Ông Nguyễn Hà Viên khẳng định rằng hai câu đang

Một phần của tài liệu Chuyện đông chuyện tây (Tập 7): Phần 2 (Trang 147 - 212)

xét không phải là một đôi câu đối vì cái lý do sau đây, mà ông đã chủ quan xem như hoàn toàn chắc chắn:

“Câu đối tôn tại một cách độc lập, tức là một tác phẩm hoàn chỉnh, chứ không phải là một bộ phận của một tác

phẩm khác, do đó hai vẽ đối nhau trích từ những bài thơ, bài phú, bài văn tế, v.v... không thể gọi là một câu đối được”.

Ông đã nhầm, và nhầm to. Chính cái điều ông phủ nhận

lại là một kiểu đối mà người Trung Hoa gọi là tập cú đối.

Trung Quốc thật dụng đối liên đại toàn do Lương Thạch,

Lương Đống biên soạn? có dành một mục từ trang 114

đến trang 116 để bàn về đập cứ đối và dành cả một phần từ

1... Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1998.

361

362 AN CHI

trang 501 đến trang 510 để giới thiệu 172 đôi câu đối theo kiểu tập cứ qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Người ta có thể “tập” thơ văn ở hai nguồn khác nhau của cùng một tác giả hoặc thơ văn của hai tác giả khác nhau để làm thành câu đối theo kiểu này. Sau đây là một số thí dụ lấy từ đó ra (xin miễn dịch nghĩa):

- Thái cúc đông ly hạ

Chúng tang trường giang biên.

(Đảo Uyên Minh)

- Tang trúc thuỳ dư ấm.

(Đào Uyên Minh)

Sơn thuỷ hàm thanh huy.

(Tạ Linh Vận)

- Sơn quang dao tích tuyết Phàm ảnh quải thanh xuyên.

(Lý Bạch) - Sơn tuỳ bình da khoát.

(Ly Bach) Nguyệt dũng đại giang lúu.

(Đỗ Phủ)

- Mai hoa han đãi tuyết Qué diép van lưu hương,

(Thém Thuyén Kỳ)

CHUYỆN ĐỒNG - CHUYEN TAY

Vấn để rõ ràng là như thế. Nhưng với hai câu đối đang xét, ông Nguyễn Hà Viên còn nêu một lý do nữa để bài bác:

“Ở đây, Phạm Quỳnh chỉ làm công việc trích dẫn, chứ không hể có ý định “ghép thành” câu đối, vì với trình độ

kiến thức của Phạm Quỳnh, ông thừa biết rằng những câu

trích ở những bài văn trong đó có áp dụng phép đối thì không thể gọi là câu đối được”.

Ông Nguyễn Hà Viên đã suy bụng ta ra bụng người chăng chứ có lẽ nào Phạm Quỳnh lại không biết rằng tập cú đối chẳng những là một việc làm hoàn toàn được phép

mà còn là một thao tác đậm chất nghệ thuật nữa. Nhưng

ông cũng chưa dừng ở đây mà còn viết tiếp:

“Vả lại, hai câu ấy xuất hiện trong văn cảnh bài viết của

Phạm Quỳnh cũng không phải là hai câu hoàn chỉnh theo phép đối, chứ đừng nói là một câu đối hoàn chỉnh; đó chỉ là hai bộ phận của hai câu sóng đôi mà phần đầu mỗi câu là nhóm từ “một người thời” được lặp lại để nhấn mạnh

chứ không đối nhau:

Một người thời: Chén tân khổ nhấp ngon mùi chính khí, Một người thời: Ngọn quang mình hun mắt tấm trung can"

Ông Nguyễn Hà Viên muốn giải quyết vấn để cho “cùng kỳ lý” nhưng cái lý của ông cũng không vững. “Một người thời” ở đây cũng có giá trị như những câu tường thuật

hoặc câu bình luận trong khi giới thiệu về câu đối mà thôi.

Trong cả quyển Câu đối Việt Nam của Phong Châu, có phải

363

364 ANCHE

lúc nào hai câu đối trong cùng một cặp cũng đi liền nhau, cũng đứng khít bên nhau đâu. Còn có lời kể, lời bình nữa chứ. Hồi đầu thập kỷ 1990, viết thơ cho một người bạn ở Hà Nội để kể chuyện Sài Gòn, chúng tôi có lược thuật về hoạt động kinh tế của một nhân vật, rồi viết:

Thanh Huong thơm nghẹt mỗi,

nghẹt mũi, nghẹt tiên con tốt đỏ.

Rồi lại lược thuật về một nhân vật khác mà viết tiếp:

Anh Đào ngọt ê răng; ê răng, ê của đứa dân Ẳen.

Người bạn của chúng tôi cũng chẳng vì những lời lược thuật kia mà không nhận ra rằng hai câu trên đây làm thành

một cặp đối.

Huống chị, cái ý thức của Phạm Quỳnh về câu đối đâu

chỉ hạn định ở hai câu đang xét, mà còn bộc lộ qua việc

đưa ra hai câu khác ở ngay sau đó đúng 5 dòng, mà Phạm

gọi là “có câu thơ”:

Khẳng khái cẩn vương dị.

Thung dụng tựu nghĩa nan.

Nếu ta cứ câu nệ theo họ Phạm mà nói rằng đó là “thơ”

chứ không phải “câu đối” thì đĩ nhiên là... sẽ hết chuyện.

3. Ông Nguyễn Hà Viên còn đòi hỏi chúng tôi phải “nói đến tác giả gốc của bài văn tể” và dạy chúng tôi:

“Khi giảng bài thơ Kính gỗi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu, thấy giáo tất phải nói cho học sinh biết những câu “Dấu lia

CHUYEN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY

ngé ý, còn vương tơ lòng” và “Mai sau dù có bao giờ” đã được nhà thơ trích từ đoạn nào trong Truyện Kiểu của Nguyễn

Du thì học sinh mới cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của

từng câu thơ, chứ không thể xem đó là thơ của Tố Hữu mà bỏ qua xuất xứ và tác giả gốc của những câu thơ trên!”

Nhưng về tác giả gốc của bài văn tế là Đặng Đức Siêu thì người hỏi là ông Trương Hữu Trác biết rồi còn về phương pháp giảng văn mà ông Nguyễn Hà Viên đã dạy thì đó lại không phải là việc chúng tôi cần làm. Việc chúng tôi cần làm trong trường hợp này chỉ là trả lời cho ông Trương Hữu Trác biết rằng hai vế:

Chén tân khổ nhấp ngon mùi chính khí Ngọn quang mình hun mát tấm trung can.

mà ông Trương đã thấy trong bài văn tế của Đặng Đức Siêu đo ai ghép lại mà làm thành một đôi câu đối. Và chúng tôi

da dé dat trong việc dùng từ mà trả lời rằng “đôi câu đối này nằm trong một đoạn văn (...) của Phạm Quỳnh” Thế

là đủ. Cũng y như khi trả lời câu hỏi “Jean Paul Sartre sinh năm 1905 hay 1915” trên một kỳ Chuyện Đông chuyện Tây, chúng tôi chỉ cần khẳng định “1905” là đủ chứ cần gì phải nói về thân thế và sự nghiệp của Sartre! Việc có diễn giảng thêm hay không còn tuỳ thuộc vào từng trường hợp, vào trọng tâm của câu hỏi, v.v... Và nếu có thể gọi đó là “diễn giảng” thì chúng tôi cũng từng “diễn giảng” nhiều lần tại Chuyện Đông chuyện Tây chứ đâu có phải là không. Nhưng ở trường hợp này thì hoàn toàn không cần thiết.

365

366 ANCHI

4. Cuối cùng, ông Nguyễn Hà Viên đã lợi dụng ngôn từ của chúng tôi (“bị ám ảnh nặng nể; “nghe khó lọt lỗ tai”) để đặt thành vấn để “dân chủ” và “bình đẳng? là những điểu kiện mà chính chúng tôi chủ trương là cần phải có trong học thuật. Nhưng cái mà ông Nguyễn Hà Viên không hài lòng ở đây lại chỉ là chuyện ngôn từ và thái độ chứ nào phải

là sự cấm đoán hay sự áp đặt mà ông phải viện đến chuyện

dân chủ và bình đẳng.

Tóm lại, bài của ông Nguyễn Hà Viên mới đọc thì nghe ra dịu dàng, êm tai nhưng suy nghĩ kỹ thì An Chỉ lại thấy rùng mình vì đó là một sự quy kết “chết người” (tiếu trung hữu đao) chứ chẳng hiển lành gì đâu!

Cuối tháng 9-2007 3> 1241. Kiến thức ngày nay, số 621

Hỏi: Xin hỏi ông về việc đếm vẫn trong một số bài thơ.

Trong Kiến thức ngày nay, số 610, ông có để cập đến việc dém van trong một bài thở:

- Trong 4 câu thơ lục bát của Xuân Diệu:

Tôi cầm mùi dạ lan hương

Trong tay đi đến người thương cách trùng

Dạ lan thơm nức lạ làng

Tưởng như đi mãi không củng mùi hương.

CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆNTÂY | 367

Chỉ có 2 vần tưởng và ung (trang 45): vẫn ương ứng với 2 chữ hưởng và thương, vẫn ung ứng với 3 chữ trùng, làng

và cùng, :

- Trong 4 câu Đường luật thì có 3 vần chứ không phải 1 van:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi Dục ẩm tỳ bà mã thượng thói Tuy ngoa sa trường quân mạc tiếu Cổ lai chính chiến kỷ nhân hổi.

{Vương Hàn, Lương Châu từ)

3 vần ở đây là bôi, thôi và hồi chứ không phải là 1 vần ôi. Sở đĩ như vậy là vì ở đây dùng phép hoán dụ (trang 45).

Vay xin ông cho biết: Lúc nào thì ta đếm vấn của một bài thơ theo kiểu như ta đã đếm vẩn trong 4 câu thơ lục bát ở trên và lúc nào thì ta dùng phép hoán dụ.

Nhân đây cũng xin hỏi thêm: Một bài thơ thất ngôn bát cú có mấy vần?

Vĩ dụ bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá đá chen hoa Lom khom dưới núi tiểu vài chú

Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

368 | ANCHI

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta.

Bài thơ này có Ì vẫn aloa hay có 5 vấn: tà, hoa, nhà, gia, ta?

Nếu bài thơ này có 5 vẫn thì xin hỏi thêm:

Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của bà huyện Thanh Quan:

Tao hoa gây chỉ cuộc hí trường Tới nay thấm thoát mấy tỉnh sương Lối xưa xe ngựa hồn thư thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch đương Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước còn cau mặt với tang (hương Nghìn thu gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn (rưởng.

Bài thơ này có mấy vần?

Trả lời: Thắc mắc của ông xuất phát từ sự hiểu lầm cách diễn đạt của chúng tôi trong bài “Trả lời ông Ngu Minh”

trên Kiến thúc ngày nay, số 610, trang 36 - 39 và 45. Chữ vấn mà chúng tôi nói đến trong bài thơ tình bốn câu của Xuân Diệu (Tôi cẩm mùi dạ lan hương...) và chữ vấn mà chúng tôi nói đến trong bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn không mang cùng một nghĩa. Trong trường hợp đầu, chit van mang cai nghĩa thông thường, cũng là cái nghĩa

CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY

mà hai ông Ngô Quốc Quýnh và Ngu Minh đã hiểu. Day là cái nghĩa mà Tử điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (ấn bản năm 2003) giảng như sau tại nghĩa 2 của từ vấn:

“Hiện tượng lặp lại vần hoặc có vần nghe giống nhau giữa những âm tiết có vị trí nhất định trong câu (thường

là câu thơ), được tạo ra để làm cho lời thơ có nhịp điệu và

tăng sức gợi cảm”.

Nghĩa 2 này thực chất chỉ là sự ứng đụng của nghĩa 1 vào việc làm thơ mà nghĩa 1 thì đã được quyển từ điển đó giảng như sau:

“Bộ phận chủ yếu của âm tiết trong tiếng Việt, là âm

tiết trừ đi thanh điệu và phụ âm đầu (nếu có). “4, “bạn”,

“lân, “tắn” có cùng một vẫn “an”.

Còn trong trường hợp sau thì chữ ẩn mang cái nghĩa mà hai ông Ngô Quốc Quýnh và Ngu Minh không nghĩ đến. Đó là cái nghĩa tu tử (không ghi trong từ điển) mà chúng tôi đã nêu tại trang 45 của Kiến thức ngày nay, số 610:

“Chữ hoặc tiếng cùng vần với chữ hoặc tiếng khác trong những câu thơ có liên quan”

Xin tạm gọi đây là nghĩa 3.

Vậy nếu xét theo nghĩa 2 (là ứng dụng từ nghĩa L) thì bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn chỉ có một vần là ôi

mà thôi (với ba chữ bái, thôi, hồi). Còn nếu xét theo nghĩa

3, thì nó có ba vần là: bôi, thôi, hồi. Cái nghĩa 3.này cũng

369

370 AN CHI

đã được Nguyễn Đình Chiểu ứng dụng trong truyện Luc Vân Tiên:

Tay tiên vội tả tám câu năm vẫn.

(Có dị bản chép: Xuống tay liên tả (....)).

Tám câu năm vần ở đây là thơ thất ngôn bát cú đấy, chẳng hạn với bài “Qua đèo Ngang” thì đó là năm vần: “tà, hoa, nhà, gia, t2”; còn với bài “Thăng Long thành hoài cổ” thì đó là năm vần “trường, sương, dương, thương, trường”. Trong

Truyện Lục Vân Tiên (Nxb. Đại học và Trung học chuyên

nghiệp, Hà Nội, 1975), Nguyễn Thạch Giang cũng đã giải thích rõ tám câu năm vấn là “bài thơ theo luật Đường bảy chữ tám câu (thất ngôn bát cú) gieo vần ở cuối câu 1 va các câu chẵn: 2, 4, 6 và 8 (tr. 244, chú thích 220). Dĩ nhiên đây là xét theo nghĩa 3, chứ với nghĩa 2 thì, nói chung, bất cứ bài thất ngôn bát cú Đường luật nào cũng chỉ có một vần mà thôi.

3> 1242. Kiến thức ngày nay, số 621

Hỏi: Người ta vẫn gọi thứ máu từ mũi chảy va la “mau cam”. Nhưng tôi thấy nó vẫn đỏ như máu ở răng, È nướu chảy ra chứ đâu có trâu cam. Vậy tại sao lại gọi như thế?

Trả lời: Cam ở đây khác với cam trong danh ngữ chất

độc màu da cam. Nó không chỉ màu mà lại chỉ một chứng bệnh và là một yếu tố Hán Việt mà chữ Hán là z‡. Tại mục

cam #3, Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “một

CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY

thứ bệnh về huyết, như nha-cam” Hán - Việt tân từ điển của

Nguyễn Quốc Hùng giảng là “một thứ bệnh về máu huyết và tiêu hoá của trẻ con” Hán - Việt tử điển của Thiểu Chửu giảng chỉ tiết hơn một chút: “Bệnh cam, một thứ bệnh về máu rãi (sic). Như vi mau trang kém mà tì rắn lại, gọi là ti cam; tré con an bay sinh bénh gay com gọi là cam tích;

chân răng thối nát gọi là cam răng hay cam tấu mã”. Mấy chục năm về trước, nhà thuốc Đại Quang ở đường Tổng đốc Phương, Chợ Lớn (nay là đường Châu Văn Liêm), có sản xuất một thứ thuốc bột chuyên trị bệnh cam tích của

trẻ con, gọi là Cam tích tán. Cam trong máu cam chính là chữ cam này.

Trong Etudes sur la phonétique historique de la langue

annamite (BEFEO, Tome XII, N°l, 1912), Henri Maspéro đã sai khi cho rằng đây là một yếu tố Việt (annamite), cùng gốc với các từ tương ứng trong tiếng Thái, tiếng Dioi, v.v...

(tr. 22). Thực ra, đây là một yếu tố mà các thứ tiếng này đã mượn từ tiếng Hán nếu không phải đã là cùng gốc với tiếng Hán ngay từ đầu.

3> 1243. Kiến thức ngày nay, số 622

Hỏi: Tôi nghe nói có một quyển sách mang tên Cent ans, mille rêves, ấn hành để ký niệm một nhân vật chính trị của châu Mỹ La Tình. Xin cho biết nhân vật đó là ai và ai là tác giả của cuốn sách?

371

$2 xu

Trả lời: Nếu chúng tôi không nhém thi Cent ans, mille rêyes không phải là tên của một cuốn sách mà cũng không, phải là nguyên văn. Nguyên văn bằng tiếng Tây Ban Nha 1a Cien atios mil suefios, có thể dịch ngắn gọn là Trăm năm nghÌn mộng. Đây là tên một cuộc vận động bắt đầu từ ngày 26-7-2007 để tiến tới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cựu.

Tổng thống Chile Salvador Allende, người đã bị tay cựu.

độc tài Augnsto Pinochet lật đổ, và đã hy sinh vào ngày 11-9-1973, chỉ còn để lại có cặp mắt kính gãy vỡ. Cuộc vận dng nay do Qué Salvador Allende khéi xuéng (Xin xem ảnh) và sẽ diễn ra trong một năm, cho đến ngày 26-7-2008.

Trong lễ phát động, sau khi nghe ca sĩ Manuel Garcia trình

bày bài hát “Lentes de Allende” (Cặp kính của Allende), cử toạ chứng kiến bà Isabel Allende, con gái của vị cựu

CHUYEN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY | 373

tổng thống, và những trẻ em của các khu phố nghèo cùng đi với bà, khánh thành bức tượng của nghệ sĩ Carlos Altamiro, cao 2,5m và dài 5m, thể hiện cặp kính của Salvador Allende.

Bà Isabel Allende nói:

“Tác phẩm này không có tên, vì nghệ sĩ không muốn đặt tên cho nó, nó tượng trưng cho diéu “Nunca mas!” (Khéng

bao giờ (xảy ra nữa!). Không bao giờ còn nạn độc tài, không

bao giờ còn chuyện vi phạm nhân quyền. Và không bao giờ còn có chuyện hy sinh của một vị tổng thống hết lòng vì nhân dân:

> 1244. Kiến thức ngày nay, số 622

Hỏi: Chuyện ba con khi bịt miệng, bịt tại, bịt mắt xuất

phát từ đâu và mang ¥ nghia gi?

Trả lời: Người ta cho rằng hình ba con khi, con bịt tai,

con bịt miệng, con bịt mắt, có sớm nhất là ở một bức phù

điêu (Xin xem ảnh trang sau) của chùa Toshogu ở Nikko (Nhật Bản) và đó là của nhà điêu khác Hidari Jingoro

(1594 - 1634). Người ta gọi tên ba con khi đó là Mizaru, Kikazaru và lwazaru. Có tài liệu giải thích rằng mizaru là con (khi) mù, kikazaru là con (khi) điếc va iwazaru la

con (khi) câm. Cũng có tài liệu giảng rằng nghĩa gốc của mizaru la “toi không thấy điều xấu” của kikazaru là “tôi không nghe điểu xấu” và của /wazaru là “tôi không nói điểu xấu” Lại có tài liệu nói rằng chuyện ba con khi này

ara ACH

chẳng qua chỉ là do ảnh hưởng của đoạn I, thiên 12 (Nhan Uyên) trong sách Luận ngữ mà thôi. Khi Nhan Uyên hỏi

Khẩng Tử về đức nhân và về những gì cần phải làm thì Khổng Tả đáp:

“Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phí lễ vật ngón, phi lễ

vật động, nghĩa là “Cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, cái gi không hợp lễ thì đừng nghe, cái gì không hợp lễ thì đừng nói, cái gì không hợp lễ thì đừng làm”: (Lời dịch của Nguyễn Hiến LÊ).

Ngày nay hình tượng ba con khi đã trở nên phổ biến và ta có thể thấy rất nhiều bộ khi ba con bằng gỗ, bằng đá,

bằng kim loại, bằng chất đẻo, v.v... bày bán ở các của hàng, đồ lưu niệm, Nó còn có những biến tấu thành ba con chó, ba con thỏ, ba con lợn; thậm chí ba con ếch, vx.,. Chẳng.

những thế, nó còn biến tấu thành cả ba chú bé, thành ba.

con người nói chung nữa.

Một phần của tài liệu Chuyện đông chuyện tây (Tập 7): Phần 2 (Trang 147 - 212)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(212 trang)