QUÂN VÀ DÂN AN GIANG ĐẤU TRANH CHỐNG ÁCH THỐNG TRỊ VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1867-1954)
3.1. Đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp (1867-1945) 3.1.1. Phong trào yêu nước trước khi có Đảng (1867-1930)
3.1.1.1. Khái quát bối cảnh lịch sử An Giang sau khi nước ta mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862-1866)
Sau khi nổ tiếng súng xâm lược nước ta, Pháp đã tiến hành đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tìm cách gây rối loạn 3 tỉnh miền Tây. Trước sức mạnh của Pháp, triều đình Huế bất lực, ký hoà ước 5-6-1862 giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho quân Pháp.
Như vậy, An Giang nói riêng và ba tỉnh miền Tây Nam Bộ nói chung đang còn thuộc chủ quyền kiểm soát của triều đình Huế. Khắp Nam Kỳ lục tỉnh thành lập các đội quân “ứng nghĩa”, dấy động phong trào chống Pháp. Khi Hiệp ước Pháp – Campuchia được ký kết (1863), Campuchia chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, ba tỉnh Tây Nam Kỳ (An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên) bị cô lập.
Sau hoà ước 1862, nhân sĩ Nam Kỳ bị phân hoá, có kẻ theo giặc, một bộ phận ủng hộ hoà nghị của triều đình Huế, còn lại phần lớn là đứng lên chống giặc xâm lược. Như vậy, An Giang là một trong ba nơi ở Tây Nam Kỳ trở thành vùng đất tỵ địa của sĩ phu yêu nước Nam Kỳ. Họ đem cả gia đình, mồ mả ông cha sang 3 tỉnh miền Tây (trong đó có An Giang) để sinh sống và An Giang trở thành nơi trú ngụ của nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân. Đặc biệt là căn cứ Thất Sơn trở thành nơi hoạt động của Hoàng thân A-Soa – thể hiện mối liên minh chiến đấu của Việt – Khmer, mở đầu cho tình đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc.
* Hoạt động chống Pháp của Nguyễn Hữu Huân
Nguyễn Hữu Huân đến An Giang liên kết với Hoàng thân A-Soa ở Thất Sơn và tiếp tục hoạt động ở Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Vĩnh Tế. Chính quyền thực dân Sài Gòn yêu cầu triều đình Huế bắt Nguyễn Hữu Huân giao cho chúng. Lúc đầu, triều đình Huế làm ngơ vì muốn duy trì thực lực chống Pháp, nhưng về sau, do ảo tưởng “chuộc đất” nên tháng 01-1864, Tự Đức chỉ dụ cho các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên bắt giải những kẻ mượn tiếng mộ nghĩa. Do sự thoả hiệp của triều Nguyễn, năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt tại Châu Đốc giao cho Pháp.
* Khởi nghĩa A-Soa ở Thất Sơn
Sau hiệp ước 1863, vương triều Nôrôđom (Campuchia) phụ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp. Nội bộ vương triều chia rẽ sâu sắc, Hoàng thân Sivotha, A-Soa đứng về phía nhân dân chống Pháp. Hoàng thân A-Soa bí mật xây dựng căn cứ ở Thất Sơn, mở rộng địa bàn chống Pháp vùng Đông Nam Campuchia. Pháp tìm mọi
cách tiêu diệt lực lượng A-Soa. Năm 1865, Pháp gửi thư đến Tuần phủ An Giang Phan Khắc Thân với lời lẽ trách móc. Trước sự kiện tàu chiến Pháp uy hiếp thành Châu Đốc, Tự Đức chỉ dụ cho Tổng đốc An Hà phải nghiêm ngặt cự tuyệt về mộ dân dựng đồn của người nước ngoài. Năm 1866, Phan Thanh Giản báo cáo hoạt động A- Soa. Tự Đức cách chức Phan Khắc Thân, rồi bất ngờ đánh úp quân A-Soa ở núi Tô.
Kết quả, cuộc khởi nghĩa chống Pháp của A-Soa ở Thất Sơn hoàn toàn thất bại.
3.1.1.2. Thực dân Pháp chiếm An Giang và bước đầu xây dựng bộ máy cai trị (1867-đầu thế kỷ XX)
Sau khi chiếm Vĩnh Long, quân Pháp huy động lực lượng tiến đến thành Châu Đốc, các viên quan triều đình hoang mang cực độ. Pháp đòi tuần phủ Nguyễn Hữu Cơ xuống tàu nhận thư của Phan Thanh Giản. Sau thời gian lưỡng lự, ông đích thân xuống tàu Pháp và Pháp đem 1.000 quân tiến vào thành Châu Đốc, giải giáp khí giới quân triều đình. An Giang thất thủ.
Giai đoạn đầu, thực dân Pháp chủ yếu bình định, củng cố bộ máy cai trị, tạo điều kiện khai thác sau này. Nguồn ngân sách đầu tư của tư bản Pháp rút từ nguồn tài chính chính quốc. Ở An Giang, chúng xây dựng các ty, bệnh viện, cầu đường, nạo vét kênh mương… tạo cơ sở hạ tầng cho tư bản Pháp đầu tư khai thác. Nông thôn An Giang cuối thế kỷ XIX đã diễn ra nạn chiếm đoạt ruộng đất của tư bản Pháp và chủ điền, nông dân bị bần cùng hoá vì nạn sưu thế, lao dịch, lụt lội, hạn hán. Mâu thuẫn giữa thực dân, phong kiến với nông dân càng gay gắt. Việc mất nước là mất luôn ruộng đất, mất quyền độc lập dân tộc, là mất quyền làm người.
Chính vì vậy, ngay sau khi Pháp chiếm An Giang, các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước ở đây liên tục diễn ra với nhiều mức độ, sắc thái khác nhau.
3.1.1.3. Các cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước ở An Giang (nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)
* Quan lại, sĩ phu
Sau tháng 6-1867, nhân dân 3 tỉnh miền Tây phất cao ngọn cờ kháng chiến chống xâm lược. Các tổ chức chống Pháp từ Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng đến Châu Đốc như Phan Tôn, Phan Liêm. Ở Châu Đốc có lãnh binh Lê Văn Sanh, Đỗ Đăng Tàu đứng về phía nhân dân chống Pháp. Hai ông bí mật tổ chức đội thuyền ở núi Sam hoạt động ở Mương Vệ Thuỷ (Mương Thuỷ, Vĩnh Mỹ, Châu Đốc) kéo dây ngang sông Hậu ngăn tàu giặc. Quân Pháp phản công, hai ông rút vào Ô Long Vĩ nhận chìm thuyền rồi đi vào Bảy Thưa.
* Khởi nghĩa Bảy Thưa của Trần Văn Thành (1867-1873)
Quản Cơ Trần Văn Thành quy tụ nhiều nông dân yêu nước khắp Nam Kỳ lục tỉnh chống Pháp ở Bảy Thưa – Láng Linh. Công cuộc xây dựng đồn được xúc tiến, căn cứ chính đặt tại Hưng Trung (xã Đào Hữu Cảnh, Châu Phú), xung quanh thiết lập các đồn “Hờ” làm tuyến ngăn giặc: Cái Môn (Cái Dầu), Giồng Nghệ (Mặc Cần Dưng), trạm canh Ông Tà (Tri Tôn), đồn Hàng Tràm (Bình Thạnh Đông),… Mỗi
đồn trang bị súng thần công, điễu thương, hoả hỗ với 150 nghĩa quân phụ trách phòng thủ. Nghĩa quân tổ chức thành nhiều đội, mỗi đội có người chỉ huy.
Năm 1872, thực dân Pháp phát hiện kế hoạch khởi nghĩa. Chúng cho mật thám vào Láng Linh để điều tra hoạt động của Đạo Lành. Biết căn cứ bại lộ, Trần Văn Thành phất cờ khởi nghĩa, lấy danh hiệu “Binh Gia Nghị” tuyên bố đánh Pháp.
Tháng 6-1872, quân Pháp mở cuộc tiến công vào căn cứ Bảy Thưa. Chúng dùng thuyền nhỏ từ Long Xuyên tiến vào rạch Mặc Cần Dưng đánh đồn Giồng Nghệ và chiếm được đồn này nửa tháng. Sau đó, chúng rút lui vì không chịu nổi kiểu đánh du kích của nghĩa quân.
Tháng 3-1873, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào Bảy Thưa, chiếm được đồn Giồng Nghệ. Cánh quân Pháp từ Châu Đốc đánh xuống chiếm được đồn Hàng Tràm (Phú Tân). Sau đó, chúng đẩy lùi nghĩa quân khỏi đồn Hờ ở Cái Dầu (Châu Phú). Sau vài trận giao chiến, nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng. Cuối cùng, đồn Hưng Trung thất thủ. Thừa thắng, Pháp tấn công vào căn cứ chính Hưng Trung.
Trần Văn Thành bình tĩnh đối phó. Tuy bị bao vây nhưng ông vẫn đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất, thách thức bọn Pháp, dùng ống loa chửi Pháp thậm tệ. Ông hướng về binh sĩ khích lệ tinh thần, quân sĩ hò reo vang rền, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi. Đến tối, đồn Hưng Trung thất thủ, quân Pháp tịch thu vũ khí nghĩa quân. Trần Văn Thành hy sinh trong chiến đấu. Khởi nghĩa Bảy Thưa nổ ra trong điều kiện khó khăn vì hầu hết các phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ bị đánh dẹp nên thực dân Pháp rảnh tay tập trung lực lượng đàn áp.
* Ngô Lợi và đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Sau cuộc khởi nghĩa Mỹ Tho thất bại, Ngô Lợi bí mật đến núi Tượng (Tri Tôn) lập căn cứ chiêu mộ nghĩa binh, lấy thuyết “Hội Long Hoa” và giáo lý “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” để che mắt giặc. Mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ hoạt động của Ngô Lợi, chúng tiến hành bình định làng An Định, bao vây núi Tượng tìm bắt Ngô Lợi, nhưng không thành.
Năm 1884, Ngô Lợi trở lại núi Tượng dựng chùa Tam Bửu. Năm 1885, Ngô Lợi ở núi Tượng đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế và làm chủ Tịnh Biên. Pháp đem quân đánh dọc kênh Vĩnh Tế và làng An Định. Lực lượng nghĩa quân rút về Vườn Dầu (Campuchia). Giặc Pháp đốt chùa, lúa gạo và bố trí đồn bót dọc kênh Vĩnh Tế.
Ngày 2-6-1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào Vườn Dầu nhưng thất bại. Năm 1887, Pháp kéo quân vào An Định, gặp sự kháng cự của nghĩa quân ở núi Trà Sư. Chúng tràn vào An Định đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi. Pháp ra lệnh giải tán làng An Định, nhập vào làng Vĩnh Lạc (Lạc Quới) và cấm giáo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoạt động. Năm 1890, Ngô Lợi mất, phong trào dần tan rã.
* Các hoạt động yêu nước ở An Giang đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bước vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế xã hội An Giang. Hình thức chống Pháp cũng thay đổi cho phù hợp với tình hình. Nhiều người còn mang nặng tinh thần chống Pháp với hình thức thần bí. Ở Châu Đốc, lập ra Hàn Lâm Miếu, thực chất tập hợp nhiều hội viên bàn về thời cuộc chính trị. Phong trào “Hội kín” mang màu sắc
“Thiên địa hội” Trung Quốc phát triển. Phong trào “Hội kín” diễn ra khắp Nam Kỳ.
Lãnh đạo phong trào như Phan Phát Sanh (Phan Xích Long), Nguyễn Hữu Trí có mối quan hệ gắn bó với các nhà yêu nước ở Thất Sơn.
Trong các lãnh tụ Hội kín ở An Giang có Cao Văn Long, ông dựng chùa Phật Lớn ở núi Cấm và đi khắp nơi khuyến giáo, bắt liên lạc với các tổ chức, thu nạp hội viên, trong đó có cả người Khmer. Các lãnh tụ Hội kín định tổ chức cuộc khởi nghĩa mới, trung tâm tại chùa Phật Lớn nhưng không thành. Tại Láng Linh (Châu Phú), tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương do Trần Văn Nhu – con trưởng Quản Cơ Trần Văn Thành chủ trương bất hợp tác với giặc, lập trại ruộng, hốt thuốc trị bệnh và thu nạp tín đồ khắp lục tỉnh. Lo sợ một cuộc khởi nghĩa mới, Pháp kéo quân vây Bửu Hương Tự (Thạnh Mỹ Tây) và bắt hết những người có mặt.
Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân khởi xướng, nhằm vận động cải tạo văn hoá, xã hội, động viên tinh thần yêu nước trong nhân dân, đấu tranh chống Pháp. Từ năm 1921 đến năm 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc có những hoạt động yêu nước ở Mỹ Tho, Tân An, Bến Tre, Long Xuyên, Châu Đốc… với nghề hốt thuốc Bắc. Cụ nhiều lần đến chùa Giồng Thành (Tân Châu), chùa Hoà Thạnh (Tịnh Biên) khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân trong vùng.
3.1.1.4. Những chuyển biến của xã hội An Giang khi Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa trong những năm 1920-1930
* Sự phân hoá các giai tầng trong xã hội
Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã làm cho các tầng lớp nhân dân An Giang có sự phân hoá rõ nét:
Tầng lớp địa chủ hình thành từ nhiều thành phần khác nhau như quan lại phong kiến, tay sai Pháp, công chức, tư sản thương nghiệp, cho vay,… Dù xuất thân từ nguồn gốc nào, họ vẫn là thành phần đặc quyền, đặc lợi, gắn bó chặt chẽ với chính quyền thực dân Pháp cả về kinh tế lẫn chính trị và họ tồn tại, làm giàu bằng sự bóc lột, vơ vét tá điền bởi các loại tô, tức, lao dịch, cống nạp.
Tầng lớp tư sản dân tộc ở An Giang chưa hình thành độc lập vì bị tư sản Pháp và Hoa kiều chèn ép. Họ chỉ hoạt động một số ngành phụ thuộc như mua bán, xay xát, dệt, mộc, gạch ngói, nước mắm,…
Tầng lớp tiểu tư sản tri thức phần lớn xuất thân từ nho học, có mối quan hệ gắn bó với người lao động, sớm tiếp thu tinh thần yêu nước của các phong trào Văn
Thân, Cần Vương, Đông Du, Duy Tân,… Họ nhạy bén với thời cuộc, có khả năng tiếp thu và truyền bá những tư tưởng tiến bộ vào nhân dân.
Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo và bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất ở An Giang bởi địa chủ (tô, tức), thực dân (sưu, thuế) và luôn bị thiên tai, dịch bệnh đe doạ cuộc sống. Với truyền thống yêu nước, nhân dân An Giang đã không ngừng chống Pháp dưới ngọn cờ phong kiến nhưng vẫn chưa tìm được con đường giải thoát kiếp trâu, ngựa của mình.
Do đặc điểm lịch sử và nền nông nghiệp chi phối, ở An Giang không có giai cấp công nhân, mà hầu hết là tầng lớp thợ thủ công xuất thân từ giai cấp nông dân, từ những người bị bần cùng hoá không còn tư liệu sản xuất.
* Những chuyển biến của phong trào yêu nước ở thập niên 20 của thế kỷ XX Đầu thế kỷ XX, làn sóng tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào nước ta và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với những người trí thức yêu nước Việt Nam. Hoạt động của các phong trào này tác động đến tinh thần đấu tranh của nhân dân Long Xuyên – Châu Đốc, lôi kéo nhiều tri thức, thanh niên, học sinh tham gia.
Những năm 1925-1926, phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh, còn gọi “Thanh niên cao vọng đảng”, thu hút một bộ phận thanh niên trí thức Long Xuyên – Châu Đốc, trong đó có Lê Triệu Kiết hoạt động mạnh ở vùng Kiến An, Chợ Mới. Hoạt động của hội chủ yếu là bàn luận về thời sự, đọc các sách báo tiến bộ, đặc biệt là tờ
“Tiếng chuông rè” của Nguyễn An Ninh và những bài hịch tâm huyết của Phan Bội Châu. Trong khoảng thời gian này, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh rầm rộ khắp nơi đã tác động, lôi cuốn nhiều giáo viên học sinh Long Xuyên – Châu Đốc tích cực tham gia. Châu Văn Liêm là hạt nhân nòng cốt, tích cực trong phong trào này. Châu Văn Liêm là thầy giáo thường đấu tranh về quan điểm và lề lối giảng dạy của bọn cầm quyền ở trường Chợ Thủ (Chợ Mới). Ông được cử làm đại biểu đi dự lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn. Khi về Long Xuyên, ông tổ chức truy điệu cụ tại Mỹ Luông (Chợ Mới) kêu gọi lòng yêu nước và khơi dậy tinh thần đấu tranh chống áp bức bất công.
* Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời và hoạt động ở An Giang Giữa năm 1927, cơ sở Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã xây dựng khắp lục tỉnh. Tháng 8-1927, ông Nguyễn Ngọc Ba, một cán bộ Kỳ bộ đến Long Xuyên xây dựng cơ sở. Trong thời gian ngắn, ông kết nạp vào tổ chức hai ông Châu Văn Liêm và Ung Văn Khiêm tại Tấn Mỹ (Chợ Mới).
Cuối năm 1927, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên – Châu Đốc hình thành tại xã Long Điền (Chợ Mới, Long Xuyên) có Châu Văn Liêm, Bùi Trung Phẩm,…
Tháng 2-1928, Long Xuyên lập Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên gồm Châu Văn Liêm, Nguyễn Văn Cưng,…do Châu Văn Liêm làm bí thư. Một thời gian,
tổ chức đã phát triển dọc theo trục giao thông và những vùng đông dân cư ở Chợ Mới, Tân Châu, Hồng Ngự, Lấp Vò,…
3.1.2. Quá trình đấu tranh giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 – 1945)
3.1.2.1. Phong trào cách mạng 1930-1931
* Những chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Tháng 4-1930, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Long Xuyên – Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới) gồm Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm,… Có tổ chức chân chính dẫn dắt, quần chúng lao động bị áp bức như được tiếp thêm hơi thở, sức mạnh nhân lên gấp bội.
Quần chúng Lê Văn Đỏ đã treo lá cờ búa liềm trên đường dây thép ngang sông Tiền (Long Điền, Chợ Mới) để chào mừng niềm vui trọng đại.
Cuối tháng 4-1930, hạt giống cách mạng được nhân ra khắp nơi. Nhiều chi bộ được hình thành ở Long Điền, Kiến An, Bình Thạnh, An Phong (Chợ Mới), Tân Huề, Long Thuận (Hồng Ngự), Long Sơn (Tân Châu), Long Xuyên, Lấp Vò,… đánh dấu bước phát triển của tổ chức.
* Phong trào cách mạng 1930-1931
Nhân dân lao động đã biểu hiện sức mạnh của mình qua các phong trào đấu tranh chống địa chủ, đòi những quyền dân sinh dân chủ về nhân dân.
Ngày 9-5-1930, một cuộc biểu tình quy mô chưa từng có được tổ chức ở Chợ Mới. Hơn 7.000 người dân từ các xã lân cận kéo lên quận lỵ. Phụ nữ đi đầu giương cao biểu ngữ yêu cầu hoãn thuế thân 3 tháng, giảm thuế công điền, công thổ, không bắt bớ, khám xét người,… Áp lực của quần chúng buộc Quận trưởng Chợ Mới phải chấp nhận giải quyết theo yêu cầu và làm công văn đề đạt lên Chủ tỉnh.
Phát huy thắng lợi, ngày 28-5-1930, hàng ngàn đồng bào trong quận Chợ Mới một lần nữa hàng tư, hàng năm đổ về quận lỵ. Cờ đỏ búa liềm, biểu ngữ giương cao trong tiếng trống, tiếng hô khẩu hiệu. Yêu sách lần này được nâng lên đòi giảm thuế thân, bỏ các thứ thuế vô lý, tăng lương cho thợ thuyền, binh lính. Chính quyền thực dân đã có sự chuẩn bị nên tập trung đàn áp và làm tổn thất đến người và của của đồng bào ta.
Tháng 6-1930, hàng ngàn quần chúng ở các xã Long Kiến, Kiến Long, Long Điền, Mỹ Luông,… đã tổ chức nhiều cuộc lễ truy điệu tưởng niệm những đảng viên, những quần chúng đã hy sinh.
Tháng 7-1930, Quận uỷ Lâm thời Chợ Mới được thành lập, phong trào lan sang vùng Tân Châu, Hồng Ngự. Pháp tăng cường khủng bố, nhiều cán bộ lãnh đạo của tỉnh, quận bị bắt, bị đày, trong đó có Nguyễn Văn Cưng,… Tháng 7-1931, sau khi bị Đặc uỷ Hậu Giang bị Pháp phá vỡ, Đặc uỷ Long – Châu – Rạch – Hà hình