Vai trò và ảnh hưởng của giáo dục đối với sự phát triển của Nhật Bản dưới thời

Một phần của tài liệu Giáo dục nhật bản thời minh trị 1868 1912 (Trang 53 - 61)

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG GIÁO DỤC NHẬT BẢN DƯỚI THỜI MINH TRỊ (1868 - 1912)

3.2. Vai trò và ảnh hưởng của giáo dục đối với sự phát triển của Nhật Bản dưới thời

3.2.1. ào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa

Để thực hiện mục tiêu “phú quốc cường binh” và “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây” thì giáo dục phải là lĩnh vực đi tiên phong và có nhiệm vụ quan trọng nhất. Nhiệm vụ của giáo dục lúc này là đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hoán đất nước. Bởi, Nhật Bản không thể tiến hành hiện đại hóa đất nước với số đông quần chúng mù chữ và không được trang bị về năng lao động kỹ thuật. Trước những nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản, giáo dục đã kịp thời chú trọng trang bị kiến thức cho người học về các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng.

Cùng với quá trình hiện đại hóa đất nước là quá trình chuyển đổi từ văn minh nông nghiệp sang minh công nghiệp. Trong thời kỳ văn minh nông nghiệp, lao động không qua đào tạo trong ngành giáo dục vẫn làm việc tốt nhưng đến thời kỳ công nghiệp hóa thì điều đó là không thể. Vì, lúc này không đơn thuần là lao động chân tay nữa mà người lao động phải lao động trong môi trường tập trung, có máy móc, có ứng dụng các thành tựu của văn minh phương Tây. Nếu chưa được đào tạo thì những điều này hoàn toàn mới lạ với người lao động và họ không thể phối hợp nhịp nhàng với máy móc và đảm bảo an toàn khi lao động. Mặt khác, khi được đào về chuyên môn thì người lao động sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm hơn, đồng thời năng suất lao động cũng từ đó mà tăng theo, giúp cho việc cải tổ nền kinh tế Nhật Bản được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Vai trò đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa đất nước được giao cho toàn ngành giáo dục nhưng trong đó giữ vai trò, vị trí chủ chốt vẫn là giáo dục bậc giáo dục từ trung học phổ thông trở lên. Bởi, giáo dục bậc tiểu học chỉ là giáo dục xóa mù chữ, cung cấp những kiến thức khoa học một cách khái lược cho người cho người học chứ chưa đi vào tìm hiểu chuyên sâu một môn học nào. Tuy nhiên, giáo dục tiểu học lại đóng vai trò là nền tảng cho các bậc học tiếp theo. Còn đối với giáo dục phổ thông, chuyên nghiệp và đại học thời kỳ này ngoài các kiến thức khoa học chung thì người học còn được đào tạo kiến thức chuyên ngành, đặc biệt càng học lên cao thì càng được đào tạo chuyên sâu, góp phần hình thành nên những kỹ sư, những chuyên gia lành nghề đáp ứng yêu cầu công việc. Không chỉ đào tạo về chuyên môn lao động mà giáo dục thời kỳ này còn đào tạo cả “đạo đức nghề nghiệp”, xây dựng đội

ngũ lao động gắn bó với công việc, có trách nhiệm với công ty và với chính phủ, đây chính là một bộ phận trong đạo đức truyền thống của Nhật Bản.

Nhờ có giáo dục mà Nhật Bản mới có thể phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Bởi giáo dục không chỉ đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật để làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp mà còn cung cấp cả đội ngũ kỹ sư, chuyên gia lành nghề làm cố vấn cho nền kinh tế Nhật Bản. Chính nhờ vai trò quan trọng của giáo dục thời Minh Trị “đã tạo nên bước ngoặt thần kỳ của Nhật bản thời cận đại: không bị xâm lược và phát triển theo con đường hiện đại hóa sớm và thành công nhất ở khu vức châu Á

[48, tr.55]. Bài học từ Nhật Bản sẽ cung cấp những kinh nghiệm quý giá cho quốc gia nào muốn xây dựng giáo dục để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, sử dụng giáo dục như một phương tiện để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước.

3.2.2. Nâng cao dân trí cho nhân dân

Một trong những vai trò quan trọng của giáo dục Nhật Bản thơi Minh Trị được đánh giá cao đó là việc nâng cao dân trí cho nhân dân. Khi Nhật Bản mở cửa để hội nhập với thế giới văn minh phương Tây cũng là lúc người Nhật bắt đầu tự cường bằng con đường tích cực. Để đáp ứng nhu cầu mới của đất nước, nền giáo dục Nhật Bản phải làm thay đổi nhận thức của người Nhật thông qua vai trò nâng cao dân trí cho nhân dân.

Chính sách duy tân của Nhật Bản không thể thành công nếu dân trí thấp kém, không hiểu được sự tiến bộ vượt bậc và sự cần thiết của việc tiếp thu các thành tựu tiến bộ của văn minh phương Tây. Khai phóng dân trí là tích cực khuếch trương mọi trình độ giáo dục cho người dân lĩnh hội. Vì vậy, giáo dục Nhật Bản trong giai đoạn Minh Trị phải thích ứng và phục vụ đắc lực cho công cuộc chuyển mình đáng kinh ngạc của Nhật Bản. Nó không chỉ góp phần làm cho nước Nhật thoát khỏi “đại nạn”, thoát khỏi sự chèn ép của các nước phương Tây mà còn đưa Nhật Bản tiến tới sánh ngang với các nước phương Tây và bỏ xa các nước châu Á.

Không phải hiển nhiên mà ta khẳng định rằng giáo dục thời Minh Trị có vai trò nâng cao dân trí cho nhân dân mà điều này đã được chứng minh qua kết quả mà giáo dục thời Minh Trị đã đạt được. Đầu thời Minh Trị, những thành tích mà giáo dục thời Tokugawa để lại vào năm 1868 là 45% nam và 10% nữ biết chữ. Đây không phải là một con số khiêm tốn đối với một xã hội phong kiến đang đứng trước thềm của cận đại

nhưng nó cũng chưa đủ để có thể đáp ứng yêu cầu của tình hình xã hội mới. Đến thời Minh Trị, dưới tác động của chính sách giáo dục cưỡng bức, những con số này tăng rõ nét qua từng năm. Nếu như năm 1873 mới chỉ có 28% dân số biết đọc biết viết thì năm 1882 tăng lên 50%, năm 1895 tăng lên 67%, đến năm 1904 là 98% [41, tr.181]. Chỉ trong khoảng thời gian gần 40 năm, giáo dục Nhật Bản đã phổ cập giáo dục cho gần như 100% dân số trong nước. Đây quả là một kết quả phi thường mà không phải bất kỳ quốc gia nào cũng đạt được. Trong lúc Việt Nam cho đến trước 1945 có đến hơn 90% dân số mù chữ thì Nhật Bản đã đi trước Việt Nam cả nữa thế kỷ trước đó rồi.

Điều này không chỉ chứng minh cho sự quan tâm của chính phủ Minh Trị trong giáo dục mà còn thấy được vai trò to lớn của giáo dục Minh Trị trong việc nâng cao dân trí cho nhân dân.

Nếu như trước thời Minh Trị tỷ lệ nam biết chữ cao hơn nữ thì đến giai đoạn này nhờ chính sách giáo dục cưỡng bức không tính đến lý lịch, giới tính nên tỷ lệ nam nữ biết chữ là tương đối ngang nhau: “Năm 1785, số nữ sinh tiểu học chiếm 18,6% nữ giới toàn quốc, nhưng đến năm 1900 đã lên tới 90%” [34, tr.35]. Việc gia tăng số lượng nữ sinh ở các trường tiểu học là thành công của việc xây dựng nền giáo dục mới. Đây là một điểm hết sức tiến bộ trong xã hội lúc bấy giờ, bởi nhờ nó mà có thể rút ngắn khoảng cách phân biệt giữa nam với nữ trong xã hội Nhật Bản, đồng thời địa vị của người phụ nữ cũng được coi trọng hơn. Không chỉ dừng lại ở cấp tiểu học mà giáo dục phụ nữ dưới thời Minh Trị còn phổ biến cả ở bậc học phổ thông và đại học.

Khi được trang bị những kiến thức mới, được đến trường như nam giới có nghĩa là phụ nữ dần tiến tới ngang hàng với nam giới chứ không có khoảng cách lớn như dưới thời Tokugawa. Đồng thời, cùng với những tri thức khoa học mới thì vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội cũng được nâng cao hơn.

Vai trò của giáo dục trong việc nâng cao dân trí không chỉ dừng lại ở việc xóa mù chữ, giúp cho người dân biết đọc biết viết mà giáo dục giai đoạn này còn trang bị kiến thức chuyên nghiệp, chuyên sâu để giúp cho người học có thể nắm bắt các thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây một cách có hệ thống nhằm phục vụ cho quá trình hiện đại hóa Nhật Bản. Nếu chỉ dừng lại ở mức xóa mù chữ thì giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị vẫn chưa phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng Nhật Bản thành một quốc gia “phú quốc cường binh”. Chỉ khi đào tạo ra đội ngũ công nhân kỹ thuật, các

kỹ sư lành nghề thì ngành giáo dục mới phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ của mình.

Chính giáo dục trong giai đoạn này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đó. Chỉ có một bộ phận nhỏ kỹ sư của Nhật Bản trong giai đoạn đầu được đào tạo ở các nước tiên tiến phương Tây còn lại phần lớn các kỹ sư, công nhân lành nghề phục vụ cho quá trình hiện đại hóa Nhật Bản đều do hệ thống giáo dục của Nhật Bản cung cấp. Điều đáng chú ý là trình độ hiểu biết và thực hành về khoa học kỹ thuật của người dân Nhật Bản khi được đào tạo không thua gì tay nghề của các công nhân phương Tây. Điều này cho thấy tính hiệu quả của giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị không thua gì nền giáo dục của các nước tiên tiến lúc bấy giờ. Là một “học trò nhỏ” của phương Tây nhưng Nhật Bản đã học tập và đuổi kịp các nước phương Tây trong lĩnh vực giáo dục để đứng ngang hàng với các nước phương Tây.

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống giáo dục từ thấp đến cao là nhiệm vụ nâng cao dân trí cho quần chúng nhân dân. Trải qua một chặng đường không quá ngắn nhưng cũng không phải là dài với hơn 40 năm mà có thể xóa bỏ mù chữ, trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật cho nhân dân trong để có thể tiến hành hiện đại hóa đất nước là một điều quá phi thường mà giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị đã đạt được.

3.2.3. Chuyển đổi giáo dục Nhật Bản từ giáo dục Nho học sang Tây học

Trong thời kỳ Tokugawa, các yếu tố của văn minh phương Tây đã lan truyền rộng rãi trong xã hội Nhật Bản, đặc biệt là các bộ phận võ sĩ có tư tưởng tiến bộ. Bỏ qua sự cấm vận của chính quyền Tokugawa, nó vẫn phát triển và được quần chúng nhân dân tiếp nhận thông qua các phong trào như Lan học, Dương học, Khai quốc học,… Tuy nhiên, các thành tựu của văn minh phương Tây vẫn chưa được chính quyền Tokugawa tiếp nhận và đưa vào làm nội dung giảng dạy trong các trường học.

Mãi đến thời Minh Trị nó mới được tiếp nhận và đưa trở thành một nội dung quan trọng để giảng dạy trong nhà trường, góp phần chuyển đổi giáo dục Nhật Bản từ giáo dục Nho học sang giáo dục Tây học.

Trước thời kỳ Minh Trị, nền giáo dục ở Nhật Bản mang nặng các yếu tố truyền thống của Nho học, nhưng đến thời kì này, nền giáo dục truyền thống đã dần được chuyển đổi sang giáo dực kiểu mới: giáo dục Tây học. Bắt đầu từ năm 1868, việc nghiên cứu giáo dục phương Tây đã được tiến hành, đến năm 1870, các trường học bắt đầu được tổ chức theo ba cấp: tiểu học, trung học và đại học như ở phương Tây. Trật

tự giáo dục (Gakusei) được ban hành năm 1872 và xác định các chi tiết cho hệ thống giáo dục Nhật Bản. Luật năm 1872 được ban hành dựa vào hệ thống của phương Tây mà cụ thể ở đây dựa vào hệ thống giáo dục ba cấp của Pháp, trong quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vấn đề. Việc ban hành luật giáo dục được xem là một quá trình thử sai để tìm kiếm cái phù hợp với thực tiễn Nhật Bản lúc bấy giờ. Do quá trình đấu tranh giữa các trường phái Nho học, Quốc học và Âu học vẫn tiếp tục tồn tại. Chính vì lý do đó mà luật giáo dục thường xuyên thay đổi. Đến năm 1879, luật giáo dục (Kyoiku Rey) được ban hành và luật trước đó bị hủy. Luật giáo dục mới trao quyền quản lý cho các địa phương nhưng kết quả không mấy khả quan: số học sinh tới trường tiểu học ở nhiều địa phương giảm đáng kể. Ngay trong năm sau (1880), chính phủ mới đã thay đổi Luật giáo dục nhằm tạo ra sự thống nhất về các thành tố của hệ thống giáo dục như: chương trình, sách giáo khoa, tổ chức trường lớp trên cả nước. Đặc biệt, Arinari Mori - Bộ trưởng bộ Giáo dục đầu tiên của Nhật Bản là người đã thông qua về luật giáo dục tiểu học: “Bộ luật này coi giáo dục tiểu học là nền tảng của toàn bộ hệ thống giáo dục, 3 hoặc 4 năm tiểu học là giáo dục bắt buộc. Ngoài các trường tiểu học còn có trường cơ sở (trung học), trường đại học trực thuộc nhà vua và trường đào tạo giáo viên” [13, tr.43].

Việc chuyển đổi từ giáo dục Nho học sang Tây học là hệ quả tất yếu của việc tiếp thu các thành tựu văn minh phương Tây, đưa khoa học kỹ thuật vào nội dung giảng dạy trong các trường học của Nhật Bản. Văn minh phương Tây tiến bộ, hợp với xu thế phát triển của thời đại nên nó dần lấn át các tư tưởng lỗi thời của giáo dục Nho học. Dần dần, giáo dục Nho học mất dần vị thế độc tôn trước đó của mình. Sở dĩ hệ thống giáo dục Nho học truyền thống của Nhật Bản có sự chuyển biến mau lẹ sang giáo dục Tây học như vậy là nhờ các chính sách khuyến khích và tiếp thu giáo dục phương Tây trong xây dựng và phát triển giáo dục cùng với chính sách sử dụng chuyên gia nước ngoài và trí thức Tây học trong xây dựng và phát triển giáo dục đã tạo điều kiện cho nền giáo dục Tây học được nhanh chóng hoàn thiện.

Bên cạnh việc thiết kế trường học, chính sách quốc gia về củng cố và làm giàu cho đất nước cũng đề ra hướng tới mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành quốc gia hàng đầu thế giới. Với những chính sách này người Nhật hy vọng sẽ thúc đẩy hệ thống trường

học mới được hình thành. Hệ thống này dần được hoàn thiện với sự góp mặt của trường dạy nghề và trường đại học.

Với việc hình thành nền giáo dục Tây học, Nhật Bản trở thành quốc gia đầu tiến ở châu Á có nền giáo dục hiện đại sánh ngang với nền giáo dục của các quốc gia Âu - Mĩ. Đồng thời, nó cũng chứng tỏ sự nhạy bén của Nhật Bản trước những xu thế của thời đại. Chính nhờ sự nhạy bén này cộng thêm sự quyết tâm đồng lòng của cả dân tộc mà Nhật Bản đã thoát Á nhập Âu, bỏ xa các nước châu Á vê trình độ phát triển để gia nhập hàng ngũ với các nước châu Âu, Nhật trở thành tấm gương sáng của các quốc gia châu Á lúc bấy giờ.

3.2.4. Ảnh hưởng của giáo dục Minh Trị đối với giáo dục của các nước ông Á thời cận đại

Từ một nước phong kiến lạc hậu, đứng trước nguy cơ bị thuộc địa hóa vậy mà chỉ trong vòng hơn 40 năm Nhật Bản đã tự cường vươn lên sánh ngang với các nước phương Tây và trở thành một cường quốc ở châu Á nhờ chính sách canh tân đất nước do vua Minh Trị đứng đầu. Nhật Bản trở thành người anh cả của châu Á trong công cuộc canh tân đất nước, là một tấm gương sáng cho các nước châu Á đang đứng trước sự lựa chọn con đường đi cho dân tộc để thoát khỏi nguy cơ phụ thuộc và thuộc địa của thực dân phương Tây noi theo. Đặc biệt, nền giáo dục Nhật Bản đã được tiếng vang lớn đối với các nước Đông Á bởi vai trò to lớn của giáo dục Nhật Bản đem lại trong công cuộc hiện đại hóa đất nước.

Ở Trung Quốc, đứng trước sự xâm nhập của các nước đế quốc phương Tây và sự lạc hậu của chế độ phong kiến, đồng thời chứng kiến sự lớn mạnh của Nhật, đặc biệt là Nhật Bản đã đánh bại quân Thanh trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ (1894 - 1895), nhiều trí thức tức thời Trung Quốc muốn phỏng theo đường lối giáo dục của Nhật Bản để cải cách giáo dục nước nhà. Trung Quốc thời kì này nổi lên nhiều nhân vật có tư tưởng canh tân, tiêu biểu là Khanh Hữu Vi, Lương Khải Siêu,… với phong trào duy tân diễn ra rầm rộ trong một trăm ngày. Phong trào duy tân ở Trung Quốc chỉ hoạt động trong các tầng lớp quan lại, sĩ phu có ý thức tiếp thu tư tưởng phương Tây, tầng lớp địa chủ tiến bộ, phú thương và tư sản dân tộc mới lên. Trong cương lĩnh hoạt động của phong trào duy tân có đề cập đến vấn đề cải cách trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự… Đặc biệt là trong giáo dục, cương lĩnh xác định rõ: lập

Một phần của tài liệu Giáo dục nhật bản thời minh trị 1868 1912 (Trang 53 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(78 trang)