CHƯƠNG 3 ĐẶC SẮC NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT THI CA HÀN MẠC TỬ
3.1. Các biện pháp tu từ trong thơ Hàn Mạc Tử
So sánh là biện pháp tu từ tạo nên một trường nghĩa rộng lớn, từ đó làm bộc lộ mọi cung bậc tình cảm của tác giả. Do đó, thủ pháp so sánh được dùng xuyên suốt hành trình thi ca văn học dân tộc. Đứng ở góc độ tiếp nhận văn học, so sánh giúp cho tác giả mở rộng trường liên tưởng để trực giác hóa, làm phong phú thế giới hình ảnh nhằm đưa người đọc đến nhiều sắc thái cảm xúc thẩm mỹ.
Ở mỗi thời kỳ văn học, thủ pháp so sánh đều bộc lộ hết vai trò biểu đạt của nó và mang ý nghĩa vô cùng to lớn trong cách biểu đạt ngôn từ của tác giả. Sự ra đời của các tác giả Trường thơ loạn và đặc biệt là thi sĩ Hàn Mạc Tử đã nâng biện pháp so sánh lên một vị trí hàng đầu trong quá trình lột tả nguồn tư tưởng, cảm xúc của mình. Đây có thể là sự tiếp nối của truyền thống thi ca dân gian, ảnh hưởng trực tiếp của lối so sánh ví von của quần chúng.
Mặt khác với Hàn Mạc Tử, thủ pháp so sánh cũng là phương thức biểu đạt đưa thơ ông đến vào trường thơ thế giới đầy hình ảnh, hương sắc và âm thanh.
Thủ pháp so sánh được Hàn Mạc Tử sử dụng xuyên suốt trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình và đặc biệt trong tập Thơ điên, biện pháp so sánh xuất hiện với tần số dày đặc với tổng số 43 lần/ 42 bài thơ. Trong đó kiểu so sánh A là B là phổ biến nhất.
Trong Gái quê, so sánh được vận dụng theo lối tư duy truyền thống, giữa cái so sánh và cái được so sánh có nét tương đồng về ý nghĩa. Cách so sánh này ta rất hay gặp trong ca dao dân ca, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày:
Làn môi mong mỏng tươi như máu Em buồn như đám mây
...
Lối so sánh trong Gái quê làm cho câu thơ có phần gợi cảm hơn, câu thơ mang âm điệu nhẹ nhàng, sầu lắng hơn.
Đến Thơ điên, thủ pháp so sánh không còn là sự liên hệ gần nhau giữa cái so sánh và cái được so sánh mà chúng được liên kết lại với nhau từ những hình ảnh rất xa nhau, thậm chí rất khác thường:
Mới lớn lên trăng đã thẹn thò Thơm như tình ái của ni cô
(Huyền ảo) Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc ...
Chết rồi xiêm áo trắng như tinh
(Cô gái đồng trinh) Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên
(Ngoài vũ trụ) Xuân trên má nường thơ
Ngon như tình mới cắn
(Cao hứng)
Đây là kiểu so sánh rất mới lạ và độc đáo. Tác giả đã lấy đối tượng so sánh và đối tượng được so sánh khác nhau trên cùng một trường nghĩa làm cho câu thơ bị lạ hóa, khiến cho câu thơ mang một màu sắc kinh dị “Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc”. Trong thực tế, xác chưa bao giờ nằm cùng một trường nghĩa với ngọc. Nói đến xác khiến ta liên tưởng đến những cái gì xơ cứng, bị bất động về cảm giác làm cho ta ghê sợ và kinh tởm; ngọc khiến ta liên tưởng đến vẻ đẹp về hình dáng và màu sắc. Thế nhưng, Hàn Mạc Tử lại
so sánh “xác thơm hơn ngọc”, lấy cái kinh dị so sánh với cái đẹp đẽ về màu sắc và hình khối càng làm cho câu thơ có phần mơ hồ về ý nghĩa biểu đạt.
Cách so sánh này mang đậm tính chủ quan của tác giả, làm cho người đọc khó có thể đồng tình cùng tác giả và làm cho câu thơ có vẻ khập khiễng về ý nghĩa ngôn từ. Thế nhưng, cách so sánh đã tạo nên một trường liên tưởng mới và lạ.
Để có thể hiểu hết ý nghĩa của câu thơ buộc người đọc phải tư duy sâu và phải lần tìm về nơi xuất xứ của bài thơ, nơi thực tại mà tác giả đang đau đớn tột cùng của thể xác. Có như vậy ta mới có thể hiểu hết được độ nhòe và tính đa nghĩa, đa thanh của câu thơ. Đây có thể là một xác chết của cô gái đồng trinh, thánh thiện. Sự trinh trắng của cô gái ấy khi chết đi vẫn còn phảng phất mùi hương trinh. “Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc” là như vậy đấy.
Hàn Mạc Tử đã dùng khứu giác để cảm nhận một luồng tình cảm trừu tượng, dẫn dắt người đọc bước vào một cõi tâm linh sâu thẳm.
Đi suốt chặng đường Thơ điên, ta thấy Hàn Mạc Tử có sự so sánh không đồng nhất và đi xa so với thuộc tính vốn có của nó. Ví dụ, khi khảo sát đối tượng so sánh là ngọc. Thoạt tiên trong thơ Hàn Mạc Tử, ngọc hiện lên trong Đây thôn Vỹ Dạ một vẻ trong sáng với một hình dáng và màu sắc long lanh đúng như thuộc tính vốn có của ngọc.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Tác giả muốn nhấn mạnh đến độ tươi tắn của khu vườn khi ánh bình minh chiếu xuống có sự khúc xạ bởi ánh sáng càng làm cho khu vườn thêm tươi xanh lấp lánh như ánh ngọc. Càng về sau, tác giả càng gắn cho ngọc các thuộc tính khác như:
Trăng dầu sáng còn thua đôi mắt ngọc (Dấu tích) Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc
(Cô gái đồng trinh)
Hàn Mạc Tử đã dồn hết mọi cơ quan cảm giác khi khai thác ý nghĩa biểu đạt của ngọc làm cho câu thơ có độ nhòe và tính mơ hồ về nghĩa nhưng mang một giá trị biểu cảm cao. Đến đây, Hàn Mạc Tử đã đạt được độ chín mùi về tài năng và phát tiết ra những câu thơ thật độc đáo và mới lạ. Hàn Mạc Tử - nhà thơ lạ nhất trong phong trào Thơ mới quả là không sai.
Với thủ pháp so sánh, Hàn Mạc Tử không đi theo lối mòn lấy cái trừu tượng so sánh với cái cụ thể. Mà nhà thơ lấy cái trừu tượng so sánh với cái trừu tượng. Điều này khiến cho câu thơ vốn mang tính mơ hồ về nghĩa càng mơ hồ và thú vị hơn. Cách so sánh tác động mạnh vào các giác quan của người đọc, tạo nên cõi thơ huyền bí, dẫn dắt người đọc đi vào chốn mê cung của cõi tâm linh. Hàn Mạc Tử đã phá vỡ lối so sánh truyền thống, tạo nên một sự vận động mới của thơ ca Việt Nam hiện đại, làm phong phú cho ngôn ngữ thơ ca. Chính điều này làm cho câu thơ biến hóa nhịp nhàng, sinh động tạo nên những cung đàn réo rắc hòa trong miền cảm giác tạo nên một bản hòa tấu hài hòa và uyển chuyển.
Với so sánh - thủ pháp tạo nghĩa đa tầng đã tạo nên một hồn thơ Hàn Mạc Tử vô cùng đặc sắc. Đặc sắc về thế giới âm thanh và hương sắc. Sự lạ hóa về ngôn từ nghệ thuật đã tạo nên một trường liên tưởng về cảm giác khi chiêm nghiệm hồn thơ Hàn Mạc Tử.
3.1.2. Biện pháp ẩn dụ
Thơ chính là tiếng lòng của thi sĩ, lời bộc bạch của thi nhân trước thực tại, mỗi chữ gieo ra như một hạt mầm làm ươm nóng tâm hồn tác giả. Nghĩa là tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ để phát biểu cảm xúc của tiếng lòng mình.
Vì ẩn dụ thường thể hiện những ảo giác thoáng qua, ít bền vững nhưng mang ý nghĩa cá thể cao, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Hiểu được giá trị tu từ trong thơ trữ tình, Hàn Mạc Tử sử dụng biện pháp ẩn dụ như một thủ pháp
mở nhiều tầng nghĩa để phơi bày lòng mình trước hiện thực đau thương quá ư nhỏ hẹp.
Trong Mùa xuân chín, có câu:
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
Cỏ như xanh mãi, xanh mãi tạo nên một thảm có tươi xanh trải dài đến tận chân trời. Thảm cỏ tươi xanh trong một không gian bao la, vô tận. Hình ảnh ẩn dụ “sóng cỏ” và ba chữ “gợn tới trời”, gợi tả thảm cỏ xanh rập rời trong làn gió xuân nhè nhẹ thổi. Nhà thơ đã ẩn lòng mình trên sóng cỏ, lòng thi nhân bỗng nhiên nao nao, đôi lúc êm ắng, đôi lúc ồn ào tạo thành một làn sóng lòng mang tâm trạng tâm tư bất định. Câu thơ này khiến ta nhớ đến nhà thơ Huy Cận trong bài Tràng Giang:
Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngã Củi một cành khô lạc mấy dòng
Đó cũng là tiếng sóng lòng đang vỗ của thi nhân khi mang trong mình nỗi đau mất nước. Đó cũng là tâm trạng chung của một thế hệ mang nỗi đau sầu muộn trước thời cuộc.
Thủ pháp ẩn dụ được Hàn Mạc Tử sử dụng như một thủ pháp hữu dụng trong việc tạo nên những hình ảnh thơ mới lạ và độc đáo. Tạo nên một thế giới ngôn từ nghệ thuật đầy hương sắc. Độc giả như chìm đắm trong thế giới huyền ảo của những âm thanh hòa vọng từ miền cảm giác của thi nhân mang nỗi niềm bất hạnh đến tê dại tâm hồn này.
Trong Đây thôn Vỹ Dạ - bản tình ca bất hủ trong nền văn học dân tộc.
Hàn Mạc Tử mượn biện pháp ẩn dụ để phác họa nên bức chân dung người con gái xứ Huế:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt hiền lành và nhân hậu. Khuôn mặt thanh tú ấy vô tình bị chiếc lá trúc che ngang khiến cho thi nhân không chiêm ngưỡng được những đường nét trên khuôn mặt của nhân vật trữ tình. Lá trúc như là một trở lực ngăn cản nhân vật trữ tình và chủ thể trữ tình, tạo nên một khoảng không giữa hai nhân vật. Mặt khác, câu thơ trên đã vẽ lên một bức họa chân dung của người thiếu nữ xứ Huế luôn e ấp, ý nhị. Đồng thời câu thơ còn cho ta thấy một sự đồng hiện giữa con người và cảnh vật thiên nhiên, làm cho bức họa ấy có phần sống động hơn bởi nét vẽ tĩnh mà động.
Biện pháp ẩn dụ được sử dụng hàng loạt trong hành trình Thơ điên của Hàn Mạc Tử như: Huyền ảo, Say nắng, Thời gian, Lưu luyến...
3.1.3. Biện pháp nhân hóa
Trong Lý luận văn học của Phương Lựu: Nhân hóa là sự đồng nhất sự vật vô sinh với sự vật hữu sinh nhằm làm cho nó sống dậy, có hồn, có tình hơn. Như vậy, nhân hóa là biện pháp tu từ được các tác giả sử dụng để nêu bật lên nguồn cảm xúc tư tưởng, tạo nên một mạch liên kết về trường nghĩa buộc người đọc phải suy ngẫm. Chẳng hạn:
Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất?
Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai?
Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt?
Ở đây, tác giả dân gian đã cụ thể hóa, hình tượng hóa chiếc “khăn” để bộc lộ niềm nhớ thương mong mỏi khi người yêu chưa đến. Do đó câu thơ mở rộng mạch suy ngẫm về những cử chỉ dè dặt, bối rối của chàng trai khi mới bước chân vào vườn tình.
Nhờ đặc tính cụ thể hóa, hình tượng hóa các sự vật hiện tượng để nói lên tâm trạng của tác giả. Hàn Mạc Tử sử dụng biện pháp nhân hóa như một phương thức hữu hiệu để lột tả hết tâm trạng của thi nhân. Đặc biệt, khi mang trong mình cơn bệnh phong, tâm hồn của thi nhân dường như bị tắt nghẽn, không thông huyết, nhà thơ đã mượn hình ảnh ánh trăng để vẽ lên một chân dung về Hàn Mạc Tử đang chìm đắm trong cơn đau về xác thịt và đang bị bòn rút về tâm hồn.
Ở Gái quê, nhân hóa được sử dụng theo lối tư duy truyền thống. Đó là sự đồng nhất giữa vật vô sinh và vật hữu sinh để nêu bật chủ đề tư tưởng của tác giả:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi
(Bẽn lẽn)
Sang Thơ điên, Hàn Mạc Tử đã nhân hóa ánh trăng trong thơ. Ánh trăng trong thơ ông luôn biến hóa diệu kỳ, lung linh huyền ảo. Thi nhân có rất nhiều bài thơ viết về ánh trăng. Song trong mỗi bài thơ trăng đều hiện lên một nét đẹp riêng như: Uống trăng, Đà Lạt trăng mờ, Sáng trăng, Ngủ với trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng...
Hàn Mạc Tử đã vật thể hóa ánh trăng, nhân hóa ánh trăng. Ánh trăng trở nên gần gũi, cụ thể, có hình có khối:
Nước hóa thành trăng, trăng ra nước Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm!
Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm
(Say trăng) Không gian đắm đuối toàn cả trăng Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng (Huyền ảo) Trong Đây thôn Vỹ Dạ:
Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay
Với thủ pháp nhân hóa, Hàn Mạc Tử đã vẻ lên một không gian u buồn của sự li biệt. Trong khung cảnh chia đôi của “gió”, “mây” đã làm cho không gian thêm phần u tối. Bỗng nhiên xuất hiện “dòng nước buồn thiu” và hoa bắp sắp rơi rụng xuống hư vô làm cho câu thơ vốn dĩ đã buồn lại càng ảm đạm hơn. Những hình ảnh ấy mang lại một nỗi buồn man mác của sự chia li. Độ sáng mát dịu của ánh trăng đã làm cho bến sông quê thêm thơ mộng và huyền ảo. Sông hóa thành sông trăng, thuyền chở trăng đã tạo nên một không gian mênh mang sông nước hư ảo. Hai câu thơ mang đậm ý vị và chất thần tiên trong sáng.
Như vậy, trăng hiện lên trong Thơ điên với tất cả các đường nét, độ sáng - tối, càng làm cho ánh trăng thêm lung linh huyền ảo: sông trăng, thuyền trăng, buồm trăng... Trăng như đồng hóa cùng tâm trạng của thi nhân, là người bạn tri âm tri kỷ, là nơi trút bầu tâm sự của thi nhân.
Biện pháp nhân hóa đã mở ra một trường liên tưởng rộng lớn về cách chiêm nghiệm thơ Hàn Mạc Tử nói riêng và những trang tuyệt bút của những thi tài văn học khác nói chung. Từ đó, bài thơ mở ra một không gian thơ mộng và hư ảo tác động vào thi hiếu thẩm mỹ của độc giả. Với cách nhân hóa
này, Hàn Mạc Tử đã phá vỡ cách nhân hóa truyền thống, tạo nên một sự mới lạ trong việc hình thành phong cách thơ Hàn Mạc Tử. Do đó, câu thơ mang một giá trị thẩm mỹ cao trong việc xây dựng nên thế giới thơ và những biểu tượng trong hồn thơ Hàn Mạc Tử.
Với ba biện pháp nghệ thuật: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa; Hàn Mạc Tử còn sử dụng các biện pháp nghệ thuật khác như: đảo ngữ, hoán dụ, câu hỏi tu từ. Nhờ những biện pháp nghệ thuật ấy, Hàn Mạc Tử đã tạo nên một trang thơ vô cùng độc đáo và sáng tạo và cũng hình thành nên phong cách sáng tác của nhà thơ. Trong việc sáng tạo nên thế giới hình tượng thơ và những đặc sắc về ngôn từ nghệ thuật. Do đó, Hàn Mạc Tử đã tạo nên một sự mới lạ trong ngôn ngữ thơ, tạo nên một sự vận động mới về cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại Việt Nam, mở ra một kiểu không - thời gian nghệ thuật trên trang thơ Hàn Mạc Tử.