“Thật đáng buôn khí tiên sinh (An Chỉ - AC) nặng lời với đại thi hào Nguyễn Du một cách khiếm nhã (...) Lôi ngựa ký - thiên lý mã - ngựa kỳ - tên ngựa - ra để châm biếm cá nhân một thiên tài đã khuất (...) thì thật thất kính dối với tiên nhân, coi thường độc giả: Ông bà sai, con cháu đem súc vat ra vi von bóng gió!”.
Ong Ngu Minh nói như thế chứ An Chi chi noi gương người xưa mà thôi, bát đấu là Đức Thánh Khổng. Trong Luận ngữ, thiên “Hiến vấn” nói về năng lực và đạo đức của
325
326 ANCHI
người hiển tài, Ngài đã dạy: “Ký bất xưng kỳ lực, xưng kỳ đức đã” nghĩa là “Khen ngựa ký (người ta) không khen cái sức của nó, mà khen cái đức của nó vay”.
Dẫn lời của Đức Thánh Khổng là có ý dựa đấm chứ chỉ cần mở từ điển ra thì đã có thể thấy rằng ký là tên của giống ngựa hay, ngựa giỏi, dùng để ví với nhân tài kiệt xuất. Vậy dùng tên của giống ngựa này để chỉ Nguyễn Du là để cao nhà thơ này một cách nghiêm túc chứ phải đâu là thất kính
như ông Ngu Minh đã xuyên tạc.
Nhưng dù có là ngựa ký, ngựa kỳ thì, như đã nói trên đường thiên lý, e cũng có lúc “vó câu khấp khénh, bánh xe gập ghểnh: Sau đây là một dẫn chứng mà thực ra nhiều người cũng đã thấy. Đó là hai chữ vw quy trong câu 2843 (Tuy rằng vui chữ vụ quy). Câu này nằm trong đoạn thơ nói lên lòng nhớ nhung của Kim Trọng đối với Kiểu sau khi sánh duyên cùng Thuý Vân. Hai chữ vu quy chỉ dùng để nói về việc người con gái về nhà chồng. Ta chẳng thấy trong các đám cưới, nhà gái đều kết hoa hay treo bảng hai chữ “Vu Quy” đó sao? Đàng trai mà trưng hai chữ đó lên
trước cổng nhà thì có mà làm trò cười cho thiên hạ. Thế
nhưng thi hào Nguyễn Du lại “tương” hai cái chữ ấy vào cuối câu 2843 để nói về Kim Trọng day. Chang khấp khénh u? Chẳng gap ghénh a?
Vậy, thưa ông Ngu Minh, ta không được phép bất kính với tiền nhân nhưng ta cũng chẳng bao giờ nên... #đụu kắnh với Kiểu giáo chủ,
CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY
2. Phân tích dông dài về câu 942, ông Ngu Minh cốt chứng minh rằng An Chỉ không đủ khả năng để hiểu vai ở đây chỉ là “một vai” chứ không phải “đôi vai” Nhưng cách diễn đạt của ông lại đẩy ông vào tình thế “gậy ông đập lưng
ông" Ông Ngu Minh đã viết: “Vai ở đây chỉ là biến thể của
đôi vai trong ngôn ngữ hàng ngày khi không cần xác định cụ thể (...) vai thay thế cho đôi vai (...) vai năm tấc rộng có nghĩa đôi vai rộng mười tac”. Vì mãi lo hùng biện nên ông không hề hay biết rằng mình đã diễn đạt ngược hẳn với ý mình muốn nói, nên hoàn toàn trùng với ý của... An Chí. Để để thấy vấn để, xin trình bày lời khẳng định của ông bảng đẳng thức (trong đó dấu “bằng” (=) thay thế cho những từ “tà biến thể” hoặc “thay thể” mả ông đã dùng):
Vai = Déi vai.
Vay Vai năm tấc rộng = Đôi vai năm tắc rộng.
Quanh đi quần lại thì cũng chỉ có “năm tấc” mà thôi
chứ với cái đẳng thức đã nêu, làm sao ông Ngu Minh có thể hoá phép cho vai năm tấc rộng có thể trở thành “đôi vai rộng mười tấc”? Thực ra, cái đẳng thức mà ông Ngu Minh
chủ trương thì lại la: Vai = Mét vai.
Có thế thì “đôi vai” mới “rộng mười tấc” được chứ.
Nhưng Nguyễn Du có dốt tiếng Việt đâu mà xài vai ở đây
với nghĩa “một vai”? Trừ những trường hợp được xác định cụ thể về số lượng (một hoặc hai/đôi) hoặc vị trí (trái hoặc phải), danh từ vai dùng để miêu tả vóc đáng hoặc sức lực
của con người bao giờ cũng có nghĩa là “đôi vai”: sức đài
327
328 AN CHI
vai rộng, vai u thịt bắp, vai ngang, vai xệ, v.v... Vai năm tdc rộng cũng không thể nằm ngoài cái lệ này. Đây là một qui tắc bất di bất dịch về mắt ngữ dụng của từ vai. Cái lý thuyết
“một vai” của ông không thể đứng vững được vì trong ngữ học truyền kỳ thì chẳng có thứ “vô chiêu” nào thắng được
“hữu chiêu” cả, thưa ông.
3. Nghĩ rằng chúng tôi không đủ khả năng để hiểu câu 2168, ông Ngu Minh đã phải phân tích đông dài rồi gút lại như sau:
“Tú bà mà khẩn như... bà tt: triéu triêu Hàn thực, dạ
đạ Nguyên tiêu! Câu này chỉ dành cho những người giàu sang phú quí, mong muốn ngày đêm đều là lễ hội. Tú bà hành nghề trong thanh lâu, sống ngược thiên hạ: lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm. Cuộc sống thường là: Đêm đêm an sáng, ngày ngày ăn đêm. Mong muốn ngày đêm đều là lễ hội thì phải khấn: Đêm đêm Hàn thực, ngày ngày Nguyên tiêu”.
Ông Ngu Minh không ngờ rằng trong đoạn tiểu kết ngắn
ngủi này mình lại phạm đến hai điều mâu thuẫn.
Một là ở trên, ông nói rằng những người giàu sang phú quí mong muốn ngày đêm đều là lễ hội chứ Tú bà thì không (vì mụ ta lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm). Nhưng ở lễ hội (thì phải khấn: Đêm đêm Hàn thực, ngày ngày Nguyên tiêu)” Thế thì Tú bà cũng y chang như những người giàu sang phú quí kia chứ khác nhau ở chỗ nào?
CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY
Hai là ông nói rằng Tú bà lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm. Bất cứ ai biết tiếng Việt cũng hiểu “lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm” là ban đêm thì hoạt động còn ban ngày thì... nghỉ và ngủ. Nhưng đã nghỉ và ngủ vào ban ngày thì còn khấn “ngày ngày Nguyên tiêu” làm gì? Ngày ngày Nguyên tiêu thì bọn ăn chơi kéo đến ran ran; con nghỉ, ngủ cái gì? Thế thì Tú bà “sống ngược thiên hạ” ở chỗ nào? 1
Ong Ngu Minh không hề hay biết rằng mình chỉ thốt ra những điều vô nghĩa. Lập luận của ông ở điểm 3 hoàn toàn không có giá trị.
4. Ông Ngu Minh đã tung hoả mù chung quanh hai tiếng ước lệ để chê chúng tôi dốt. Chuyện thực ra không có gỡ mà phải làm cho ẩm ù. Ước lệ là một khỏi niệm mà học sinh chương trình Việt văn trung học đã được học qua.