Giáo dục chuyên nghiệp

Một phần của tài liệu Giáo dục nhật bản thời minh trị 1868 1912 (Trang 37 - 40)

Chương 2: HỆ THỐNG GIÁO DỤC NHẬT BẢN DƯỚI THỜI MINH TRỊ (1868 - 1912)

2.2. Hệ thống giáo dục dưới thời Minh Trị (1868 - 1912)

2.2.3. Giáo dục chuyên nghiệp

Khi đã thực hiện chính sách “mở cửa” giao lưu với thế giới bên ngoài cũng là lúc nền kinh tế tư bản của Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, chuyển từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Lúc này, nhu cầu về lao động có tay nghề tăng cao. Nếu như trước đây, dưới thời kỳ Tokugawa, người lao động không cần qua đào tạo mà vẫn làm việc tốt vì họ không làm việc với máy móc thì đến thời kỳ Minh Trị lại hoàn toàn ngược lại. Lao động thời kỳ này nếu không qua đào tạo thì không thể làm việc với máy móc trong các công ty xí nghiệp. Vì vậy, giáo dục chuyên nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên đội ngũ công nhân có tay nghề, phục vụ cho quá trình hiện đại hóa đất nước.

Việc hình thành nên các trường giáo dục chuyên nghiệp là do yêu cầu về trình độ và kỹ năng đối với người lao động. Những học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông nếu không có nhu cầu học lên đại học thì có thể theo học các trường chuyên nghiệp để tìm kiếm việc làm phù hợp. Các trường chuyên nghiệp có vai trò cung cấp những kiến thức và kỹ năng cần thiết của một nghề, làm cho người học hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, công cụ, quy trình công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất. Nhiệm vụ của giáo dục chuyên nghiệp là giúp cho người học có thể thích ứng với sự dịch chuyển của cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề trong xã hội, nâng cao hiểu biết về an toàn lao động. Ngoài ra, giáo dục chuyên nghiệp còn rèn luyện các kỹ năng sử dụng công cụ, gia công vật liệu, thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch, tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực hành: “Đó là những cơ sở ban đầu để hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo, hình thành thói quen lao động và tư duy nghề nghiệp, hình thành ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp” [20, tr.74 - 75]

tạo điều kiện thuận lợi cho người học tự tin khi bước vào nghề.

Do trường học chuyên nghiệp của nhà nước xây dựng không đáp ứng yêu cầu về lao động có tay nghề cho các công ty, xí nghiệp nên tại các cơ sở sản xuất cũng có các trường riêng để đào tạo công nhân có tay nghề phục vụ cho công ty. Để tránh hiện

tượng các công nhân di chuyển nơi làm việc do chế độ đãi ngộ tiền lương hay phúc lợi xã hội ở các công ty có sự chênh lệch nhau làm mất đi đội ngũ lao động có tay nghề, các công ty đã tiến hành đào tạo tại nơi làm việc và thực hiện chế độ vừa học vừa làm nhằm nâng tay nghề và năng lực làm việc cho người lao động, tránh tình trạng thiếu lao động có tay nghề. Đối với những công nhân lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong công việc thì các công ty cho chuyển từ lao động chân tay sang lao động không chân tay hoặc bằng công tác quản lý ở cấp độ trung hoặc thấp nhằm buộc người lao động phải dâng hiến trọn đời mình cho công ty.

Khi công nhân thay đổi công việc của họ theo yêu cầu của công ty thì việc giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp lại cần thiết đối với việc phân bố lại lực lượng lao động đã được thực hiện trong nội bộ công ty, xí nghiệp và mọi chi phí do công ty chi trả:

Một số xí nghiệp lớn thậm chí có các trường riêng chuyên sử dụng các việc đào tạo lực lượng lao động của xí nghiệp. Từ đầu thế kỷ XX, các công ty lớn như công ty đóng tàu, công ty khai mỏ, đã xây dựng các trường dạy nghề của riêng mình” [33, tr.141].

Như vậy, mô hình giáo dục chuyên nghiệp của Nhật Bản dưới thời Minh Trị khá đa dạng và phong phú, phù hợp với thực tiễn yêu cầu hiện đại hóa đất nước. Việc hình thành các trường chuyên nghiệp cả trong nội bộ xí nghiệp và bên ngoài công ty là xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn lao động có tay nghề cho nền kinh tế Nhật Bản.

Điều này cũng cho thấy nền kinh tế thời kỳ này nền kinh tế Nhật Bản thời Minh Trị đã phát triển khá mạnh và vai trò của hệ thống giáo dục đối với công cuộc hiện đại hóa đất nước. Một đất nước muốn có nền kinh tế phát triển thì giáo dục phải đi tiên phong trong việc cung cấp đội ngũ lao động chuyên môn đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Bài học từ Nhật Bản sẽ là tấm gương tham chiếu cho những quốc gia nào muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước bởi giáo dục chuyên nghiệp là biện pháp đạt hiệu quả nhất trong yêu cầu phát triển kinh tế của một đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa.

2.2.4. Giáo dục ại học

Nếu như những giai đoạn trước, nhà nước chưa quan tâm đến giáo dục Đại học thì đến thời kỳ Minh Trị giáo dục Đại học cũng được nhà nước quan tâm, đặc biệt là vào giai đoạn cuối của thời Minh Trị với mục tiêu đào tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chất lượng cao để phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước.

Giai đoạn đầu của thời Minh Trị, giáo dục Trung học chưa được phổ cập rộng rãi nên số lượng người có đủ trình độ vào đại học chiếm tỷ lệ không đáng kể do đó đại học chưa có điều kiện phát triển. Ở giai đoạn này, cả nước chỉ có 3 trường đại học: đại học Quốc gia, đại học Chuyên môn và trường Cao đẳng Sư phạm. Ngoài ra còn có thêm trường trung cấp Shoheiko, trường Kaiseito và trường Ygakujo từ thời Mạc phủ chuyển giao năm 1869, đến năm 1877 các trường này hợp thành trường Đại học Tokyo. Về số lượng các ngành đào tạo trong trường đại học ở giai đoạn này còn chịu ảnh hưởng của phong trào Lan học từ thời Tokugawa lưu lại nên số sinh viên theo học ngành lý, hóa, công nghiệp kỹ thuật là đông đảo hơn cả, ngoài ra các ngành khác chưa phổ biến.

Năm 1887, bộ Giáo dục dựa trên hai trường Đại học Kaiseito và Ygakujo để chia thành các khoa Y học, Vật lý, Văn khoa, Luật khoa và sử dụng ngay sinh viên tốt nghiệp làm cán bộ giảng dạy ngay sau khi ra trường. Đây là thành công bước đầu của giáo dục đại học bởi nó đã phát huy vai trò của mình là đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước. Đồng thời cũng chứng tỏ phương pháp giảng dạy và kiến thức ở các trường đại học tiến bộ không thua gì các nước phương Tây. Năm 1886, bộ Giáo dục cho phép thành lập trường Đại học Nông nghiệp, đây là cơ sở của trường đại học kỹ thuật sau này. Đến năm 1890, trường Đại học Công nghiệp cũng ra đời. Cả hai trường này đều có đủ các ngành đại học ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên.

Nền giáo dục Đại học của thời Minh Trị chỉ thực sự phát triển từ năm Minh Trị thứ 30 trở đi do giai đoạn này các ngành kinh tế của Nhật Bản phát triển mạnh, có nhiều tiến bộ mới cần có nhiều cán bộ kỹ thuật cao cấp để đáp ứng nhu cầu về thị trường lao động có chất xám. Vì thế, nhà nước đã cho thành lập các trường đại học để đáp ứng nhu cầu học tập của người và nhu cầu lao động có chất xám của các ngành kinh tế. Nhà nước bỏ chính sách tự quản của các trường đại học và đặt chung dưới chế độ thống nhất của đại học toàn quốc. Việc nhà nước quản lý chặt chẽ hệ thống các trường đại học trong nước là bước thành công của nền giáo dục mới. Nhà nước cũng đã xác định trung tâm đại học chính của các nước là trường Đại học Quốc gia Tokyo.

Nhà nước lấy trường Đại học Tokyo là trung tâm đào tạo những người lãnh đạo nền giáo dục Nhật Bản và đào tạo đội ngũ giáo viên đại học. Năm 1897, Đại học Kyoto

Một phần của tài liệu Giáo dục nhật bản thời minh trị 1868 1912 (Trang 37 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(78 trang)