Hình tượng không gian trong thơ Hàn Mạc Tử

Một phần của tài liệu Thi pháp thơ hàn mạc tử qua thơ điên (Trang 29 - 38)

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG THƠ HÀN MẠC TỬ QUA THƠ ĐIÊN

2.2. Hình tượng không gian trong thơ Hàn Mạc Tử

Không gian nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học được tác giả xây dựng và mở một thế giới ba chiều: cao, rộng, xa và chiều dài của thời gian. Trong không gian ba chiều ấy luôn dành cho chủ thể trữ tình một khoảng cách nhất định để chiêm nghiệm những sự vật, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống xung quanh. Đó chính là điểm nhìn của chủ thể trữ tình. Theo Trần Đình Sử: không gian nghệ thuật là thế giới nghệ thuật độc lập có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả. Đó là không gian tinh thần của con người, là không gian tâm tưởng trong đời sống nội tâm. Và không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nào đó nhất định về cuộc sống, do đó không thể quy nó về sự phản ánh giản đơn không gian địa lý hay không gian vật lý. Bằng những biểu tượng cụ thể, tác giả văn học đã xây dựng nên một hình tượng không gian nghệ thuật vô cùng độc đáo.

Thật vậy, nếu đến với thơ Tố Hữu - cánh chim đầu đàn cho nền thơ ca cách mạng, ông đã xây dựng nên một không gian cách mạng, một con đường cách mạng của dân tộc ta. Ở đó mọi cung bậc cảm xúc về người dân Việt Bắc được bộc lộ một cách rất gần gũi và chân thật. Ở thơ Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê Việt Nam, ta bắt gặp một không gian làng quê tươi mát, nơi ấy có cặp tình nhân mơ mộng về một cuộc sống đạm bạc, dân dã nơi quê nhà. Mỗi tác giả văn học sử dụng một ngôn từ nghệ thuật riêng nhằm xây dựng nên một kết cấu về không gian nghệ thuật trên trang thơ của mình để tạo nên được điểm nhấn trong lòng độc giả.

Ở Thơ mới, không gian nghệ thuật được người nghệ sĩ xây dựng với một thế giới hình tượng vô cùng đặc sắc. Đặc biệt sự ra đời của các tác giả

Trường thơ loạn, trong đó nổi lên một hiện tượng lạ là Hàn Mạc Tử. Nhà thơ là trung tâm điểm, là người đứng đầu Thái Dương Văn Đoàn, là con Rồng trong nhóm Tứ linh, là người sáng lập nên Trường thơ loạn đã xây dựng nên một kết cấu về hình tượng không gian nghệ thuật vô cùng mới lạ. Suốt hành trình thơ của Hàn Mạc Tử là một chuỗi ngày dài của đau thương và bệnh tật.

Nhà thơ đã đưa bạn đọc vào một mê cung của sự rỉ máu tâm hồn, bước vào một khung cảnh của làng quê thơ mộng rồi bỗng thoát hiện tại ngao du chốn bồng lai tiên cảnh. Ba kiểu không gian ấy đã tạo nên một sự cộng hưởng độc đáo tác động vào tâm tưởng người đọc khi chiêm nghiệm hồn thơ Hàn Mạc Tử.

2.2.1. Không gian vườn quê tươi mát

Hàn Mạc Tử vứt bỏ những quy luật khắt khe của Đường thi để bước chân vào địa hạt của vùng trời Thơ mới. Hàn Mạc Tử cũng là người mở đầu chủ nghĩa lãng mạn trong phong trào Thơ mới. Ở vườn thơ Đường thi, người đọc thấy được một không gian tràn đầy màu sắc cổ điển. Nhà thơ mang trong mình nỗi đau của một cá nhân trước hiện thực đau thương của đất nước bị quân giặc giày xéo. Do vậy, tâm tưởng thi nhân lúc này như giao hòa cùng với non nước muôn trùng. Hàn Mạc Tử đứng trên cao nhìn xuống để mở ra một không gian vũ trụ bao la. Lúc này con người cảm thấy nhỏ bé vô ngần trước thiên nhiên tạo vật. Và đó cũng là tâm trạng chung của một thế hệ thanh niên lúc bấy giờ.

Gái quê, Hàn Mạc Tử đã xây dựng nên một không gian ái tình vô cùng thơ mộng và lãng mạn. Vẻ đẹp của những miệt vườn xanh tốt xứ Huế đã đi vào hồn Hàn Mạc Tử và hiện ra như một bức họa đồng quê “đầy trinh tiết và đầy thanh sắc”. Đến Thơ điên, với một cái tôi luôn khao khát hòa nhập với thiên nhiên, Hàn Mạc Tử đã xây dựng nên một không gian vườn quê tươi mát.

Tác giả đã phác họa nên một bức tranh thôn quê hiện lên với tất cả vẻ ý nhị, e

ấp giống như nét duyên dáng, dịu dáng của người thiếu nữ xứ Huế vậy. Nói đến không gian của điểm hẹn tình ái, ta đã bắt gặp nhiều trong thơ Nguyễn Bính, thơ Pushkin, thơ Êxenin... Do đó, không gian vườn tình không có gì mới trong dòng văn học dân tộc. Thế nhưng lạ ở chỗ, Hàn Mạc Tử đã dùng một ngòi bút tổng lực phẩy vài nét họa đã tạo nên một khu vườn tình hay bến mộng vô cùng tươi trẻ và đẹp đẽ. Trong các trang thơ Hàn Mạc Tử, hình ảnh những khóm cây xuất hiện với tần số dày đặc: tơ liễu, hàng thông, lá trúc, sen ngào, lá đổ... và những bến tình cũng lần lượt xuất hiện: bến sông trăng, bến tình, bến lòng em...

Thật vậy, ở Đây thôn Vỹ Dạ, không gian xứ Huế hiện lên với một vẻ thanh thoát và ý nhị:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bốn câu thơ trên, tác giả đã vẽ lên một bức họa đồng quê thơ mộng với những nét văn hóa tượng trưng cho xứ Huế. Hàng cau thẳng tắp vút lên trời cao đón những tia nắng bình minh mát dịu như khẳng định sức sống mạnh mẽ vốn có cũng như sức chịu đựng kiên cường của người dân nơi đây. Những tia nắng buổi sớm mai ấy chiếu xuống hàng cau và thẳng xuống khu vườn tươi mát lúc bình minh còn đọng hơi sương. Dường như có một sự phản xạ về độ sáng - tối nên càng làm cho khu vườn thêm tươi xanh và lấp lánh ánh ngọc.

Câu thơ cuối đã xuất hiện nhân vật trữ tình - người thiếu nữ mang nét dịu dàng, ý nhị của người con gái xứ Huế. Với bốn câu thơ trên, Hàn Mạc Tử đã thâu tóm mọi nét văn hóa, nét đẹp vốn có của xứ Huế vào một khu vườn quê tươi mát, dân dã. Ở đây, tác giả đã vẽ nên một bức tranh tĩnh mà động, tạo nên một sự hài hòa và cân xứng, lòng khao khát giao cảm với thiên nhiên của

thi nhân. Đến Mùa xuân chín, cũng bằng những nét vẽ phác họa Hàn Mạc Tử đã dựng lên một không gian làng quê tươi mát. Bức tranh vẽ cảnh sinh hoạt của người dân nơi đây. Tiếng gọi nhau í ới trong những buổi gặt mùa, tiếng cười nói rộn rã trên đường gánh thóc về. Độ đương xuân sắc của các cô thiếu nữ đã làm tăng thêm phần sinh động của bức tranh.

Hàn Mạc Tử không chỉ dựng lên một không gian vườn quê tươi mát nơi cuộc sống hiện thực mà tác giả phác họa lên một không gian vườn trong tâm tưởng, đó là: vườn trăng, vườn mơ, vườn tiên, vườn châu. Từ bến sông trăng ở Vỹ Dạ, thi sĩ đã đi đến bến mộng, bến tình và chủ đích cuối cùng là đến bến lòng em. Thế nhưng thi sĩ luôn mang trong mình nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần ấy cứ mãi miết mà không đi đến được bến lòng em.

Như vậy, với một tâm trạng luôn khao khát hòa hợp với thiên nhiên, với đời, Hàn Mạc Tử đã xây dựng lên một không gian vườn quê tươi mát. Ở đó con người và sự vật luôn có sự cộng hưởng, giao hòa với nhau trong tâm tưởng, tạo nên một mối tương giao đồng nhất. Vì chỉ có xây dựng nên kiểu không gian ấy, thi sĩ mới thể hiện được một khát vọng sống, khao khát được yêu, khát vọng được hòa hợp. Mặc dù thực tế có phũ phàng nhưng ẩn sâu trong tâm hồn người thi sĩ bất hạnh ấy một sức sống tìm tàng về cái tôi khao khát.

2.2.2. Không gian rướm máu, đau thương

Tập Thơ điên ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Ai cũng nghĩ rằng khi mang trong mình căn bệnh nan y Hàn Mạc Tử sẽ chết lụi dần trong sự héo mòn về thể xác. Nhưng không, chính cơn đau ấy, tài năng vốn có của Hàn Mạc Tử như được phát tiết ra những vần thơ táo báo và lạ lẫm. Cơn đau vô ngần ấy đã giúp cho hồn thơ thi sĩ được thăng hoa. Kết quả của sự thăng hoa ấy được ngưng tụ lại thành trang Thơ Điên có một không ai trong trường thơ Việt Nam nói riêng và trường thơ thế giới nói chung. Tập thơ như

một trang nhật ký về sự đau thương quằn quại của một con người đoản mệnh, kể từ lúc phát bệnh cho đến khi “hộc ra từng búng huyết”.

Trong giây phút đau thương tột cùng ấy, nhà thơ đã dựng lên một cái tôi đau thương luôn mặc cảm, bi ai vì số phận. Và chính cái tôi ấy đã giúp Hàn Mạc Tử phác họa lên một không gian rướm máu. Tiếp cận với không gian ấy, ta bắt gặp hình ảnh một thi sĩ đang quằn quại, giằng xé giữa sự sống và cái chết, giữa nỗi đau tinh thần và thể xác. Căn bệnh phong tác quái ấy, đã đẩy nhà thơ đến bên bờ của vực thẳm, đến với hố đen của cuộc đời. Khi tuổi đời còn quá xuân sắc, biết bao hoài bão, ước mơ đặt ra mà chưa thực hiện được. Bỗng nhiên trong phút chốc lại bị vây hãm trong một không gian chật hẹp bởi bốn bức tường ngăn cách. Cái không gian chật chội ấy đã đeo đẵng nhà thơ và hiện ra bằng tâm trạng cô độc khủng khiếp.

Tôi đang còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong máu huyết Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu

(Những giọt lệ)

Hàn Mạc Tử đang bị vây hãm trong không gian “trời sâu”, “giếng thẳm”, một không gian tối ngòm không có sự sống của con người. Tác giả như muốn kêu lên thảm thiết khi sự đời quá ư bất công. Nước mắt của nhà thơ cũng đã rơi, nhưng những giọt lệ ấy chảy ngược vào trong lòng. Điều này càng làm cho nỗi đau của thi nhân tăng lên gấp bội như thấu tận trời xanh.

Trong không gian “trời sâu”, thi nhân còn có khả năng cựa quậy để duy trì sự sống, thét gọi lên cùng trời đất vô tận. Còn trong không gian “đáy giếng” tối om đã kìm hãm lại mọi cử động của nhà thơ.

Thét chòm sao hoảng rơi vào đáy giếng Mà muôn năm rướm máu trong không gian

(Rướm máu) Lòng giếng lạnh! Lòng giếng lạnh!

Sao chẳng một ai hay ...

Loạn rồi! Loạn rồi, ôi giếng loạn!

Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên...

(Trăng tự tử)

Chính cái không gian đau thương, không gian rướm máu đang bủa vây ấy, số phận của thi nhân như đang bị tụt xuống con dốc của vực thẳm với một tốc độ khủng khiếp. Cảm giác ấy kêu lên một tiếng thất thanh vọng dài thê thiết trong không gian chìm lỉm xuống hư vô.

Trời hỡi! Bao giờ tôi chết đi Bao giờ tôi hết được yêu vì Bao giờ mặt nhật tan thành máu Và khối lòng tôi cứng tợ si

(Những giọt lệ)

Giờ đây, Hàn Mạc Tử đang thu hẹp mình trong một trạng thái cô độc về tư tưởng “khối lòng ... cứng tợ si”. Nhà thơ dường như đang chênh vênh, đang chấp chới giành lấy sự sống trong một không gian vô cùng rộng lớn. Thế nhưng, nhà thơ nhỏ bé vô cùng, có một và chỉ một và thôi:

Một khối tình nức nở giữa âm u Một hồn đau rã lần theo hương khói Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi Một lời run hoi hóp giữa không trung Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng

Hóa thành vũng máu đào trong ác lặng

(Trường tương tư)

Nỗi đau bất hạnh về cuộc đời, về đường tình duyên đã làm cho Hàn Mạc Tử “ ngất ngư trong vũng huyết”. Nỗi đau quằn quại ấy được hiện ra trong một không gian, thời gian rướm máu vô tận “Mà muôn năm rướm máu trong không gian” (Rướm máu). Những hình ảnh vũng máu đào, vũng trăng, vũng hồn, vũng cô liêu... xuất hiện ngày càng nhiều với tần số dày đặc trong thơ Hàn Mạc Tử:

Ôi ngông cuồng, ôi rồ dại, rồ dại...

Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta (Biển hồn ta) Đây bãi cô liêu lạnh hững hờ

Với buồn phơn phớt, vắng trơ vơ (Cuối thu) Chao ôi, ghê quá trong tư tưởng Một vũng cô liêu cũ vạn đời

(Cô liêu)

Chính trạng thái cô liêu, cô đơn trong một không gian rướm máu, đau thương. Hàn Mạc Tử muốn nhảy ùm xuống giếng “lòng giếng lạnh” để vớt xác trăng lên làm bạn tri kỷ với mình:

Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên

(Trăng tự tử)

Như vậy, với số phận đau thương và bất hạnh, Hàn Mạc Tử đã tái hiện không gian đau thương một cách đặc sắc để người đọc có thể nhìn thấy, có thể hình dung về nỗi đau cô đơn và bị kịch về một kiếp người. Với kiểu không gian rướm máu, nhà thơ đã tái hiện một cách đầy đủ mọi trạng thái cảm xúc

của một con người phải sống trong cái chết, nhà thơ nhìn “chiếc đồng hồ cát số phận” để mà cố giằng lấy sự sống, chạy đua với tử thần mặc dù là vô vọng.

2.2.3. Không gian siêu thoát, tiên cảnh

Có lẽ, trong giây phút bế tắc trước cuộc sống hiện tại, Hàn Mạc Tử như muốn thoát li thực tại, muốn bay lên chốn bồng lai tiên cảnh để tìm cho mình niềm vui, niềm tin yêu đối với cuộc đời này. Do đó mà bên cạnh không gian rướm máu, đượm buồn trong Thơ Điên còn xuất hiện ám ảnh về một không gian vượt thoát. Đến đây, ta chợt hiểu ra rằng không phải ngẫu nhiên mà Hàn Mạc Tử viết nhiều về động thái bay để diễn tả không gian siêu thoát, tiên cảnh. Trong Chơi trên trăng, nhà thơ đã để cho tâm tưởng của mình bay lên khỏi cái ngục tù của thể xác.

Ta bay lên! Ta bay lên!

Gió đưa tiễn ta tới nguyệt thềm

Ở hiện thực, Hàn Mạc Tử đang “quay cuồng như máu vọt”, “chết điếng cả làn da”,... Tâm tưởng của nhà thơ lúc này như đang bị tê dại, bị thôi miên bởi cơn đau của xác thịt. Làn da của thi nhân dần dần chuyển thành màu xanh, ngón tay dần rút lại, khiến cho tác giả:

Anh điên anh nói như người dại Van lạy không gian xóa những ngày

(Lưu luyến) Bây giờ tôi dại tôi điên

Chấp tay tôi lạy cả miền không gian

(Một miệng trăng)

Vì trạng thái đau đớn lên đến đỉnh điểm nên Hàn Mạc Tử đã rũ bỏ niềm đau thương nơi chốn trần gian thoát bay vào nơi tiên cảnh để tìm lẽ sống. Do vậy, hàng loạt từ ngữ diễn tả không gian vượt thoát dày đặc trong thơ Hàn Mạc Tử: thơ tôi bay, hồn tôi bay, dâng cao lên, Rồi bay lên cho tới một hành

tinh, cho bay lên, thơ bay trong gió loạn, Ta bay lên... Với những từ ngữ ấy, Hàn Mạc Tử đã thể hiện khát vọng vươn tới chốn thiên đường, chốn cung trăng, để thấy được cuộc sống bình yên nơi non nước hữu tình. Từ đó tăng thêm mạch nguồn xúc cảm, nguồn sống tìm tàng vốn ít ỏi trong tâm hồn nhà thơ.

Hồn thoát ly ra ngoài tâm tưởng Là hồn đừng nghĩ ngợi đến hồn trong Cứ để mặc hồn ngoài bay tư tưởng Ngao du cùng khắp cõi trí mênh mông

(Hồn lìa khỏi xác) Ra không gian là vượt hẳn thượng tầng Tới tấp đến ở ngoài kia vũ trụ

Nơi khí vượng bốc ngùn muôn tinh tú, Nơi không cho hồn lai vãng quan chiêm

(Ngoài vũ trụ)

Đến đây, Hàn Mạc Tử như được siêu thăng, thoát tục mọi đau đớn thể xác “sượng sần tê điếng”, “rướm máu”, “da thịt khủng khiếp”...

Hàn Mạc Tử đã bị đẩy lùi vào ngõ cụt của sự sống. Để rồi nhà thơ phải phát tiết những vần thơ vượt thoát không gian thực tại. Thế nhưng đó chỉ là thế giới của mộng tưởng, của hư vô, của những giấc chiêm bao. Đến khi thi nhân tỉnh giấc nồng, tác giả cảm thấy chua xót trước thực tại biết dường nào khi cái chết đang cận kề. Và rốt cuộc Hàn Mạc Tử chỉ là một trích tiên hành khất,Anh đi thẩn thơ như ngây dại”...

Như vậy, kết cấu không gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mạc Tử vô cùng độc đáo. Đặc biệt là không gian rướm máu, đau thương đã cho độc giả tận mắt chứng kiến hình ảnh một thi nhân đau thương đến tột cùng nhưng luôn ẩn trong mình một tấm lòng khao khát với đời.

Một phần của tài liệu Thi pháp thơ hàn mạc tử qua thơ điên (Trang 29 - 38)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(66 trang)