Ông lại chê chúng tôi không hiểu frượng phu là “người

Một phần của tài liệu Chuyện đông chuyện tây (Tập 7): Phần 2 (Trang 115 - 140)

cao mười thước” mà bản thân ông thì lại không hiểu rằng đây là một cái nghĩa rất “nhà quế” Nó cũng “nhà quê” như nói rằng cửa hàng bách hoá là cửa hàng bán một trăm thứ sản phẩm, trường bách khoa là trường dạy trắm môn, đường thiên lý là con đường dài đúng một ngàn dặm, chim

bách thiệt là chim có một trăm cái lưỡi, v.v... Thực ra, cái

ý “mười thước” trong hai chữ (rượng phụ của ông chỉ là cái người ta mượn để chỉ kẻ nam nhỉ đã trưởng thành. Vì thế cho nên, tuy đều “cao mười thước” cả nhưng có người là đại trượng phu, có kẻ lại là tiểu trượng phu, thậm chí có kẻ còn là tiện frượng phụ nữa. Nếu ta cứ “căng” từ ngữ ra mà

329

330 AN CHI

hiểu theo kiểu Ngu Minh thi tiểu trượng phụ sẽ là “người mười thước cỡ nhở” chăng? Nhưng đây cũng chưa phải là chuyện quan trọng nhất.

Quan trọng nhất là chuyện ông Ngu Minh đưa hai tiếng trượng phụ ra trong trường hợp này để chê chúng tôi vì chính ông đã không phân biệt được hai lĩnh vực: ngôn ngũ và lời nói. Hai tiếng trượng phu thuộc về từ vựng (ngôn

ngũ) còn thân mười thước cao thì thuộc về lời nói vì đã là

một câu. Đáng lẽ phải tìm cứ liệu trong lời nói (parole) để chứng minh sự tổn tại của “người cao mười thước” thì ông Ngu Minh chỉ đưa ra được có hai tiếng trượng phu, một đơn vị của ngôn ngữ (ague). Cứ theo cách này của ông Ngu Minh thì người ta còn chứng minh được rằng Việt Nam có cả bom hạt nhân, tàu vũ trụ, v.v... cũng không biết chừng vì tiếng Việt chẳng có những danh ngữ tàu vũ trụ, bom hạt nhân, vay... thì là gì?

6. Ong Ngu Minh dẫn ý kiến của Ngô Quốc Quýnh cho rằng Từ Hải chính là Quang Trung và cho rằng đây là chuyện đáng bản. Có lẽ ông thích có một tay hoàng đế từng ra vào lẩu xanh và từng nghe lời đàn bà để cho sự nghiệp

tan thành mây khói chứ chúng tôi thì không. Chúng tôi

không đám bôi nhọ Hoàng đế Quang Trung,

7. Ông Ngu Minh lại dẫn ý kiến của Ngô Quốc Quýnh cho rằng bốn câu ba vần là thơ lục bát. Ông cho rằng đây cũng là chuyện đáng bàn. Phải, đáng bàn lắm chứ vì ông

CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆNTÂY | 331

Quýnh thì đếm nhầm còn ông Minh thì lại lăng-xê cái sự

nhầm lẫn đó. Xin thưa với hai ông rằng bốn câu thì chỉ có

hai vần mà thôi. Xin nêu bài lục bát bốn câu sau đây của

Xuân Diệu để cho hai ông đếm:

Tôi cam mui dạ lan hưởng

Trong tay Ãi đến người thương cách trùng Dạ lan thơm nức lạ lùng

Tưởng như âi mãi chưa cùng mùi hương.

Rõ ràng là chỉ có hai vẫn: ương và ung. Muốn được ba van thì phải có sáu câu, như bài “Vịnh cây thông” của Nguyễn Công Trứ:

Ngôi buôn mà trách ông xanh

Khi vui muốn khóc buôn tênh lại cười Kiếp sau xin chứ làm người

Làm cây thông đứng giữa trồi trà reo Giữa trời vách đá cheo leo

Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

Ở đây ta mới có ba vần: anh/ênh, di/ơi và eo. Vậy bốn câu bạ vần là bốn câu Đường luật đấy, thưa hai ông, chẳng hạn bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi Duc dm tỳ bà mã thượng thôi

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu

Cổ lại chính chiến kỷ nhân hồi.

332 ANCHI

Ong Ngu Minh sẽ hỏi: - Ba vần ở đâu?

Thưa ông: - Đó là ba chữ bôi, thôi, hồi.

Ông sẽ bẻ: - Thế thì chỉ có một vần “ôi” mà thôi.

Xin thưa với ông rằng đó là vì ông chưa quen với phép

tu từ gọi là hoán dụ. Với hoán dụ, vẩn ở đây có nghĩa là chữ

hoặc tiếng cùng vần với chữ hoặc tiếng khác trong những câu thơ có liên quan, mà trong bài “Lương Châu từ” thì

đúng là bôi, thôi, và hồi. Ông có thể vặn thêm: - Sao không

thấy cái nghĩa đó trong từ điển?

Thưa: - Đã là tu từ thì ít khi có sẵn trong từ điển.

Thế đấy, thưa ông Ngu Minh, đó mới chánh cống là Kiểu chiêu đấy, thưa ông!

Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai cốt lõi của

ông để ông thẩm định lại.

Hạ tuân tháng 6-2007

3) 1232. Kiến thức ngày nay, số 611

Hỏi: Trong một lần trà du từu hậu, một ông bạn của tôi có nhận xét rằng bài “Trong đâm” (nói về bông sen) là

một bai ca dao that đẹp, cả nội dung lẫn hình thức; đặc

biệt là về mặt ngôn ngũ, nó chỉ gôm toàn những từ thuần Việt. Ông bạn còn nói rõ đó không phải là những từ Việt gốc Hán. Xin cho biết có đúng như thế không. Và thế nào

là “từ thuần Việt?

CHUYỆN ĐỒNG - CHUYỆN TÂY

Trả lời: Trước nhất, xin chép lại bài ca dao:

Trong đâm gi dep bằng sen Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

"Trong 28 tiếng (âm tiết) của nó, ta đếm được 21 từ (vì có 7 từ được dùng 2 lần): bằng, bông (2), bùn (2), chẳng, chen, dém, dep, gan, gì, hôi, lá (2), lại, tà, mùi, nhị (2), sen, tanh,

trắng (2), trong, vàng (2), xanh (2). Trong 21 từ này, chúng

tôi đếm được ít nhất là 13 từ gốc Hán sau đây:

1. Bằng là âm Hán Việt Việt hoá của cha +, mà âm Hán Việt hiện đại là bình (như trong hoà bình, bình đẳng, v.v...). “Hán Việt Việt hoá” là cách gọi bắt đầu với Vương Lực (1948) mà chúng tôi tạm thời gọi theo. Chứng cứ cho

âm đã nói của chữ đang xét là:

- bình an cũng nói thành bằng an.

- bằng trong đồng bằng chính là âm Hán Việt Việt hoá của bình trong bình nguyên.

- bình chân như vại cũng nói thành bằng chân như vại;

VY...

2. Bông, mà một số tác giá cho là bắt nguồn từ tiếng Mã Lai bunga (doc la “bu-nga’). Day là một ý kiến hoàn toàn không có cơ sở mà chúng tôi đã phản bác trên Kiến thức

333

334 ANCHI

ngày nay, số 276, ngày 1-4-1998. Ở đây chỉ xin nhắc lại và nói rõ thêm về gốc Hán của từ này. Bông bắt nguồn ở một từ Hán ghi bằng chữ %, mà âm Hán Việt hiện đại là phong, có nghĩa là mầm, chồi, nụ. Đây là cái nghĩa mà Dicfionnaire classique de la langue chinoise cha FS.Couvreur giảng là

“germe, bourgeorr. Về mặt ngữ nghĩa thì mối quan hệ giữa bông và phong đã quá rõ ràng. Còn về ngữ âm, trước nhất là về vần thì mối tương ứng ông ~ ong thực chất là biểu hiện của mối kỳ duyên giữa ba nguyên âm --, -ô-, -0- trong lĩnh vực Hán Việt (mà chúng tôi mạn phép cho qua). Chỉ xin nhấn mạnh rằng, nếu kể cả vần, thì bông ~ phong % cũng y hệt như rổng ~ long #š, là một mối tương ứng hiển

nhiên đã được công nhận hoặc mặc nhận tử lâu. Về tương

ứng phụ âm dau b- ~ ph-, ta cũng có hàng loạt dẫn chứng, mà Vương Lực đã nêu lên một số trong luận văn “Hán Việt ngữ nghiên cứu” (Hán ngữ sử luận văn tập, Khoa học xuất

bản xã, Bắc Kinh, 1958, tr. 361 - 363). Ở đây, xin nêu thêm

một số dẫn chứng khác:

- bổ (trong ngả bổ chứng) ~ phó 4} (nga).

- bụ (trong by bam) ~ phụ +£ˆ (to, béo).

- bù (trong bù đắp) ~ phụ ft (thêm vào).

- bua (trong bua việc, bua quan) ~ phu & (trong phu dich).

- bung (trong bung da) ~ phung #4 (nguc); vv...

CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY

Với những dẫn chứng về ngữ âm và ngữ nghĩa trên đây, ta thấy rằng bóng ~ phong % là chuyện hoàn toàn bình thường.

3. Đẩm là âm Hán Việt Việt hoá của dam i, có nghĩa là... đầm, ao.

4. Đẹp là một từ bắt nguồn ở từ Hán ghi bằng chữ 4, mà âm Hán Việt là điệp, có nghĩa là... đẹp. Về vần thì đẹp

~ điệp cũng như hẹp (trong eo hẹp) ~ hiệp #%, có nghĩa là

chật hẹp; đặc biệt, cũng y hệt như đẹp (trong đẹp lép) ~ điệp

3, mà Thuyết văn giải tự giảng là “bạc dã; nghĩa là “mỏng

vậy” Còn về phụ âm dau thì chữ điệp %, thanh phù của

chữ điệp fŸ đang xét, cũng còn dùng để hài thanh cho rất

nhiều chữ điệp khác nhau: sŠ, 3Ÿ, ‡È, ‡#, v.v... Vậy đẹp ~

điệp {# là chuyện hoàn toàn bình thường.

5, Gần là âm xưa (hoặc âm Hán Việt Việt hoá) của chữ cận ‡f, có nghĩa là... gần. Về phụ âm đầu (g- ~ c- (k-)) thì

ta có hàng loạt thí dụ:

- gác ~ các R| (= lâu).

- gan (trong tim gan) ~ can Hf.

- gắng (trong cố gắng) ~ cắng %, là hết, suốt (gắng sức

là “làm cho hết sức của mình”).

- gdm (trong gdm vóc) ~ cẩm #§ (= gấm). ` - gân (trong gân cốt) ~ cân 3#. (= gân); v.v...

335

346 AN CHI

6. Hôi là bình thanh của hối #$, cũng đọc huế, có nghĩa

là hư, thiu, cơm thiu.

7. Mùi là âm xưa của vị %, có nghĩa là... mùi. Về phụ âm đầu thì mời ~ vị 5k cũng giống như:

- màng (trong màng lưới)Imạng (trong mạng nhện) ~

võng #8 (= lưới).

- mong (trong mong muốn) ~ vọng 3Ÿ (= mong).

- muộn (trong muộn màng) ~ vấn $Ä, (= muộn).

Nhưng, dẫn chứng tiêu biểu nhất là chính chỉ thứ tám

trong thập nhị địa chị, mà âm nay là vị, chữ viết là +, thì

âm xưa cũng là mỏi.

Còn về vấn (-wi ~ -i) chỉ xin nêu một thí dụ điển hình:

chữ phi 3È là thanh phù của chữ bài & (họ Bài); điểu này đủ để xác nhận mối tương ứng -wi ~ -i.

8. Nhị là biến thể ngữ âm của nhụy, một từ Hán Việt chánh tông mà Hán tự là 3$.

9. Sen là một từ gốc Hán, bat nguồn ở từ ghỉ bằng chữ

‡$, mà âm Hán Việt hiện đại là liên, có nghĩa la... sen.

Về van thì mối quan hệ -ew#+ ~ -iên không khó chứng minh. Còn về phụ âm đầu thì sért ~ liên cũng giống như:

- sáp (trong sáp ong) ~ lap 38, (= sap).

- site (trong stéc manh) ~ luc 4 (= sttc); wv...

CHUYỆN ĐỒNG - CHUYỆN TÂY

Mối quan hệ này cũng đã được Nguyễn Tài Cẩn để cập đến trong Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Nxb. Giáo

duc, 1995, tr. 108 - 114).

10. Tanh là một từ bắt nguồn ở từ Hán ghi bằng chữ

mà âm Hán Việt hiện đại là tỉnh, như một số người vẫn đọc,

và có nghĩa là... tanh, hôi. Nhưng fanh mới là âm chính thống của nó vì đây lại là một chữ thuộc vận bộ thanh #.

11. Trong rõ ràng là một biến thể ngữ âm của frung P, dĩ nhiên có nghĩa là... trong. Về mối tương ứng -0ng ~ -wfig,

ta có nhiều thí dụ: (hình) dung ~ (hình) dong, thong dong

~ thung dung; (tuy) tong ~ (tup) ting, tong (bach) ~ tùng

(bách); v.v...

12. Vàng là âm xưa (có người xem là âm Hán Việt Việt

hoá) của hoàng 3, có nghĩa là... vàng, Về mối tương ứng

phụ âm dau - ~ h (w), ta có hàng loạt dẫn chứng:

- và (liên từ) ~ hoà ẩn.

- ạ (trong tai va) ~ hoa #4.

- vạch (trong vẽ vạch) ~ hoạch $] (= vach); wv...

13. Xanh là âm Hán Việt Việt hoá của thanh Ÿ, có nghĩa là xanh.

Thế là trong 21 từ của bài ca dao đang xét, có đến hơn một nửa (13) là những từ Việt gốc Hán, như chúng tôi đã nêu và chứng minh. Đến như “từ thuần Việt” thì đây là một khái niệm rất mông lung mà một số nhà ngữ học thừa thãi tinh thần dân tộc đã đặt ra.

37

338 ANCHI

Đây thực ra chỉ là một cách gọi danh không chính, ngôn không thuận mà chúng tôi cũng đã có lần phê phán trên Chuyện Đông chuyện Tây: phàm những từ mà người ta mù tịt về tử nguyên thì đều là “từ thuần Việt”. Thực ra, trong ý thức của những người chưa hề biết đến một tử nào của tiếng nước ngoài thì những từ như: bơ, kem (cả kem để ăn lẫn kem để (thoa), ga (cả ga để đốt lẫn ga tàu hoa), wv..., đều là “thuần Việt” Vậy ta có nên đặt ra cái khái niệm “từ

thuần Việt” cho rắc rối hay không?

3> 1233. Kiến thức ngày nay, số 612

Hỏi: Xin cho biết vóc trong Ăn vóc học hay nghĩa là gi.

Và nghĩa của cả câu là gì?

Trả lời: Về từ vóc và nghĩa của cả câu Ăn tóc học hay, chúng tôi đã trả lời trên Kiến thức ngày nay, số 194, ngày 10-12-1995. Trên số đó, chúng tôi đã nhận xét và phân tích khá kỹ ý kiến của Phan Ngọc trước khi đưa ra cách giải thích riêng của mình. Vì số 194 phát hành cách đây ngót 8 năm, e khó tìm nên chúng tôi xin nhắc lại ý kiến của

mình để ông và bạn đọc tham khảo (còn phần nhận xét

về ý kiến của Phan Ngọc thì xin ông và bạn đọc vui lòng tìm đọc ở số Kiến thúc ngày nay đã nói, nếu cần). Chúng tôi đã viết như sau:

“Chúng tôi cho rằng vóc là tính từ và đây là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một nguyên từ ghi bằng chữ Ä# mà

(HUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY

âm Hán Việt thông dụng hiện đại là úc nhưng âm chính thống lại là vúc vì thiết âm của nó là “vu cúc thiết”. Úc (vúc) là thơm, ngon; úc (vúc) liệt là thơm nức (xem thêm các từ

ghép uất úc, úc phúc, phân úc, v.v... trong từ điển); vậy vóc có nghĩa là thơm, ngon. Còn về mặt tương ứng âm vị thì ức (vúc) ~ vóc là hoàn toàn bình thường vi uc ~ oc còn được tìm thấy qua nhiều cặp khác nữa, chẳng hạn: - (uẩn) khúc ~ (hiểm) hóc; (Nhân) Mục (địa danh) ~ (làng) Mọc;

(cực) nhục ~ (cực) nhọc; túc $Š (hạt lúa) ~ thóc (gạo); trục

#8 (hông dứt đi được) ~ (trần) trọc, v.v...

Tóm lại, vóc có nghĩa là thơm, ngon và “an vác học hay”

chỉ đơn giân có nghĩa là ăn ngon học giỏi. Cấu trúc cú pháp của thành ngữ này giống hệt của các thành ngữ: ăn ngon mac dep, an ngon ngủ yên, ăn không ngồi rỗi, ăn gian nói đối, ăn thật làm đối, v.v... Nghĩa là nó gồm hai từ tổ động từ sóng đôi mà mỗi từ tổ gồm một động từ và một tính từ làm trạng ngữ cho nó”.

Ý kiến của chúng tôi là như thế. Nhưng mới đây, trao đổi riêng trong một cuộc gặp mặt, một cán bộ giảng dạy ngữ văn kiêm tác giả sách ngữ pháp đã bác bỏ ý kiến đó. VỊ này cho rằng trong câu thành ngữ đang xét - mà vị ấy cho là tục ngữ - thì cả vóc lẫn hay đều là danh từ. Vóc là thân hình, ở đây là thân hình khỏe mạnh, còn hay là cái hay, điểu hay. Cả câu có nghĩa là ăn thì được thân hình khỏe

mạnh, học thì được cái hay, cái bổ ích. Tuy không trả lời

trực diện nhưng ngay lúc đó, chúng tôi đã thấy rằng đây là

339

340 ANCHI

một cách giải thích thực sự không ổn. Nhân câu hỏi của

ông, nay chúng tôi xin phân tích như sau:

Một là về nội dung thì đó là một cách hiểu không phù hợp với lẽ thường. Tục ngữ phải đúng với thực tế nếu nó nói về chuyện đời (xã hội) hoặc chuyện trời (thiên nhiên) và phải hợp lý nếu nó đưa ra những lời khuyên. Nếu là một câu tục ngữ có nội dung như vị kia đã nêu thì vế đầu của

câu ăn vóc học hay lại không đúng với thực tế. “Người ta

ăn để sống (chứ không sống để ăn)” là một câu nói đúng

chứ "ăn thì được thân hình khỏe mạnh” là một lối suy diễn

sai. Nguyễn Du có lý hơn nhiều khi tả Tú bà:

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao!

Vang, van đề là phải “ăn gì” và cả “ăn như thế nào” nữa

thì mới có thể có được một thân hình khỏe mạnh. Ăn như

gia đình chị Dậu của Ngô Tất Tố thì e là khó có được thân

hình như thể. Ăn toàn cơm độn với những ngô những khoai

thì chỉ đủ sức đi cày thuê cấy mướn cũng đã là tốt lắm rồi!

Câu thành ngữ đang xét này đã ra đời cách chúng ta cũng nhiều trăm năm. Lúc đó nước ta chủ yếu chỉ là Đàng Ngoài, là nơi đất (trồng trọt) hẹp người đông. Cho đến giữa thế kỷ XX, ai có đi “ba cùng” với nông dân ở miền Bắc cũng có thể biết được người ta đã sống khổ cực như thế nào.

Vậy thì trước kia, làm sao dân gian lại có thể tếu táo mà

nói rằng “ăn thì được thân hình khỏe mạnh”? Nhưng cứ cho là dân chúng lúc bấy giờ cũng xơi toàn cao lương mỹ vị như các nhà cao sang quyền quý thì ta cũng tuyệt nhiên

CHUYỆN ĐÔNG - CHUYỆN TÂY

không thể nói rằng “ăn thì được thân hình khỏe mạnh” vì vấn để không phải ở chỗ “ăn; mà là “ăn gì” và “ăn như thế nao” “An” chang da gop phan tao ra bệnh béo phì đó sao?

Đó là điểm bất ổn thứ nhất.

Điểm bất ổn thứ hai là việc gán từ loại danh từ cho từ

hay, Đây thực ra trước sau vẫn cứ là một tính từ và, với tính cách là một tính từ, nó cũng sẽ không bao giờ có thể trở thành danh từ được cả. Nó chỉ có thể đi chung với danh từ đơn vị cái và đứng sau danh từ này để tạo thành ngữ danh từ cái hay mà cái là trung tâm còn nó thì làm định ngữ cho cái. Cũng vậy, với những tính từ cùng một phạm trù ngữ nghĩa với nó: cái tốt, cái đúng, cái xấu, cái dỗ, cái sai, v.v... Từ xưa, dân gian cũng đã nắm vững quy tắc này rồi.

Vì vậy nên họ mới tạo ra danh ngữ cái đẹp trong câu Cai nết đánh chết cái đẹp. Trong danh ngữ này, đẹp vẫn cứ là tính từ, chỉ có cái mới là danh từ đứng làm trung tâm của

danh ngữ cái đẹp mà thôi. Tóm lại, nếu “đi một mình” thì

hay tuyệt đối không thể “chuyển đổi từ loại” thành đanh tử. Đó là điểm bất ổn thứ hai.

Điểm bất ổn thứ ba là vóc và hay dút khoát không thể đơn độc làm thành phần Thuyết trong các cấu trúc Đề - Thuyết ăn vóc và học hay, nếu đó là những danh từ (?). Nếu muốn diễn đạt cái ý “ân thì được thân hình khỏe mạnh? không ai lại nói ăn vóc, cũng như nếu muốn diễn đạt cái ý “học thì

được cái hay” không ai lại nói học hay, cho dù đó có là người xưa đi nữa, và cho dù đó có là thành ngữ, tục ngữ hay là bất

341

Một phần của tài liệu Chuyện đông chuyện tây (Tập 7): Phần 2 (Trang 115 - 140)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(212 trang)