Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG GIÁO DỤC NHẬT BẢN DƯỚI THỜI MINH TRỊ (1868 - 1912)
3.3. Hạn chế của hệ thống giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị
3.3.2. Giáo dục chưa hướng đến đối tượng toàn dân
Mặc dù giáo dục thời kỳ này đa góp phần nâng cao trí cho nhân dân, nhưng đó chỉ là nhìn chung ở góc độ tổng thể, ở mặt đại trà. Nếu xét riêng ở từng đối tượng được tiếp cận giáo dục thì giáo dục thời kỳ này vẫn chưa hướng đến đối tượng toàn dân mà chỉ chú trọng tới tầng lớp trên của xã hội.
Đối tượng chủ yếu được ưu tiên trong giáo dục đó là tầng lớp Samurai. Không chỉ dưới thời kỳ Tokugawa mà ngay cả trong thời kỳ này thì tầng lớp Samurai vẫn là đối tượng được chính phủ mới đào tạo để lãnh đạo xã hội và khi họ được đào tạo ra thì nhà nước sử dụng họ vào các vị trí chủ chốt trong xã hội: “Năm 1840, 40% các trường tiểu học, 73% các trường cấp II có đội ngũ giáo viên xuất thân từ tầng lớp Samurai.
Năm 1878, 82% số sinh viên chuẩn bị vào học ở trương Đại học Hoàng gia Tokyo cũng có nguồn gốc xuất thân từ Samurai; đến 1885, 76% số tốt nghiệp trường Nông nghiệp Sapporo có nguồn gốc xuất thân từ Samurai” [53]. Điều đó cho thấy ưu thế của những người được đào tạo từ tầng lớp Samurai so với các tầng lớp bình dân khác.
Trong việc tuyển chọn lưu học sinh để đưa ra nước ngoài du học vào năm 1869, chính phủ Minh Trị cũng có sự ưu tiên cho con em của công khanh mà trước hết là con em của công khanh triều đình và các Han gửi sang phương Tây để du học. Nhiều trường hợp tuyển chọn đi du học không phải là do năng lực mà do thành phần xã hội hay sự quen biết của các quan chức chính quyền. Điều này đã gây ra tình trạng bất mãn trong xã hội, vì vậy mà năm 1871, chính phủ Minh Trị đã phải sửa đổi và ban hành Quy chế về lưu học sinh, theo đó việc tuyển chọn được tiến hành một cách khách quan và công bằng hơn.
Trong việc xây dựng hệ thống giáo dục cũng thể hiện sự phân biệt đối với tầng lớp nhân dân. Khi chính quyền Minh Trị xây dựng hệ thống giáo dục kép thì một bên là trường đại học dành cho những người ưu tú học tập để sau này nắm giữ những vị trí
lãnh đạo trong chính phủ, đó thường là những người xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội. Đối lập với các trường đại học dành cho những người ưu tú là hệ thống các trường tiểu học và trung học dành cho toàn dân, ở đây họ được dạy các kiến thức thực hành và rèn luyện đạo đức. Những người học trong các trường dành cho tầng lớp bình dân thì chỉ có thể lao động chân tay trong các xí nghiệp chứ khả năng đứng trong hàng ngũ lãnh đạo nhà nước là một điều rất hiếm hoi.
Giữa nam và nữ trong một nước thời Minh Trị cũng có sự chênh lệch khá cao về trình độ học vấn. Cụ thể là “vào năm 1875, 54% phái nam và 19% phái nữ học xong cấp tiểu học 6 năm” [45, tr.123]. Phụ nữ sau khi học xong hầu hết là ở nhà nội trợ chứ không tham gia vào việc quản lý xã hội hay phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa phổ biến như nam giới. Giáo dục phụ nữ là một việc làm tích cực trong giai đoạn này, nó góp phần rút ngắn khoảng cách về sự phân biệt trong xã hội phong kiến trước đó. Tuy nhiên, giáo dục phụ nữ trong giai đoạn này chủ yếu giới hạn ở giáo dục đức dục, kỹ thuật, nữ công gia chánh, cắm hoa, pha trà,… chứ chưa chú ý đến việc mở rộng giao tiếp trong xã hội cho phụ nữ. Nhiều phụ nữ vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của lối sống, đạo đức phong kiến Nhật Bản do chưa được tiếp cận với tư tưởng văn minh phương Tây hoặc ràng buộc bởi các đạo đức phong kiến Nhật Bản.
Các trường học chủ yếu được xây dựng ở những thành phố lớn, những vùng đông dân cư thì sẽ tạo điều kiện cho người dân thành phố thuận lợi trong việc đến trường. Nhưng nó lại gây khó khăn vướng mắc cho những người dân ở các vùng xa xôi, hẻo lánh vì sự cách trở về địa hình, địa lý. Đồng thời, những người nghèo khó không có đủ kinh phí để cho con em họ đến trường trong khi đó chính sách của nhà nước là: học phí do nhân dân tự đóng góp. Nó làm giảm số lượng trẻ đến trường, đặc biệt là con em các gia đình khó khăn. Như vậy, khi ban hành chính sách này nhà nước vẫn chưa tính đến những khó khăn của người dân mà chỉ nhìn vào những tầng lớp trên trong xã hội, nhìn vào mục tiêu hiện đại hóa Nhật Bản để ban hành.
Những hạn chế này của giáo dục thời Minh Trị chủ yếu do những tàn dư của tư tưởng phong kiến, đặc biệt là tinh thần “thượng đẳng” chi phối. Nó đưa đến sự phân hóa về trình độ học vấn, khoảng cách giữa các giai cấp, các vùng miền trong xã hội Nhật Bản. Bài học từ hạn chế của giáo dục Nhật Bản trong việc xây dựng nền giáo dục
chưa hướng đến đối tượng toàn dân sẽ là kinh nghiệm rút ra cho các quốc gia nhằm xây dựng một nền giáo dục đồng bộ, phù hợp với từng đối tượng trong xã hội.
3.3.3. Nội dung giáo dục chƣa toàn diện và phục vụ mục đích chính trị
Mặc đã xây dựng được một nền giáo dục đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa đất nước trước bối cảnh cấp thiết của thời đại, nhưng nền giáo dục Nhật Bản vẫn còn nhiều hạn chế đặc biệt là trong nội dung giáo dục và trong việc sử dụng giáo dục vào phục vụ mục đích chính trị.
Dưới thời Minh Trị, việc thực hiện đường lối phát triển giáo dục được tập trung vào việc đề cao giáo dục phổ thông và chú trọng giáo dục hướng nghiệp. Trên thực tế, việc thực hiện đường lối giáo dục này đã phát huy hiệu quả của nó trong việc nâng cao dân trí vào đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu phú quốc cường binh của Nhật Bản. Nhưng mặt trái của nó lại là hạn chế phát triển giáo dục đại học và nghiên cứu lý thuyết. Việc chú trọng giáo dục sơ đẳng và chuyên nghiệp được xem là chìa khóa đi vào thành công của Nhật Bản nhưng nó lại hạn chế sự sáng tạo tri thức của học sinh nên số học sinh tiếp tục học lên đại học còn thấp. Giáo dục Nhật Bản thời kỳ này không chú trọng việc đào tạo các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đầu ngành để tạo nên nguồn nhân lực mũi nhọn cho giai đoạn sau mà chỉ chú trọng đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật để phục vụ cho công nghiệp hóa. Điều này cũng ảnh hưởng tới khả năng thích ứng linh hoạt của đội ngũ lao động khi bước vào nền sản xuất hiện đại, đồng thời thiếu đội ngũ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành, gây trở ngại cho Nhật Bản bước vào trình độ cao hơn, hiện đại hơn. Các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành của Nhật Bản trong giai đoạn này chủ yếu được đào tạo ở nước ngoài thông qua hình thức du học, điều này gây tốn kém kinh phí của nhà nước đồng thời hạn chế khả năng chủ động của Nhật Bản trong xây vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao mà phải phụ thuộc vào các nước phương Tây.
Việc xây dựng một hệ thống giáo dục mũi nhọn phục vụ cho mục đích chính trị đã đào tạo cho Nhật Bản một đội ngũ lãnh đạo nhà nước có trình độ chuyên môn cao.
Đội ngũ nhân sự này vừa được lĩnh hội kiến thức về khoa học kỹ thuật phương Tây, vừa lĩnh hội kiến thức về đạo đức truyền thống Nhật Bản để có đủ năng lực lãnh đạo.
Tuy nhiên, giáo dục không phải chỉ riêng phục vụ mục đích chính trị của nhà nước mà
còn phải phục vụ cho lợi ích của quần chúng nhân dân. Chỉ khi nào dân giàu và mạnh cả về kinh tế lẫn tri thức thì nhà nước mới vững mạnh, mới có địa thế trên trường quốc tế. Vì vậy việc xây đào tạo chất lượng giáo dục mũi nhọn để phục vụ mục đích chính trị là một sự thiên lệch của hệ thống giáo dục Nhật Bản bởi nó không phải phục vụ cho lợi ích của số đông quần chúng. Hơn nữa, những người được đạo tạo để làm chính trị không phải xuất thân từ tầng lớp thường dân mà là từ tầng lớp trên của xã hội. Điều này cũng gây nên tâm lí bất mãn trong quần chúng nhân dân, khiến nhân dân giảm lòng tin vào lãnh đạo nhà nước. Đồng thời, nó cũng kìm hãm ý chí phấn đấu của người dân vì tâm lí không bao giờ họ có “chân” trong bộ máy nhà nước.
Những hạn chế của giáo dục Nhật Bản là do tư tưởng giai cấp, tư tưởng thứ bậc trong xã hội và do muốn đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa Nhật Bản chi phối. Những hạn chế này dần được khắc phục trong quá trình hiện đại hóa Nhật Bản. Tuy nhiên, ta cũng không thể phủ nhận những thành công mà hệ thống giáo dục Nhật Bản đã đạt được trong hơn bốn thập niên qua. Những thành công đó sẽ là bài học tham chiếu cho những quốc gia nào muốn sử dụng giáo dục làm nền tảng, làm tiền đề cho quá trình hiện đại hóa đất nước.