Sử dụng quan điểm và phương pháp giáo dục phương Tây trong dạy học

Một phần của tài liệu Giáo dục nhật bản thời minh trị 1868 1912 (Trang 46 - 78)

Chương 2: HỆ THỐNG GIÁO DỤC NHẬT BẢN DƯỚI THỜI MINH TRỊ (1868 - 1912)

2.3. Nội dung và phương pháp giáo dục

2.3.4. Sử dụng quan điểm và phương pháp giáo dục phương Tây trong dạy học

Quan điểm giáo dục được sử dụng trong giai đoạn này là “học đi đôi với hành, nền học thuật không tách rời với đời sống, học dựa trên tinh thần khoa học độc lập có phê phán” [56]. Quan điểm này được chính phủ Minh Trị tiếp thu dựa trên cơ sở học hỏi của các quốc gia Âu - Mĩ nhằm xây dựng một nền giáo dục gắn với thực tiễn đứng trên cơ sở khoa học chứ không phải là một nền giáo dục gắn với tư tưởng Khổng giáo như các giai đoạn trước. Quan điểm giáo dục mới này được xây dựng trên cơ sở xuất phát từ nhu cầu hiện đại hóa đất nước với nhu cầu cần có những con người có khả năng thực hành, không lúng túng trước các kiến thức khoa học mà họ được tiếp cận chứ không chỉ dừng lại ở lý thuyết trước đây. Quan điểm giáo dục mới đã định hướng cho phương pháp giáo dục vì vậy, phương pháp giáo dục cũng cần phải gắn với thực tiễn.

Phương giáo dục truyền thống của Nhật Bản trước đây chủ yếu là học theo lối

tầm chương trích cú” tức là giáo viên giảng, đọc từ sách giáo khoa học sinh nghe và ghi chép chứ không phát huy được tính tích cực của người học. Phương pháp học tập này không gây hứng thú cho người học vì thế hiệu quả trong giáo dục không cao.

Phương pháp giảng dạy trong giai đoạn đầu thời Minh Trị học tập theo phương pháp của Mĩ. Sau năm 1880, Giáo sư Hideo Takamine học từ Mĩ về đã giới thiệu các phương pháp mới trong các trường đại học Nhật Bản. Phương pháp giảng mới này dựa trên cơ sở quan sát trực tiếp, khuyến khích trao đổi thảo luận nhằm phát triển tư duy trẻ em. Phương pháp này được áp dụng trong vòng bảy năm ở Nhật Bản thay cho phương pháp giảng bài và đọc từ sách giáo khoa trước đó. Đến năm 1887, phương pháp giảng dạy kiểu Đức với việc giảng dạy năm bước được đưa ra giới thiệu ở Nhật.

Theo phương pháp này, giáo viên trước hết “phải chuẩn bị tài liệu và giới thiệu tài liệu cho học sinh, sau đó học sinh sắp xếp lại thông tin dưới hình thức tri thức có tổ

chức nhờ đó học sinh có thể đưa kiến thức thể hiện dưới dạng kỹ năng” [13, tr.46].

Phương pháp này được coi là định hướng trong trường tiểu học thời Minh Trị và đến nay vẫn tiếp tục được áp dụng trong các trường học của Nhật Bản bởi tính hiệu quả của nó. Ngoài ra, trong dạy học giáo dục Nhật Bản còn tiếp thu của phương Tây, đặc biệt là của Mĩ các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học: tranh ảnh, bảng biểu, bản đồ, đồ dùng thí nghiệm,… để học sinh dễ hình dung ra nội dung bài học và khắc sâu kiến thức.

Như vậy, chính phủ Minh Trị không dừng lại ở việc học tập phương Tây về mô hình, cách thức tổ chức, về các thành tựu khoa học kỹ thuật mà còn học hỏi cả quan điểm và phương pháp để xây dựng nên một nền giáo dục đồng bộ theo hướng “phương Tây hóa”. Có thể khẳng định rằng, các nhà giáo dục Nhật Bản “đã sáng suốt lựa chọn những gì mà họ coi là tiến bộ và phù hợp với hoàn cảnh Nhật Bản với sự đồng lòng của các nhà cầm quyền” [13, tr.47]. Không phải quốc gia nào cũng làm được điều này bởi cùng thời gian này, các quốc gia ở châu Á vẫn không nhận ra sự lạc hậu của dân tộc mình và luôn giữ khư khư nền giáo dục nền giáo dục truyền thống của dân tộc. Họ không nhận ra văn minh phương Tây là những thành tựu tiến bộ và cần phải tiếp thu, học hỏi để hiện đại hóa đất nước. Kể cả những người chịu ảnh hưởng của phương Tây cũng luôn mang trong mình tâm lý tự ti, mặc cảm về một nền quốc học của dân tộc mình nhưng không bao giờ coi đó là sự lựa chọn của mình.

Chương 3:

MỘT SỐ NHẬN XÉT, ÁN Á HỆ THỐNG GIÁO DỤC NHẬT BẢN DƯỚI THỜI MINH TRỊ (1868 - 1912)

3.1. ặc điểm của hệ thống giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị 3.1.1. Kết hợp giữa hệ thống giáo dục truyền thống và hiện đại

Giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị chú trọng việc tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây nhưng không đồng nghĩa với việc quên đi văn hóa cổ truyền của đất nước mà đã có sự kết hợp giữa giáo dục truyền thống của dân tộc với khoa học phương Tây hiện đại để tạo nên một nền giáo dục hài hòa, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Việc học tập khoa học kỹ thuật và văn minh phương Tây không những đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc quân sự ở châu Á mà còn trở thành quốc gia đi đầu trong lĩnh vực giáo dục. Nhưng người Nhật định hướng rõ là trong quá trình học tập nước ngoài không để phụ thuộc bởi vì nếu phụ thuộc sẽ làm mất dần tự chủ. Cho nên Nhật Bản học tập nhưng với “tinh thần Nhật Bản và khả năng phương Tây” tức là kiến thức dựa vào Âu - Mĩ nhưng vẫn duy trì các nét truyền thống của dân tộc Nhật Bản.

Việc kết hợp giữa giáo dục truyền thống và hiện đại được thể hiện ngay trong nội dung giảng dạy của nhà trường. Kiến thức mà học sinh được truyền đạt không đơn thuần là kiến thức về khoa học kỹ thuật hiện đại mà còn có cả kiến thức về truyền thống văn hóa Nhật Bản. Nếu như phương Tây, coi giáo dục như là một động lực thúc đẩy lợi ích cá nhân, mưu cầu cho việc sinh lợi và làm giàu cho cá nhân thì giáo dục Nho học truyền thống của Nhật Bản lại hướng việc học tập vào phục vụ các lợi ích xã hội, coi lợi ích của việc học tập mang tính cộng đồng. Với việc kết hợp giữa giáo dục truyền thống và hiện đại, Nhật Bản đã đào tạo ra những con người vừa biết phục vụ lợi ích cá nhân vừa phải có trách nhiệm với xã hội. Trong nền giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị, mọi người dân đều có cơ hội học tập, tìm kiếm việc làm để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của bản thân, nhưng bên cạnh đó họ cũng được giáo dục về đạo đức nghề nghiệp, về các tư tưởng “Trung quân ái quốc”, tôn trọng thứ bậc trong xã hội.

Nhật Bản đã kế thừa một đức tin từ thế giới quan Nho giáo nguyên thủy, khi người ta tin rằng con người có thể rèn luyện được, đặc biệt là thông qua giáo dục. Chính vì thế, vào năm 1890, Thiên hoàng ban bố chiếu chỉ về giáo dục với tư tưởng hạt nhân là

Trung quân ái quốc”. Bởi trong giai đoạn này, cùng với sự du nhập mạnh mẽ của văn minh phương Tây thì các giá trị văn hóa truyền thống của người dân Nhật Bản lại có nguy cơ xói mòn, lãng quên bởi sự tiến bộ vượt bậc của văn minh phương Tây. Trong khi đó, Nhật Bản đã chính thức mở cửa để tiếp thu khoa học kỹ thuật phương Tây, xây dựng đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa nhưng vẫn tồn tại ngôi vị Thiên hoàng và bộ phận phong kiến cũ vẫn nắm các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Vì vậy việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống của Nhật Bản nhằm nhắc nhở người dân phải luôn nghi nhớ và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, với Thiên hoàng để bảo vệ vững chắc ngôi vị Thiên hoàng trong lòng quần chúng nhân dân, đồng thời nó cũng nhấn mạnh sự khác biệt vị trí xã hội của người dân Nhật Bản.

Việc kết hợp giữa hệ thống giáo dục truyền thống và hiện đại trong nội dung giáo dục của Nhật Bản đã “trở thành một trong những động lực căn bản cho sự nghiệp công nghiệp hóa Nhật Bản, khởi đầu cho kỷ nguyên “sự thần kỳ của Nhật Bản” [20, tr.

86 - 87]. Sự thành công về sự kết hợp các nội dung trong giáo dục của Nhật Bản sẽ là bài học tham chiếu cho các quốc gia châu Á, bởi khoa học kỹ thuật phương Tây là những thành tựu văn minh tiến bộ của nhân loại còn những giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia là bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc quốc gia. Hai yếu tố này khi kết hợp với nhau sẽ tạo nên một nền giáo dục có nội dung mang dấu ấn riêng của mỗi quốc gia nhưng không hề bị lạc hậu và sẽ phù hợp với xu thế phát triển chung của nhân loại.

3.1.2. Tiếp thu mô hình giáo dục của nhiều nước phương Tây trên cơ sở thực tiễn của đất nước

Giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị học tập các thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây để xây dựng một nền giáo dục Tây học có thể khắc phục được những hạn chế của giáo dục Nho học trước đó nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, trong học tập phương Tây, Nhật Bản không phải tiếp thu và học tập một cách tràn lan mà có chọn lọc. Điều này đã được chứng minh trong việc kết hợp và sử dụng mô hình giáo dục của nhiều nước phương Tây.

Việc kết hợp và sử dụng mô hình giáo dục của nhiều nước phương Tây không phải có thể thực hiện được trong một sớm một chiều một cách tự phát, mà ngay khi lên nắm chính quyền, chính phủ Minh Trị đã tiến hành nghiên cứu để biết được mô hình

của nước nào phù hợp với Nhật Bản. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, hệ thống giáo dục của Nhật Bản thời Minh Trị mô phỏng theo hệ thống quản lý giáo dục của Pháp khi nghiên cứu các “trường chuyên môn” tiền thân của hệ thống đại học sau này.

Nhưng khi xét phần giáo dục tư thục thì có nhiều ý kiến cho rằng mô hình giáo dục của Nhật Bản chịu ảnh hưởng của Mĩ khi nhìn vào sự thành công rực rỡ của quá trình hình thành hệ thống trường tư thục qua mô hình Rangaku (Lan học) đầu tiên theo giáo dục phương Tây. Thực tế cho thấy, vào nửa sau thế kỷ XIX đã có nhiều đoàn chuyên gia cao cấp của Nhật lặn lội sang các nước phương Tây để tìm phương cách đổi mới qua việc học tập kinh nghiệm của Mĩ về Y khoa, luật, và kỹ thuật quân sự. Học tập của Anh về Công nghiệp và Giáo dục kỹ thuật, học tập của Hà Lan về Y tế,… Cho nên, việc kết luận rằng Nhật Bản kết hợp và sử dụng mô hình giáo dục của nhiều nước phương Tây để xây dựng cho mình một nền giáo dục hiện đại là có cơ sở.

Trong học tập mô hình giáo dục nước ngoài, mặc dù đã có chọn lọc kỹ lưỡng nhưng không có nghĩa là Nhật Bản học tập một cách rập khuôn theo mô hình ngoại nhập mà trên cơ sở mô hình các nước phương Tây đó người Nhật đã sáng tạo để cho phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của đất nước. Cụ thể là, khi tham khảo mô hình giáo dục của các nước phương Tây nhưng người Nhật lại đưa thêm khuynh hướng giáo dục riêng của nền giáo dục Nhật Bản đó là đào tạo có định hướng để phục vụ lợi ích quốc gia. Trường học là nơi không chỉ dạy học sinh về tri thức mà còn dạy về việc phải suy nghĩ cái gì, phải làm gì để góp phần xây dựng đất nước. Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt giữa mô hình giáo dục Nhật Bản với phương Tây nhằm đào tạo nên những công dân vừa có kiến thức khoa học phương Tây vừa có tinh thần trách nhiệm với đất nước.

Việc kết hợp sử dụng hình giáo dục của nhiều nước phương Tây chứng tỏ sự linh hoạt của Nhật Bản trong học tập phương Tây, học những cái phù hợp với đất nước mình, có sự điều chỉnh trong quá trình học tập để thích nghi với tình hình đất nước.

Chính vì thế, việc kết hợp và sử dụng mô hình của nhiều nước phương Tây là một phương tiện hữu hiệu để đưa giáo dục Nhật Bản sánh ngang với các nước Âu - Mĩ.

3.1.3. Giáo dục phục vụ mục đích chính trị

Giáo dục là một công cụ quan trọng đáng kể để xây dựng cơ cấu hạ tầng của nước Nhật mới thời Minh Trị, đặc biệt là sử dụng để hỗ trợ cho hàng loạt chính sách,

trong đó có phục vụ cho mục đích chính trị. Vì vậy, chính sách giáo dục là một minh họa cho chân lý truyền thống không chỉ đồng thời tồn tại mà còn có thể thường xuyên trở thành công cụ quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa.

Một trong những mục tiêu hàng đầu của chính quyền Minh Trị khi thực hiện duy tân đất nước đó là đưa nước Nhật trở thành một quốc gia phú quốc cường binh. Để thực hiện được mục tiêu đó thì giáo dục có nhiệm vụ đào tạo nhân tài phục vụ cho đất nước. Những môn học, ngành học, những chính sách đưa ra trong giáo dục thời kỳ này đều hướng tới mục tiêu phục vụ cho mục đích chính trị.

Để nâng cao nhận thức của những người lãnh đạo, chính phủ Minh Trị thường xuyên cử các sứ đoàn - là những nhân vật nắm các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước thời Minh Trị sang tham quam các nước Âu - Mĩ. Trong các chuyến tham quan này họ có cơ hội qua sát một cách tổng quan toàn bộ nền văn minh Âu - Mĩ, những thành quả to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp, những điều mới mẽ trong cơ cấu của chế độ tư bản chủ nghĩa. Thông qua chuyến đi này, họ có dịp so sánh với văn minh phương Đông để thấy được sự phát triển vượt bậc của văn minh phương Tây so với phương Đông. Những hiểu biết thu lượm được từ chuyến tham quan thực tế của các sứ đoàn được áp dụng có hiệu quả trong việc xây dựng một nước Nhật Bản hiện đại và văn minh. Đây là một phương pháp để nâng cao tầm hiểu biết cho đội ngũ lãnh đạo nhà nước thời Minh Trị thông qua việc tham quan, trải nghiệm thực tế

Các nhà lãnh đạo thời Minh Trị cho rằng, chỉ có hệ thống giáo dục và đào tạo chính quy mới được coi là lĩnh vực có khả năng cung cấp và đáp ứng các kỹ năng chuyên môn hóa cần thiết trong một xã hội hiện đại. Đồng thời, chỉ có hệ thống giáo dục mới đáp ứng yêu cầu tạo ra quan chức kiểu mới, các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và đội ngũ chuyên gia. Trong xã hội nghiêm ngặt như thời Minh Trị của Nhật Bản thì giáo dục chính là nơi liên kết mọi công dân thành một chỉnh thể, thành một xã hội công dân. Việc thành lập một hệ thống các trường “đại học vương triều” là một minh chứng điển hình cho đặc điểm giáo dục phục vụ mục đích chính trị. Bởi đây là nơi dành cho những người ưu tú học tập đê sau này họ sẽ nắm giữ những vị trí chủ chốt trong chính phủ. Thông qua những nội dung giáo dục này đã đào tạo nên những con người vừa có kiến thức khoa học kỹ thuật, vừa có lòng trung thành với đất nước, với Thiên hoàng để tham gia vào việc điều hành và quản lý đất nước. Các trường đại

học này được định hướng rõ ràng là giáo dục phải phục vụ cho các mục tiêu của nhà nước.

Nền giáo dục trong thời kỳ này chủ yếu tập trung đào tạo những người đóng vai trò nòng cốt trong việc xã hội hóa chính trị. Bởi vì, trong quan niệm của người Nhật thì họ cho rằng một hệ thống giáo dục cũng có thể trở thành công cụ có sức mạnh to lớn trong tiến trình thống nhất quốc gia. Trong giáo dục, Nhật Bản luôn quan tâm tới việc kết hợp các giá trị truyền thống với nhu cầu hiện đại hóa chủ trương xây dựng một nền giáo dục gắn với nhiệm vụ chính trị. Về phương diện này, nền giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị có thể xem như là một tấm gương tham chiếu cho các quốc gia muốn đạt được tốc độ cao trong việc phát triển chính trị bằng cách hiện đại hóa từ trên xuống.

3.1.4. Xã hội hóa và kết hợp nhiều nguồn lực trong giáo dục

Trong xã hội Nhật Bản thời Minh Trị, học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân trong nước không phân biệt giới tính hay lý lịch xã hội.

Để đảm bảo mọi người dân đều tham gia vào quá trình giáo dục nhà nước đã tiến hành thể chế hóa vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân và gia đình trong phối hợp với nhà nước thực hiện các mục tiêu giáo dục. Đối với bậc tiểu học, nhà nước quy định “không hạn là trai hay gái, tất phải cho chúng theo học tiểu học - học hết thảy, nếu không thế thì trách lỗi ở những kẽ phụ huynh” [38, tr.122]. Đối với những người nằm trong bộ máy nhà nước thì hằng năm cũng được cử ra nước ngoài tham quan để học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm để từ đó đưa ra những chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp với tình hình của Nhật Bản. Ví dụ: từ năm 1871 - 1873, Iwakura Tomoni đảm nhận chức đại sứ đặc mệnh toàn quyền đã đưa đoàn quan chức lãnh đạo nhà nước đi khảo sát tình hình ở các nước Âu - Mĩ,… Thành phần tham gia vào quá trình giáo dục là tất cả mọi người dân Nhật Bản với mục tiêu không có một người nào thất học. Quá trình giáo dục không chỉ diễn ra trong các trường học của nhà trường mà còn diễn ra ngay tại nơi làm việc của người lao động. Tức là khi kết thúc việc học tập trên ghế nhà trường và lao động tại các công ty, xí nghiệp thì tại nơi đây họ cũng tiếp tục được đào tạo theo cách riêng của các xí nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động. Như vậy, chính quyền Minh Trị đã rất quan tâm đến giáo dục, tạo điều kiện cho mọi người dân Nhật Bản có điều kiện tiếp thu các thành tựu văn

Một phần của tài liệu Giáo dục nhật bản thời minh trị 1868 1912 (Trang 46 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(78 trang)