trại này, lúc đầu chỉ có một số ít xóm người Việt, mà phần lớn là gia đình binh sĩ, khai thác hoa màu. Còn ở những nơi xa các đồn trại, dọc sông Tiền và sông Hậu, vùng gò đồi dọc biên giới thì vẫn có người Khmer bản địa sinh sống, nhưng cũng chỉ rải rác. Nhưng dần về sau, khi công việc quản lý trật tự trị an của chính quyền ngày càng tỏ ra vững chắc thì cư dân người Việt hoặc tự động hoặc hưởng ứng chính sách chiêu dân lập ấp của chúa Nguyễn đã đến đây sinh sống. Việc khai khẩn chung quanh các đồn, bảo của Nguyễn Cư Trinh nhằm tự túc lương thực cho binh lính, giảm bớt một phần gánh nặng cho chính quyền, tạo điều kiện cho các thôn ấp lẻ tẻ đó đây bấy giờ cũng được lập lên chung quanh các doanh trại, các đồn, bảo, bờ rạch, ven sông, khu tập trung là Châu Đốc, Hồng Ngự, Tân Châu và Sa Đéc. Như vậy, với những nỗ lực của Nguyễn Cư Trinh đã góp phần quan trọng vào công cuộc khẩn hoang, lập làng, tạo tiền đề quyết định cho sự ổn định của miền biên giới xa xôi từ đây và về sau. Trong đó, dãy Thất Sơn hùng vĩ hiên ngang nằm sau sông Cửu Long

dần dần đã sáp nhập vào phần lãnh thổ của Tổ quốc, nối liền một dãy giang sơn từ Bắc tới Nam cho con Rồng cháu Lạc mãi ghi ơn.

Nguyễn Cư Trinh là một nhà nho chính trực, có nghị lực phi thường, nhà tham mưu tài giỏi và tổ chức quân đội đại tài. Trọn đời, ông xứng đáng là bậc công thần khai quốc, có công rất lớn trong việc giúp Võ Vương mở mang bờ cõi về phía Nam, đặc biệt là An Giang - mảnh đất nằm tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc mà ta đang thừa hưởng. Công lao của Nguyễn Cư Trinh đối với vùng đất này ngày nay là rất lớn, tuy nhiên, để bày tỏ lòng biết ơn cũng như tri ân tiền nhân đã khai hoang mở cõi lại không được quan tâm. Như vậy, nhà doanh điền dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ta cần phải ghi nhận công lao to lớn của Nguyễn Cư Trinh, cần bổ sung tên vào các đình thờ, trường học, đường phố trên vùng đất An Giang ngày nay.

NHỚ ƠN NGUYỄN CƯ TRINH Mười hai năm, mở mang bờ cõi Đưa giống nòi về đất hướng Nam Thú dữ chim muông luôn réo gọi Rừng thiêng nước độc, quyết tâm làm Thất Sơn trùng điệp hiên ngang đứng

Binh lính, dân đen lắm tai nàn

“Tàm thực” Cư Trinh dâng kế sách Dáng hình đất nước vẹn phương Nam.

6.2. Danh tướng Chưởng Dinh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh

Hơn 300 năm trước, người con xứ Quảng đã rời khỏi quê hương nắng, gió hướng về vùng đất phương Nam để lập phủ Gia Định, tập hợp lưu dân khai khẩn vùng đất quạnh hiu, hoang vắng lập nên Sài Gòn ngày nay. Đây là vùng đất khá trẻ so với nghìn năm văn hiến của dân tộc, song lại là thành phố năng động và là đầu tàu kinh tế của cả nước. Từ mảnh đất hoang vắng, không người ở, Nguyễn Hữu Cảnh đã huy động dân binh về sinh sống và biến Sài Gòn thành một thành phố bậc nhất có 10 triệu người, với hàng loạt toà nhà cao ốc và đường phố luôn tắc nghẽn bởi mật độ dân cư cao của cả nước. Bên cạnh đó, ông còn cho binh lính tới vùng đất Tây Nam của Tổ quốc, làm ăn sinh sống và định cư lâu dài ở đây. Như vậy, Danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh là người đã đặt nền móng cho người Việt vào khai khẩn và sinh sống ở vùng đất trù phú bậc nhất từng được ví như Hòn ngọc Viễn Đông cũng như vựa lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long.

6.2.1. Tiểu sử

Nguyễn Hữu Cảnh tên thật là Nguyễn Hữu Thành, húy Kính, tộc danh là Lễ, sinh năm 1650, người thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình), là con thứ

ba của danh tướng Nguyễn Hữu Dật. Ông là người con ưu tú của vùng đất xứ Quảng, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tổ chức khai phá, mở mang bờ cõi, thiết lập bộ máy hành chính Nam Kỳ, xác lập chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên vùng đất Nam bộ, định hình đất nước Việt Nam thành dải đất hình chữ S như ngày nay.

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử thì tổ tiên của Nguyễn Hữu Cảnh chính là Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc - vị khai quốc công thần thời nhà Đinh và là hậu duệ 9 đời của Nguyễn Trãi - vị đệ nhất khai quốc công thần thời nhà Lê. Ông nội của Nguyễn Hữu Cảnh là quan tham chiến Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn, vì bất mãn với chúa Trịnh lấn át quyền hành của vua Lê, nên ông Nguyễn Triều Văn theo phò chúa Nguyễn vào Đàng Trong. Bước dừng chân đầu tiên của dòng Nguyễn Hữu vào năm 1609 do Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn định hướng là vùng đất Quảng Bình – vùng đất nắng cháy, khô khan. Khi ấy, người con trai thứ năm của ông là Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật (cha của Nguyễn Hữu Cảnh) vừa mới 5 tuổi. Đến lúc trưởng thành, Nguyễn Hữu Dật cùng với vợ là Nguyễn Thị Thiện đã cùng chung tay với chúa Nguyễn trong cuộc đối đầu với chúa Trịnh. Do được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh nên Nguyễn Hữu Cảnh chuyên tâm rèn luyện võ nghệ, với mong muốn là đem hết công sức mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước của chúa Nguyễn.

6.2.2. Sự nghiệp cầm binh và mở rộng bờ cõi

Cũng như các triều đại trước, hành trình mở cõi về phương Nam của chúa Nguyễn cũng đã bắt đầu. Mở đầu được tính từ thời nhà Lý, trải qua các triều đại kế tiếp nhà Trần, Lê và đến thời chúa, vua Nguyễn. Tính đến cuối thế kỷ XVII, vua Chiêm Thành thường đưa quân vượt biên giới, sát hại dân Việt ở Diên Ninh (Diên Khánh), tình hình biên giới Việt - Chiêm căng thẳng. Đến năm 1693, vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh không triều cống cho chúa Nguyễn, cho nên chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu) phái quan tổng binh Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi bình định vùng biên cương, bắt Bà Tranh về Phú Xuân, lấy đất Chiêm Thành và đổi làm Thuận phủ.

Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh là vị quan trấn thủ đầu tiên ở vùng đất mới này và đã nhanh chóng thiết lập hệ thống cai quản, tổ chức nhân dân khẩn hoang, ổn định cuộc sống, đề ra chính sách hòa đồng dân tộc Chăm – Việt. Công việc bình định vừa xong, một nhóm người Thanh, cầm đầu là A Bân xúi giục bè đảng dấy loạn, ông tiếp tục nhận lệnh đi dẹp loạn và được cử làm trấn thủ dinh Bình Khương (nay là Khánh Hòa, Ninh Thuận).

6.2.2.1. Cm binh ti vùng đất Sài Gòn - Gia Định

Năm 1698, vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược vùng đất phương Nam và xác định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mới. Theo đường thuỷ, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng sông Đồng Nai đến ở tại cù lao Phố còn gọi là Đông Phố (cảng thị sầm uất nhất miền Nam lúc bấy giờ). Ông cho đặt bản doanh tại cù lao Phố, đây là vùng đất đai rộng mênh mông nhưng sình lầy, rừng rậm trong khi đó nhân lực thì ít, đời sống sinh hoạt của

cư dân sẽ vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, với ý chí kiên cường, bất chấp tất cả mọi hoàn cảnh khốn khó, Nguyễn Hữu Cảnh đã cho vạch ra kế sách chiêu mộ lưu dân, khuyến khích khai hoang, ổn định dân tình, dàn xếp biên cương, thiết lập cơ sở hành chính thôn xã, lập Gia Định phủ trên phần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền và chính thức cho sáp nhập vào bản đồ Đại Việt. Nguyễn Hữu Cảnh đã cho lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Đặt Trấn Biên dinh (tức là Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh (tức là Gia Định) sai quan vào cai trị. Đồng thời, ông lại chiêu mộ những lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm Thanh Hà xã, còn những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm Minh Hương xã.

Như vậy, Phủ Gia Định lúc bấy giờ từ Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An. Đất đai được mở rộng ngàn dặm, dân chúng khắp nơi được quy tụ thành các xóm làng có ghi sổ (sổ đinh, sổ điền). Riêng người Hoa thì tất cả cũng đều nhập vào sổ bộ nước ta, nhưng theo cách quản lý của Nguyễn Hữu Cảnh thì người Hoa tập trung sinh sống ở hai nơi: Thanh Hà xã, huyện Phước Long (Đồng Nai, Biên Hòa) và Minh Hương xã, huyện Tân Bình (Sài Gòn, Bến Nghé).

Bên cạnh đó, để đảm bảo cho việc phát triển thương mại, sự giao lưu thông suốt giữa các vùng dân cư trong Phủ, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập đường thủy ven các nhánh sông cho tàu thuyền chở hàng hóa có thể lưu thông một cách dễ dàng.

Cư dân ở bến tàu Châu Đại Phố của nhóm thương nhân người Hoa đã được củng cố lại, với tên gọi mới cảng Đại Phố. Dân chúng được quy tụ từ châu Bố Chánh (Quảng Bình), Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn đến vùng đất mới làm ăn, sinh sống bởi vậy số dân lúc bấy giờ đã lên tới 40.000 hộ.

Như vậy, chủ quyền của người Việt được xác lập trên vùng đất Nam Bộ, đời sống dân cư ngày càng ổn định và có bước phát triển không ngừng trên vùng đất mới.

Trong đó, Sài Gòn – Gia Định là trung tâm chính của kinh tế và văn hoá. Bộ máy chính quyền được tổ chức từ cấp dinh, trấn cho đến tận các thôn, xã được thống nhất, Nhà nước quản lý đất đai, hộ khẩu, thu thuế và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên.

Nhìn chung, nếu tính từ thời điểm cuộc hôn nhân Chey Chetta II và công chúa Ngọc Vạn (1620), thì người Việt được tự do vào khai hoang, sinh sống và kinh doanh ở Prey Nokor, Đồng Nai (Biên Hòa), Mô Xoài (Bà Rịa)... ngày càng nhiều.

Đồng thời, mối quan hệ giữa người Chân Lạp và người Việt trở nên thân tình, cũng thường xuyên đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.

Tóm lại, đến năm 1698, chủ quyền người Việt được xác lập chính thức từ Đồng Nai đến bên bờ tả ngạn sông Tiền, nhưng trên thực tế, bước khai phá của người Việt đã vượt qua sông Tiền, sông Hậu và tiến sát đến Cà Mau, Hà Tiên. Điều này đã khẳng định xu thế phát triển về đất phía Nam của người Việt trong lịch sử.

6.2.2.2. Tiến quân qua Chân Lp

Năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Thu đắp lũy Bích Đôi, Nam Vang và Cầu

Nam cướp bóc dân buôn người Việt. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất cùng Phó tướng Phạm Cẩm Long, Tham tướng Nguyễn Hữu Khánh đem quân lính, thuyền chiến hợp cùng tướng Trần Thượng Xuyên đánh dẹp quân Chân Lạp và làm an dân. Lực lượng thủy binh của Nguyễn Hữu Cảnh đã tiến thẳng đến thành La Bích (NamVang), đánh tan quân Nặc Thu, vua cho hàng. Nhân thời cơ, Nguyễn Hữu Cảnh đã dùng chính sách đoàn kết các dân tộc, không phân biệt đối xử dù là Khmer, Chăm, Hoa hay người Việt.

6.2.2.3. V vùng đất An Giang

Đến tháng 4-1700, Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân tiến kéo về đóng ở cồn Cây Sao còn gọi là cù lao Sao Mộc, sau này người dân địa phương nhớ đến ơn ông nên gọi là cù lao Ông Chưởng (nay thuộc Chợ Mới, An Giang). Theo Gia Định thành thông chí thì tại đây, ông cho binh lính giải ngũ ở lại làm ăn sinh sống, khẩn hoang lập làng và không lâu sau ông bị bệnh và không ăn uống được. Nhân ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) ông cố gắng ra dự tiệc để động viên binh sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bệnh tình càng trầm trọng. Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho) thì mất để lại bao tiếc thương của cư dân người Việt.

6.2.3. Nhớ ơn

Nguyễn Hữu Cảnh được an táng tại cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai). Năm 1802, thì ông được cải táng về địa táng tại Thác Ro, Trường Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sự khai phá, xác định chủ quyền người Việt ở vùng đất mới của Nguyễn Hữu Cảnh là cơ sở để chúa Nguyễn từng bước thu phục các vùng đất khác và mở mang bờ cõi ra khắp vùng đất Nam Bộ Việt Nam. Công lao to lớn của Chưởng Dinh Nguyễn Hữu Cảnh đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận, phong tước hiệu Lễ Thành hầu - Khai quốc công thần - Thượng đẳng công thần.

Nguyễn Hữu Cảnh là vị tướng khai biên kiệt xuất, là nhà chính trị tài giỏi, nhân hậu và yêu con người, quê hương, đất nước. Công đức và nhân cách của Nguyễn Hữu Cảnh đã ghi dấu ấn sâu sắc trong tiềm thức của người dân Việt Nam và mãi mãi được lưu truyền hậu thế sau này. Nhân dân khắp nơi ở vùng đất mới khai phá, người Việt cũng như người Hoa, Chăm, Khmer… cũng đều nhớ ơn về ông - người đã giúp họ khai hoang mở đất, làm ăn, sinh sống và họ đã lập đền thờ hoặc lập bài vị ông ở nhiều nơi: Nam Vang (Campuchia), Quảng Bình, Quảng Nam, Biên Hòa, Long Xuyên, Châu Đốc… Vùng đất mới phương Nam đã được mở rộng là một phần công lao không nhỏ của ông, chủ quyền lãnh thổ của nước Việt Nam được khẳng định, thế hệ hôm nay và mai sau luôn ra sức phấn đấu hết mình để gìn giữ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Bài thơ ca ngợi về công lao của Nguyễn Hữu Cảnh:

“Từ ngày vâng lệnh Trấn Bình Khương, Bờ cõi mở thêm mấy dặm trường,

Một phần của tài liệu Lịch sử địa phương an giang (Trang 73 - 149)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(149 trang)