2.3. KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
2.3.2. Kinh nghiệm nước ngoài
Trong gần 30 năm thực hiện đường lối cải cách và mở cửa, đến nay nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một phần nhờ vào thu hút và sử dụng FDI.
Năm 2013 GDP của Trung Quốc tính theo tỷ giá hối đoại chính thức đạt mức kỷ lục là 8.939 tỷ USD. Kinh tế FDI ngày càng có nhiều đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của ngành chế tạo Trung Quốc, thúc đẩy tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ cũng như cải thiện việc quản lý kinh doanh của các DN Trung Quốc, mở rộng phạm vi việc làm cho người lao động, thúc đẩy mở cửa đối ngoại, đẩy nhanh nhịp độ thị trường hoá, phát huy vai trò tích cực trong việc thiết lập và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN.
Trong những năm qua, quy mô đầu tư của nước ngoài vào Trung Quốc đã không ngừng tăng lên, kết cấu thu hút vốn ngoại không ngừng được cải thiện, trình độ đầu tư không ngừng được nâng cao. Từ ngày 1 tháng 7 năm 1979, Bộ luật Đầu tư hợp tác quốc tế của Trung Quốc được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho thu hút, sử dụng và phát huy hiệu quả tác động của FDI ban đầu cho một số địa phương như Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn, Sáu Đầu và mở rộng dần ra đối với các địa phương khác theo những trọng tâm, trọng điểm trong từng giai đoạn phát triển.
Để khuyến khích kinh tế FDI ở miền Trung và miền Tây, Trung Quốc đã quyết định cho phép các tỉnh vùng sâu, vùng xa, các khu tự trị được phê chuẩn các dự án nước ngoài với tổng đầu tư lên tới 30 triệu USD (mức cũ là 10 triệu USD); cho phép giảm thuế thu nhập từ mức 33% xuống còn 15% - ngang bằng mức thuế dành cho các doanh nghiệp ở các đặc khu kinh tế.
Nhờ quy định khuyến khích đầu tư được ban hành và thủ tục thẩm định liên doanh được đơn giản hoá dần dần,... nên tổng số vốn FDI (vốn thực hiện) vào Trung Quốc không ngừng tăng nhanh. Vốn FDI đăng ký giữa thập kỷ 80 đến năm 1990 tăng bình quân 46%/ năm, đặc biệt trong 3 năm 1991 - 1993 đạt
tốc độ tăng trưởng cao nhất, với tổng số là 182.593 triệu USD. Từ năm 1993 đến nay, khối lượng thu hút vốn FDI của Trung Quốc không ngừng tăng lên.
Nếu như vào năm 1998, số vốn FDI luỹ kế thực sự đầu tư vào Trung Quốc xấp xỉ 225 tỷ USD, thìđến cuối năm 2012 đã đạt mức 1.344 tỷ USD [81, 102].
Để thu hút và sử dụng hiệu quả FDI, chính phủ Trung Quốc đưa ra một loạt các chính sách và cơ chế nhằm cải thiện môi trường đầu tư như thực hiện miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng cho các thiết bị sản xuất nhập khẩu và đưa ra một loạt danh mục các ngành dành cho FDI, giảm thuế thu nhập cho các công ty nước ngoài đầu tư ở những khu vực nội địa kém phát triển, mở cửa dần cho FDI vào các lĩnh vực viễn thông, bảo hiểm, cấm hoàn toàn các hoạt động thanh tra trái phép, thu lệ phí không hợp pháp, áp đặt thuế và xử phạt vô cớ...
Sau khi gia nhập WTO, cùng với những cải cách phù hợp, nhanh nhạy của Chính phủ, Trung Quốc đã được hầu hết các nhà FDI lựa chọn làm địa điểm đầu tư lý tưởng, một thị trường đầy triển vọng với những lợi thế như kết cấu hạ tầng tương đối toàn diện mà chi phí lại rẻ, trìnhđộ văn hoá của đội ngũ nhân công cao, chi phí lao động thấp, cơ chế chính sách thông thoáng, cởi mở, có các ngành công nghiệp hỗ trợ....
Trong những năm qua Trung Quốc đã áp dụng chính sách mở rộng các lĩnh vực đầu tư của vốn nước ngoài, đa lĩnh vực hoá loại hình DN FDI ở Trung Quốc, coi đây là một nội dung quan trọng trong chiến lược nâng cao chất lượng sử dụng vốn FDI, cải thiện kết cấu sử dụng nguồn vốn này.
Trung Quốc thúc đẩy từng bước việc mở cửa đối ngoại trong lĩnh vực thương mại và các dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, thông tin, điện tử, mậu dịch đối ngoại, mậu dịch đối nội, du lịch v.v..., hoàn thiện kết cấu của các ngành nghề do thương gia nước ngoài và khu vực đầu tư, khuyến khích vốn ngoại đầu tư vào nông nghiệp, các ngành kỹ thuật công nghệ cao và mới, các ngành công nghiệp cơ sở, kết cấu hạ tầng, ngành bảo vệ môi trường, ngành xuất khẩu thu ngoại tệ; cải thiện dần bố cục các khu vực đầu tư của thương gia nước ngoài và khu vực, hướng dẫn thương gia nước ngoài và khu vực đầu
tư vào khu vực miền Trung và miền Tây, đặc biệt là đầu tư vào các dự án được nhà nước khuyến khích như dự án kết cấu hạ tầng, dự án bảo vệ môi trường như nông nghiệp sinh thái, sử dụng tổng hợp nguồn nước, v.v... và dự án kỹ thuật cao và mới ở miền Trung và miền Tây.
Nếu việc mở rộng các lĩnh vực đầu tư của DN FDI của Trung Quốc trong những năm 80 chủ yếu tập trung vào các dự án công nghiệp gia công hoặc kết cấu hạ tầng, thì đến cuối những năm 90, Trung Quốc đã nới lỏng những hạn chế về các lĩnh vực được nhận FDI. Trong nửa đầu thập kỷ 90, vốn FDI vào các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (khoảng trên 50%), nhưng đến những năm cuối thập kỷ 90, vốn FDI vào các ngành dịch vụ như bất động sản, bảo hiểm, tư vấn tài chính, thông tin đã tăng lên đáng kể. Sau khi thoả thuận hợp tác thương mại Trung - Mỹ được ký kết, Trung Quốc cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng, tài chính, tiền tệ, bưu chính viễn thông v.v... , đây là những lĩnh vực mà nhiều nước thường xuyên áp đặt những ràng buộc lớn hơn so với các lĩnh vực khác nhằm hạn chế FDI. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã nới lỏng hạn chế về thị trường thông qua việc loại bỏ dần từng bước hàng rào phi thuế quan dành cho xuất khẩu, đồng thời đưa ra các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập đối với những ngành nghề then chốt cần khuyến khích phát triển.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của các DN FDI trong các lĩnh vực, Trung Quốc đã đề ra mục tiêu thu hút các TNCs lớn đầu tư vào các dự án sử dụng kỹ thuật cao. Từ năm 1992, Chính phủ Trung Quốc đã nới lỏng kiểm soát việc thành lập các DN 100% vốn nước ngoài và các DN do người nước ngoài quản lý. Hiện có tới hơn 400 trong số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới đã đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc, trong đó có 17 trong số 20 công ty lớn nhất của Nhật Bản, 9 trong số 10 công ty lớn nhất của Đức cùng các công ty nổi tiếng của Mỹ. Số các công ty lớn còn lại đều trong quá trình phân tích, đánh giá việc đầu tư vào quốc gia này. Sự gia tăng đầu tư của các TNCs vào Trung Quốc đã giúp nước này duy trì khu vực FDI có quy mô lớn và chất lượng cao hơn hẳn so với thập kỷ 80.
Trong thời gian gần đây, việc hướng dẫn phát triển các lĩnh vực đầu tư của FDI của Chính phủ Trung Quốc cũng vấp phải những thách thức về vấn đề tăng cường nội địa hoá một số lĩnh vực kinh tế như chế tạo ô tô, máy ảnh Kodak..., khi các nhà đầu tư FDI thờ ơ với việc áp dụng quy trình công nghệ mới, mang tính cập nhật.
Để phát triển và sử dụng có hiệu quả FDI, Trung Quốc còn rất chú trọng đến việc tạo ra cơ hội và động lực cho DN FDI thông qua các chính sách về ưu tiên đầu tư, tạo lập kết cấu hạ tầng, hoàn thiện luật pháp và cải cách chính sách tài chính, giá cả.
Trung Quốc đã chú ý hướng nguồn FDI vào từng vùng lãnh thổ thông qua chính sách ưu tiên phát triển riêng biệt. Trong những năm 80, hướng ưu tiên phát triển FDI của Trung Quốc tập trung vào các thành phố duyên hải. Từ thập kỷ 90 đến nay, lại hướng ưu tiên vào các thành phố ven sông, ven biên giới và trong nội địa, nhất là vào miền Tây Trung Quốc. Biện pháp và chính sách chủ yếu mà Chính phủ Trung Quốc áp dụng là xây dựng kết cấu hạ tầng và mở rộng quyền quyết định việc nới lỏng đầu tư cho chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ mang lại những tác động tích cực mà nó còn có rất nhiều mặt trái ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Trung Quốc, đòi hỏi phải được nghiên cứu và có chính sách khắc phục. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong hơn ba thập kỷ qua biến Trung Quốc thành một trong những quốc gia có mức độ ô nhiễm cao nhất thế giới. Ở nhiều tỉnh, thành tại Trung Quốc, các vấn đề môi trường và sức khỏe không được ưu tiên bằng phát triển công nghiệp. Bầu không khí ở nhiều thành phố bị nhuốm đen bởi khói từ các nhà máy. Hàng trăm triệu người dân Trung Quốc không thể tiếp cận với nước sạch. Hai vụ nhiễm độc chì gần đây mà ít nhất 2.000 trẻ em Trung Quốc là nạn nhân chỉ là những trường hợp mới nhất trong hàng loạt vụ nhiễm độc dường như xảy ra liên tục, chỉ là một trong nhiều biểu hiện mặt trái của sự bùng nổ kinh tế ở quốc gia này.
2.3.2.2. Kinh nghiệ m Hàn Quố c
Hàn Quốc là một trong những quốc gia phát triển nhanh chóng tại Đông Á. FDI là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc. Cho tới cuối những năm 50, Hàn Quốc vẫn là một quốc gia bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và là mảnh đất không có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Hàn Quốc phụ thuộc lớn vào viện trợ của nước ngoài, đặc biệt là của Mỹ. Tiết kiệm trong nước không đáng kể. Năm 1959, tỷ lệ đầu tư trên GDP là dưới 1% và chủ yếu là viện trợ của Mỹ. Tài nguyên thiên nhiên của Hàn Quốc rất nghèo nàn.
Tháng 1 năm 1960, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu ban hành Luật đầu tư nước ngoài và các các chính sách khác nhằm thu hút FDI. Từ năm 1962, Hàn Quốc cho phép FDI vào trong nước tự do miễn là chúng đáp ứng được mục tiêu của kế hoạch 5 năm. Mọi nguồn FDI vào Hàn Quốc đều được nhà nước bảo vệ và ủng hộ. Sự tham gia của các DN trong nước dưới dạng liên doanh là không bắt buộc. Việc thu hút công nghệ nước ngoài cũng được khuyến khích.
Năm 1967,Chính phủ tiến hành sửa đổi luật khuyến khích đầu tư. Năm 1970, thiết lập khu xuất khẩu tự do đầu tiên ở Masan. Nhờ những nỗ lực trên, FDI vào Hàn Quốc đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, do lo ngại những tác động ngược của FDI đối với nền kinh tế, nên Chính phủ khuyến khích các DN liên doanh hơn là các DN 100% vốn nước ngoài và không chấp nhận các dự án có đặc trưng sau: gây hỗn loạn cung, cầu trong nước về nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian; có các sản phẩm đang cạnh tranh với các công ty trong nước trên thị trường nước ngoài; tìm kiếm sự ủng hộ tài chính của các công ty trong nước; tìm kiếm lợi nhuận chỉ dựa vào việc sử dụng đất.
Năm 1980, Chính phủ sửa lại luật đầu tư theo hướng mở rộng hơn đối với FDI, cho phép nhà FDI được tham gia vào nhiều lĩnh vực hơn và tỷ lệ vốn tham gia lớn hơn, cho phép xí nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động ở nhiều lĩnh vực trước đây không cho phép. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc từ năm 1962 -1966 là 47,6 triệu USD; 1967 - 1976:
1.120,9 triệu USD; 1977 - 1986 là 4.323 triệu USD; 1987 - 1991 là 7.967,1
triệu USD và năm 2002 là 1.972 USD chỉ chiếm 0,03% GDP và bằng 1,12%
tổng mức tạo vốn đầu tư của Hàn Quốc trong năm. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc tính đến hết năm 2013 là 152,3 tỷ USD bằng 12,7% GDP [81, 102].
Thu hút và sử dụng FDI ở Hàn Quốc dựa trên quan điểm tranh thủ ngoại lực để duy trì mức đầu tư cao cho phát triển kinh tế, từ đó thực hiện định hướng thu hút FDI từ các nước phát triển vào công nghiệp, nhất là công nghiệp chế tạo, thúc đẩy việc khai thác và phát triển kỹ thuật, sử dụng và tiếp thu các kỹ thuật nhập ngoại, tăng sức cạnh tranh quốc tế cho doanh nghiệp.
Họ đã ban hành “Luật xúc tiến khai thác kỹ thuật” nhằm nâng cao năng lực thu nhận và tiêu hoá kỹ thuật mới, tiên tiến của nước ngoài. Lĩnh vực dịch vụ cũng thu hút không nhiều FDI vì Chính phủ Hàn Quốc chỉ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào một số hoạt động dịch vụ như: du lịch, tham gia liên doanh trong hoạt động ngân hàng, thương mại, một số công ty xử lý số liệu và máy tính, còn các dịch vụ khác không được phép tham gia. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, FDI được phát triển chủ yếu vào các lĩnh vực thay thế nhập khẩu, sau chuyển sang định hướng xuất khẩu. Từ cuối những năm 70, FDI chủ yếu được phát triển ở các lĩnh vực điện, điện tử; còn ở ngành dệt và tơ sợi loại DN này bắt đầu giảm dần.
Hàn Quốc là một trong những quốc gia yêu cầu mức độ tham gia sở hữu vốn của nước chủ nhà khá nghiêm ngặt. Mức sở hữu của các công ty nước ngoài ở Hàn Quốc theo nước đầu tư, được chia thành 4 nhóm: 1) Nhóm sở hữu thiếu số (ít hơn 50%); 2) Nhóm cùng mức sở hữu (50%); 3) Nhóm sở hữu đa số (hơn 50%) và 4) Nhóm sở hữu toàn bộ (100%). Tính đến cuối năm 1981, các DN nước ngoài thuộc diện sở hữu 100% chiếm tỷ lệ không lớn (14,6%). Trong khi đó, đa số các DN nước ngoài là thuộc diện đồng mức sở hữu hoặc sở hữu thiểu số (73%).
Có thể nói, cho tới tận đầu những năm 80, các chính sách của Chính phủ Hàn Quốc đối với các xí nghiệp nước ngoài là tương đối khắt khe, đặc biệt là rất ít cho phép các dự án cạnh tranh với các công ty trong nước. Chính sách
này đã tạo ra một sự bảo hộ cần thiết cho các công ty trong nước trong giai đoạn đầu của quá trình CNH. Trong những năm gần đây, chính sách thu hút FDI của Hàn Quốc đã có những thay đổi căn bản theo hướng tự do hoá hoàn toàn đối với hoạt động của loại DN này. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được chuyển từ quan điểm điều tiết và kiểm soát sang thúc đẩy và hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Ngoài ra, Hàn Quốc còn thực hiện chính sách tự do hoá thịtrường chứng khoán. Bãi bỏhoàn toàn các hạn chế đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động sáp nhập và mua lại các công ty trong nước. Áp dụng chế độ giao dịch ngoại hối tự do kể từ 1/4/1999. Từng bước thực hiện mở cửa đối với thị trường đất đai và bất động sản.
Các chính sách FDI của Hàn Quốc những năm gần đây tập trung ưu đãi theo lĩnh vực, khả năng tạo việc làm, địa bàn đầu tư … Các chính sách FDI tại Hàn Quốc tương đối khác biệt trên các lĩnh vực, chẳng hạn như ưu đãi về thuế, trợ cấp, chính sách tài chính, hỗ trợ hành chính và chính sách lao động.
Các dự án FDI có định hướng thị trường khác nhau và do đó mong muốn các loại ưu đãi khác nhau: dự án nhằm vào thị trường trong nước thì cần ưu đãi đối với từng mặt hàng như bảo vệ thuế quan; dự án theo định hướng xuất khẩu cần ưu đãi về miễn thuế. Thực tế thấy rằng các DN theo hướng xuất khẩu nước ngoài, chi phí hợp lý, đáp ứng tốt hơn các ưu đãi thuế trong khi những DN nhắm đến thị trường thì lại quan tâm nhiều hơn với các điều kiện thị trường địa phương. Các công ty đa quốc gia chọn để phân bổ mức vốn cao hơn cho các nước có mức thuế suất thấp hơn, có thể chứng tỏ rằng tỷ lệ thuế thấp có hiệu quả cao trong việc thu hút FDI.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng trợ cấp, chính sách tài chính và/hoặc hỗ trợ hành chính cũng có thể là yếu tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Khu vực ưu đãi hỗ trợ cho các DN nước ngoài, bao gồm cả trợ cấp cho vốn cố định và việc làm, có tác động tích cực đáng kể trên các lựa chọn vị trí của các công ty đa quốc gia (MNEs).