CHƯƠNG 3 ĐẶC SẮC NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THI CA HÀN MẠC TỬ
3.2. Giọng điệu thơ Hàn Mạc Tử
Phong trào Thơ mới (1932- 1945) đã làm nên một sự đa thanh về giọng điệu. Nếu Chế Lan Viên mang giọng điệu u buồn đến thê thảm về sự sụp đổ đầy đau thương của những tháp Chàm Chămpa. Xuân Diệu mang một giọng điệu thơ như giục giã cái tôi hòa nhập vào cái ta. Còn Hàn Mạc Tử - nhà thơ lạ nhất trong phong trào Thơ mới đã đưa đến độc giả một giọng thơ vô cùng độc đáo và kinh dị đến rởm óc. Có lúc nhà thơ chìm đắm trong cơn đau thương của tuyệt vọng “Không rên siết là thơ vô nghĩa lý”. Có khi thơ Hàn Mạc Tử như những khúc ca dao trữ tình du dương mời gọi độc giả đến với những khúc nam ai nam bằng xứ Huế. Có khi nhà thơ thoát hiện tại bay vào chốn cung vàng điện ngọc, thơ Hàn Mạc Tử lúc này mang tính sang trọng, cao khải của thánh kinh. Với ba giọng điệu thơ ấy đã hòa nhập vào hồn thơ Hàn Mạc Tử tạo nên một giọng thơ hỗn phức như biến thiên theo những chặng đường đau thương về cuộc đời của tác giả.
3.2.1. Một giọng điệu thơ đau thương
Hàn Mạc Tử luôn mang tâm hồn của một thi sĩ bất hạnh, nhà thơ muốn kêu lên thấu tận trời xanh để được chia sẻ niềm tâm sự. Do đó, thơ Hàn Mạc Tử như là một tiếng nức nghẹn ngào về số phận, về cuộc đời.
Thoạt đầu, thơ Hàn Mạc Tử mang âm hưởng của Đường thi, âm điệu cổ điển của một cái tôi mang nỗi đau mất nước và mang giọng điệu của thơ lãng mạn trong Gái quê. Thật bất ngờ, từ một giọng thơ thanh thoát, nhẹ nhàng, sâu lắng như cung nhạc du dương ru người đọc vào giấc mộng của hương hoa chuyển sang một giọng thơ đau thương đến rỉ máu của một tâm hồn đang tê dại trong Thơ điên. Trong Quan niệm thơ, Hàn Mạc Tử đã từng phát biểu “Không rên siết là thơ vô nghĩa lý”. Cho nên âm hưởng chủ đạo của tập thơ mang một giai điệu đau thương, rên xiết.
Đi suốt cuộc hành trình, từ lúc khai tập cho đến cuối tập thơ là một tiếng khóc tỉ tê về một số phận tan tác, tiếng khóc nức nở giữa cõi trời âm u:
Một khối tình nức nở giữa âm u Một hồn đau rã lần theo hương khói Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi Một lời run hoi hóp giữa không trung
(Trường tương tư)
Bốn câu thơ trên có sự đối lập và mâu thuẫn. Cái “một” mâu thuẫn với cõi không gian bao la, vô tận. Nhà thơ đau đớn vô ngần trước hiện thực quá ư bất hạnh. Hơi thở của thi nhân dường như bị đứt quảng. Đó cũng là sự sống bị đứt quảng theo cơn đau của bệnh tật. Cơn đau quằng quại ấy giúp cho thi nhân hiện lên một cách “tột cùng”, kinh dị và man dại về ngôn từ thơ. Thơ Hàn Mạc Tử lúc này như phát tiết “hộc ra từng búng huyết”, mỗi câu chữ đều mang một vẻ kinh dị:
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt, Như mê man chết điếng cả làn da
(Rướm máu)
Câu thơ như bị đứt quảng về tư tưởng, như một nốt nhạc bị nhấn chùng xuống về giọng điệu, khiến cho câu thơ mang một âm điệu trầm buồn, đau thương và não nuột:
Nghệ ơi Nghệ muôn năm sầu thẳm Nhớ thương còn một nắm xương thôi Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan
(Muôn năm sầu thẳm) Máu đã khô rồi thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ Từ nay trong gió trong mây gió Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ ... Ta trút linh hồn giữa lúc đây Gió sầu vô hạn nuối trong cây...
(Trút linh hồn)
Khi làm thơ, Hàn Mạc Tử luôn quan niệm “Không rên siết là thơ vô nghĩ lý” nên suốt hành trình sự nghiệp tác giả luôn đi tìm chân lý để lý giải lối thoát về tư tưởng của thi nhân đang sống trong sự đau thương về thể xác trong sự rỉ máu về tâm hồn. Do đó, trong Thơ điên xuất hiện dày đặc những âm điệu, sắc điệu đau thương. Đó là tiếng khóc, uất ức nghẹn ngào của thi nhân trước thực tại:
Tôi đang còn đây hay ở đâu Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong máu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu (Những giọt lệ) Khóc một chắc có ai vô mà biết
(Dấu tích) Không trào nước mắt không thê thảm
(Chơi trên trăng)
Tâm trạng của thi nhân luôn thấm đẫm một nỗi đau ly biệt, một nỗi buồn sầu thảm:
Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh Hơn hết u buồn của nước mây Của những tình duyên thương lỡ dở Của lời rên xiết gió heo mây
(Sầu vạn cổ) Không rên siết là thơ vô nghĩa lý
(Dấu tích)
Nỗi đau về đường tình duyên không thành cũng là nguồn cảm hứng giúp Hàn Mạc Tử có được những bản tình ca đẹp. Thế nhưng những mối tình đau thương ấy cũng để lại trong lòng tác giả sự khôn xiết về ngã rẽ của đường tình. Do đó, thơ Hàn Mạc Tử không chỉ là tiếng khóc về số phận mà còn là nỗi uất nghẹn ngào về đường tình bị vỡ lẻ. Nhà thơ “đau cuồng” đến tột độ của lòng phụ rẫy. Hàn Mạc Tử đã tạo nên những lớp sóng ngôn từ nhuốm đầy màu ly biệt: đành đoạn chia đôi, đau đớn vì lời phụ rẫy, buồn thương gió đã thề, oán hận của si mê...
Như vậy, trong Thơ điên âm điệu chính là giọng thơ đau thương, rên xiết, là những cung nhạc của sự mất mát, của “một hồn thơ rã lần theo hương khói”. Tâm trạng rỉ máu của Hàn Mạc Tử nói riêng và các nhà thơ trong phong trào Thơ mới nói chung là một sự bất hòa giữa cá nhân và xã hội, là sự
hòa hợp giữa cái tôi và cái ta. Do đó, thơ Hàn Mạc Tử mang một ý nghĩa giá trị nhân bản rất lớn về sự nuối tiếc trước cuộc sống hiện thực. Và chính những tiếng vọng dài thê lương ấy đã tạo nên bản sắc độc đáo trong hồn thơ Hàn Mạc Tử.
3.2.2. Thơ Hàn Mạc Tử - khúc hát dân ca trong sáng
Suốt tập Thơ điên là giọng điệu rên xiết đang rỉ máu của một tâm hồn đang lụi dần theo năm tháng. Tâm hồn ấy “sượng sần” và “tê điếng” đang
“đau vì rùng rợn đến vô biên”. Thế nhưng tìm tàng trong cơn đau quằn quại ấy nhà thơ vẫn khao khát hòa hợp với đời, với thiên nhiên tươi trẻ. Do đó, trong tập Thơ điên bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật đặc sắc Hàn Mạc Tử đã làm nên một bản tình ca với một giọng điệu nhịp nhàng, du dương như những tiếng sóng vỗ bờ rào rạt cứ mời gọi độc giả theo năm tháng.
Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biết
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang ...
Chị ấy năm nay con gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín)
Hay trong Đây thôn Vỹ Dạ, nhà thơ đã tạo nên một âm điệu nhẹ nhàng, sầu lắng như một khúc dân ca trong sáng ru tâm hồn bạn đọc lạc vào khung cảnh thiên nhiên xứ Huế vô cùng tuyệt đẹp. Trong bức họa đồng quê ấy, có sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên là một, một sự kết hợp giữa độ sáng tối tạo nên nét nhòe, tính mơ hồ và đa nghĩa của thế giới âm thanh và hương sắc trong hồn thơ Hàn Mạc Tử.
Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên ...
Ở đây sương khỏi mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà
Trong Thơ điên, giọng điệu dân gian trong sáng như cơn mưa xuân mát lành tưới vào hồn thơ đang rướm máu của Hàn Mạc Tử. Đó là âm điệu của khúc ca dao dân ca trong sáng của người dân xứ Huế, với những khúc nam ai nam bằng, những khúc hát giao duyên của các nam thanh nữ tú đã làm cho giọng thơ Hàn Mạc Tử thêm trong sáng không còn chìm đắm trong cơn đau của bệnh hoạn. Trong Chuỗi cười đã thể hiện rất rõ điều đó:
Lá đổ rào rào
Trăng vàng xôn xao Chuỗi cười ha hả Trên cánh đồi cao...
Hứng lấy sao băng Hứng lấy sao băng Ơi chàng võ sỹ
Máu đào đương hăng
Đây là bài thơ tiêu biểu trong Thơ điên mang âm sắc như một khúc ca dao trong sáng hồn nhiên. Với cách ngắt nhịp 4/4 cứ lặp đi lặp lại đã tạo nên âm hưởng dân gian tươi vui và trong trẻo. Nó như một bài đồng dao của người dân xứ Huế. Nó mang sự hồn nhiên tươi trẻ. Tâm trạng thi nhân lúc này dường như thả hồn theo câu chữ, theo nhịp điệu hào sảng của bài thơ. Điều này chứng tỏ, Hàn Mạc Tử luôn khao khát với thiên nhiên, hòa nhập với cuộc sống muôn màu, muôn vẻ. Khúc ca dao trong sáng ấy còn được thể hiện trong: Cao hứng, Sáng trăng...
Không những trong Thơ điên, ta còn bắt gặp khúc hát trữ tình dân ca trong sáng của Hàn Mạc Tử trong Nhạc bay, Nụ cười, Ca dao...
3.2.3. Một giọng thơ sang trọng
Hàn Mạc Tử được sinh ra trong một gia đình mộ đạo. Anh là một con chiên của đạo Thiên Chúa, tên thánh là Pierre Francois. Do đó, những bản kinh thánh, kinh kệ đi vào thơ Hàn Mạc Tử như một mối lương duyên được định sẵn. Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Có lẽ Hàn Mạc Tử là người Việt Nam đầu tiên ca ngợi Thánh nữ đồng trinh Maria và chúa Jesu bằng thơ trước nhất”.
Thật vậy, đến với Hàn Mạc Tử, đến với sự đau thương, đến với chuỗi ngày dài bất hạnh của một kiếp người. Ngồi trong những đêm trăng, thi nhân đau đớn đến tê dại không biết làm sao để thoát khỏi kiếp đau thương này.
Theo bà cố đạo, người thường chăm bẵm cho Hàn Mạc Tử lúc nhà thơ giấu mình trong trại phong Quy Hòa. Hàn Mạc Tử luôn luôn đọc kinh trong những lúc rảnh rỗi. Trong lúc nhập hồn mình vào những trang kinh thánh, Hàn Mạc Tử như tìm lại được sự sống ở chốn trần gian đầy khổ ải.
Trong Hồn lìa khỏi xác, tác giả đã có một giọng thơ khác lạ, có lúc đau thương, có lúc não nuột rồi vút thẳng lên đấng tối cao để tìm được niềm an ủi trong tuyệt vọng. Do đó, bài thơ mở ra một không gian nơi tiên cảnh mang một giọng điệu sang trọng trong kinh thánh. Với bài thơ này, Hàn Mạc Tử là một minh chứng cho sự tồn tại của thiên chúa và thế giới khải huyền như lời kinh thánh rao giảng.
Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng Chơi vơi trong khí hậu chín từng mây Ánh sáng lạ sẽ tan vào hư lảng
Trời linh thiêng cao cả gợi nồng say ...
Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng
Để cho hồn đỡ bớt nỗi bi thương Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm nín Hồn đi rồi khôn nhập xác thê lương
Những từ ngữ trong Kinh Thánh được Hàn Mạc Tử sử dụng trong thơ như một “kiến trúc ngôn từ đầy âm vang”, giàu nhạc điệu tạo cho bài thơ có âm hưởng như những bản “Thánh ca buồn” ngân dài, vọng mãi trong tâm hồn của thi nhân. Những ngôn từ đầy âm vang ấy xuất hiện dày đặc trong thơ Hàn Mạc Tử: nhạc thơm, khoái lạc, đấng Hằng Sống, lụt Hồng Thủy, nhạc thiêng liêng, phước lộc, nhạc Nghê Thường, suối trăng, sông Ngân Biếc, chân Bàn Thành...
Trong Cô gái đồng trinh:
Có tôi đây! Hồn phách tôi đây!
Tôi nhập vào trong xác thịt này Cốt để dò xem tình ý lạ
Trong lòng bí mật ả thơ ngây Biết rồi, biết rồi! Thôi biết cả Té ra Nàng sắp sửa yêu ta Bao nhiêu mơ ước trong tim ấy Như chực xuân về thổ lộ ra Trong Ngoài vũ trụ:
Lụt Hồng Thủy trời không cho tái lại Khiến bồ câu bay bổng quá không gian Ra không gian là vượt hẳn thượng tầng ...
Vì có đấng Hằng Sống, hằng ngự trị Nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh
Trong Thơ điên, bên cạnh giọng thơ đau thương đang rên xiết, khúc ca dao trữ tình trong sáng. Hàn Mạc Tử đã đưa vào trong thơ một giọng điệu sang trọng, cao khải nhằm nhấn mạnh khát vọng hồi sinh của người thi sĩ tài hoa đoản mệnh này.
Giọng thơ sang trọng, cao khải ấy như giúp nhà thơ thoát hẳn tình trạng bế tắt không lối thoát trước cuộc sống hiện tại. Mặt khác với giọng thơ ấy, Hàn Mạc Tử đã truyền tiếng đồng vọng sâu xa vào tâm thức của những người yêu thơ. Và ở đây, chất đạo và chất đời trong thơ Hàn Mạc Tử có một sự đồng hiện, biểu hiện một triết lý sống ở đời. Qua những trang kinh của Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Đạo giáo đã cho ra một hình tượng thơ Hàn Mạc Tử vô cùng độc đáo và sáng tạo. Một hồn thơ dị biệt. Trong hồn thơ ấy, ta bắt gặp một nhân vật trữ tình đang chìm đắm trong miền cực lạc bởi sự khổ hạnh của cuộc sống. Như vậy, trong thơ Hàn Mạc Tử có sự hòa hợp của “Tam giáo đồng nguyên”. Sự hòa hợp ấy đã hình thành nên một giọng thơ sang trọng trên trang thơ Hàn Mạc Tử.
Tóm lại, giọng điệu là khúc giải bày tâm trạng của thi nhân. Là tiếng nói ân tình của một hồn thơ đang rên xiết. Có lúc giọng thơ ấy đau thương đến tê dại, có lúc mang một âm hưởng dân ca trong sáng, có lúc thoát hiện tại vượt tiên cảnh để tạo nên một giọng thơ sang trọng, cao khải nơi thiên đàng.
Đó chính là nét đặc sắc về giọng điệu thơ Hàn Mạc Tử- tạo nên những nốt nhấn, cung ngâm trong hồn thơ Hàn Mạc Tử.