Kinh nghiệm một số tỉnh trong nước

Một phần của tài liệu Đề Tài Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh vĩnh phúc (Trang 59 - 70)

2.3. KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

2.3.1. Kinh nghiệm một số tỉnh trong nước

Tỉnh Bắc Ninh với lợi thế về vị trí địa lý có khả năng liên kết vùng và khu vực thuận lợi, có nguồn nhân lực chất lượng. Để tăng cường tác động tích cực của FDI trước hết lãnh đạo tỉnh đã chú trọng tạo nên một môi trường hấp dẫn để thu hút FDI, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài có uy tín, công nghệ cao như FDI từ Nhật Bản, Hàn Quốc...Tính đến hết năm 2011, đã có 339 đơn vị FDI trong đó 322 dự án FDI và 17 chi nhánh, văn phòngđại diện với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,9 tỷ USD. Năm 2013, toàn tỉnh cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 95 DN, chi nhánh, văn phòng đại diện có vốn đầu tư nước ngoài; cấp điều chỉnh tăng vốn 32 lượt dự án, nâng tổng vốn đầu tư đăng ký

sau điều chỉnh 1.592,73 triệu USD; Cấp giấy chứng nhận nhà đầu tư mới 31 dự án và thực hiện xác nhận đầu tư 27 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư đăng ký 4.2525 tỷ đồng; Cấp giấy chứng nhận đăng ký 604 DN, 36 chi nhánh và văn phòng đại diện, tổng vốn đăng ký 2.538,5 tỷ đồng. Luỹ kế đến nay, trên địa bàn có 459 đơn vị đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh 5.958 triệu USD;

Cho đến nay, đã có nhiều tập đoàn đa quốc gia danh tiếng thế giới đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh như: Tập đoàn Samsung với Dự án “Khu tổ hợp công nghệ Samsung” tại KCN Yên Phong với tổng vốn đầu tư 670 triệu USD, Tập đoàn Nokia với Dự án Nhà máy sản xuất điện thoại di động tại KCN VISIP với tổng vốn đầu tư 302 triệu USD, Tập đoàn Canon với 2 dự án đầu tư sản xuất máy in, linh kiện điện tử tại KCN Tiên Sơn và KCN Quế Võ với tổng vốn đầu tư 130 triệu USD… Đặc biệt với riêng mặt hàng điện thoại di động, Bắc Ninh hiện được biết đến như “Thánh địa sản xuất điện thoại di động của khu vực và thế giới”. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng đem lại một diện mạo mới cho nên kinh tế của tỉnh, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn như: công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao, phát triển cơ sở hạ tầng…, góp phần tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của tỉnh với mục tiêu đưa Bắc Ninh liên kết với Hà Nội trở thành một trung tâm lớn của cả nước về công nghiệp điện tử, công nghiệp phụ trợ và công nghiệp công nghệ cao.

Khu vực kinh tế có vốn FDI cũng góp phần vào chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) khu vực FDI:

Giai đoạn 2001-2005: đạt 5.184 tỷ đồng (giá cố định), chiếm 23,6 % tổng GTSXCN toàn tỉnh; Giai đoạn 2006-2010: đạt 43.681 tỷ đồng, chiếm 46,2 % tổng GTSXCN toàn tỉnh. Giá trị sản xuất khu vực FDI tăng với tốc độ nhanh qua các năm: Năm 2001 đạt 842 tỷ đồng (giá cố định), năm 2005 đạt 1.462 tỷ đồng và năm 2010 đạt 22.859 tỷ đồng (chiếm 62% GTSXCN toàn tỉnh năm 2010); 9 tháng đầu năm 2011, GTSXCN FDI đạt 32.004 tỷ đồng (chiếm 72,9%). Xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh

và đóng vai trò quan trọng thúc đẩy gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của Bắc Ninh. Giai đoạn 2001-2005, kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI đạt 54,85 triệu USD, chiếm 18,9% kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh; Giai đoạn 2006 - 2010, kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI đạt 2.281 triệu USD, chiếm 51,67%

kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh; 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.761 triệu USD, chiếm 97,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu của DN có vốn đầu tư nước ngoài ước 22.882 triệu USD.

Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trong kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh đã tăng với tốc độ cao, từ 0,2% vào năm 2001 lên 38,4% vào năm 2005, năm 2010 đạt 66,8%, năm 2013- 99,3%.

Đầu tư nước ngoài của Bắc Ninh đã đóng góp ngày càng lớn vào nguồn thu ngân sách của tỉnh.Nộp ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 259 tỷ đồng thời kỳ 2001-2005, chiếm 8% tổng thu ngân sách toàn tỉnh; Giai đoạn 2006-2010, nộp ngân sách khu vực FDI đạt 1.565 tỷ đồng, chiếm 10,7% tổng thu ngân sách toàn tỉnh. Số nộp ngân sách khu vực FDI tăng nhanh qua từng năm: Năm 2001, khu vực FDI nộp ngân sách 47.03 tỷ đồng, năm 2006 tăng lên 150 tỷ đồng và năm 2010 đạt 521 tỷ đồng.

Khu vực đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Năm 2006, DN FDI đã tạo việc làm cho 7.699 người lao động, chiếm 12% tổng số lao động trong các DN toàn tỉnh. Đến năm 2010, số lượng người lao động làm việc cho các DN FDI đã tăng lên 36.800 người, chiếm 30,9% tổng số lao động trong các DN toàn tỉnh [94].

Bên cạnh đó, Chính quyền Tỉnh cũng chủ động thực hiện các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực của FDI. Những dự án FDI không đạt hiệu quả mong muốn như các dự án dừng hoạt động hoặc không triển khai thực hiện đã bị thu hồi giấy phép đầu tư. Nếu xét tương quan một số chỉ số như: hiệu quả đầu tư của vốn FDI trên phương diện đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh, hay số thu nộp ngân sách hàng năm trên tổng vốn đăng ký đầu tư thì chỉ số của Bắc Ninh vẫn còn chưa cao. Ngoài ra, một số DN FDI còn bộc lộ một số hạn chế khác như: tranh chấp về quyền lợi giữa công nhân với chủ sử

dụng lao động, an toàn lao động, gây ô nhiễm môi trường, vay nợ và không có khả năng thanh toán…Thực trạng đó đã ảnh hưởng nhất định đến môi trường đầu tư của tỉnh, hạn chế việc mở rộng đầu tư của các dự án đầu tư đã thực hiện, đồng thời làm suy giảm hiệu quả thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài chưa vào tỉnh.

Để phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI Bắc Ninh đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện quy hoạch, cải thiện môi trường đầu tư. Trong những năm qua, tỉnh đã thực hiện đầy đủ những chính sách ưu đãi đầu tư vào các KCN tập trung và ngoài KCN theo quy định hiện hành, thường xuyên tổ chức gặp mặt đối thoại cùng tháo gỡ khó khăn với các DN FDI. Ngoài ra, việc quy hoạch các KCN tập trung, khu, CCN vừa và nhỏ được thực hiện tốt tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng thuận lợi cho nhà đầu tư.

Trong quá trình thụ lý hồ sơ dự án đề nghị cấp Giấy CNĐT, các ngành chức năng như: Sở Kế hoạch-Đầu tư, Ban Quản lý các KCN tỉnh luôn tuân thủ, quy trình thủ tục cấp giấy CNĐT theo quy định nhằm rút ngắn thời gian thụ lý hồ sơ so với quy định của Nhà nước. Thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát tình hình triển khai thực hiện của các dự án, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Ban quản lý các KCN tỉnh đã tổ chức rà soát, phân loại các dự án có vốn FDI trên địa bàn tỉnh chậm triển khai và không có khả năng thực hiện báo cáo Bộ Kế hoạch- Đầu tư và UBND tỉnh Bắc Ninh. Chủ động phát hiện và giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư trong các lĩnh vực lao động, môi trường, đất đai…

Để tăng cường thu hút FDI và quản lý tốt những dự án FDI đã và đang hoạt động, Bắc Ninh đã có nhiều cố gắng trong việc chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng sản xuất thông qua việc hoàn thiện quy hoạch và triển khai đầu tư hạ tầng KCN tập trung, các CCN nhỏ. Ưu tiên các dự án công nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường và đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao(BOT), hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT)… đối với các lĩnh vực giao thông, y tế, bảo vệ môi trường. Triển khai chính sách hỗ trợ đầu tư, chính

sách khuyến khích đầu tư theo quy định của Chính phủ và quy định của tỉnh.

Thực hiện cải cách thủ tục hành chính đối với nhà đầu tư theo hướng ngày càng thông thoáng, minh bạch. Đặc biệt, hạn chế các dự án đầu tư vào khu vực phi sản xuất, khai thác không gắn với chế biến. Không cấp giấy CNĐT đối với các dự án sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ triển khai dự án như: Giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, nhà ở cho người lao động…Thực hiện đề án NNL chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các DN FDI. Phối hợp với các Bộ, ngành chức năng nghiên cứu đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm vào các đối tác tiềm năng, bảo đảm tính thống nhất, liên vùng, liên ngành và mang tính chuyên đề…

Trong thời gian qua, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện triển khai các hoạt động về công tác xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài như: Môi trường đầu tư - kinh doanh luôn được cải thiện theo hướng thông thoáng, minh bạch và hấp dẫn các nhà đầu tư, được thể hiện qua chỉ số năng lực môi trường cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh xếp thứ 6/63 tỉnh năm 2010; Thực hiện tốt cơ chế “một cửa” trong cấp giấy CNĐT tại Sở Kế hoạch-Đầu tư, Ban quản lý các KCN tỉnh. Hỗ trợ nhà đầu tư một cách hiệu quả trong việc cung cấp thông tin liên quan đến dự án đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư, xây dựng và triển khai dự án; thực hiện biên soạn tài liệu giới thiệu môi trường đầu tư, thường xuyên điều chỉnh, bổ sung danh mục dự án gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Bên cạnh đó, công tác quản lý, giám sát được thực hiện có kế hoạch, thường xuyên, chặt chẽ và đồng bộ sẽ đảm bảo dự án đầu tư được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật, đúng tiến độ, hạn chế được các tác hại về môi trường, chống các hoạt động chuyển giá trốn thuế…

2.3.1.2. Kinh nghiệ m củ a tỉ nh Hả i Dư ơ ng

Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng với điện tích 1.662 km2, là một trong bảy tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tiếp giáp với sáu tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Phòng,

Hưng Yên. Trong 7 năm trở lại đây, kinh tế Hải Dương đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bốn năm liền tăng trưởng liên tục (hơn 10%), cao nhất 2007 tăng 11,5%, năm 2009 giảm xuống còn 6,0% do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ cuối năm 2008, song nhờ có giải pháp và chính sách hỗ trợ kịp thời của Chính phủ trong việc kích cầu đầu tư và các DN…vì vậy cùng với kinhtế cả nước, kinh tế Hải Dương đã khôi phục nhanh chóng, năm 2010 tăng 10,1%. Năm 2011 tăng 9,3%, tuy không đạt mục tiêu so với kế hoạch nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng khá. Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2011đạt 39.028 tỷ đồng, tăng 2,92 lần so với năm 2005 (13.334 tỷ đồng). Trong đó khu vực nông, lâm, thủy sản đạt 8.986 tỷ đồng; khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 17.811 tỷ đồng; khu vực dịch vụ đạt 12.231 tỷ đồng. Tốc độ trung bình của khu vực công nghiệp và xây dựng giai đoạn 2006-2010 tăng 11,6%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tuy không nhanh nhưng bền vững, phù hợp với sự nghiệp CNH, HĐH trong tỉnh. Năm 2005 cơ cấu ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 27,1%; công nghiệp, xây dựng là 43,6%; dịch vụ là 29,3%, đến năm 2011 cơ cấu ngành tương ứng là 23.0%; 45,6%; 31,4%. Những thành tựu phát triển kinh tế của Hải Dương có sự đóng góp không nhỏ của việc thu hút, sử dụng FDI.

Theo số liệu của Sở Kế hoạch-Đầu tư tỉnh Hải Dương, tính đến hết ngày 31/3/2013, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 247 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5.693,7 triệu USD; tổng vốn đầu tư thực hiện của các DN FDI đạt 2.505,9 triệu USD.

Điểm nổi bật của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải Dương, đó là mặc dù sản xuất, kinh doanh của các DN nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn, nhưng trong số 247 dự án FDI được cấp giấy CNĐT còn hiệu lực trên địa bàn, có tới 192 DN đã đi vào hoạt động. Doanh thu trong quý I/2013 của các DN FDI ước đạt 700 triệu USD, tăng 19,6 % so với cùng kỳ năm 2012;

trong đó doanh thu xuất khẩu ước đạt 600 triệu USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ 2012. Đây là một kết quả tích cực. Cũng nhờ hoạt động SXKD tiếp tục tăng trưởng, nên trong quý I, khu vực kinh tế này đã thực hiện nghĩa vụ thuế

và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước đạt 20 triệu USD; đảm bảo việc làm cho 110.300 người lao động. Với kết quả này, dự kiến cả năm 2013 Hải Dương sẽ thu hút thêm được 250 triệu USD vốn đầu tư; vốn đầu tư thực hiện ước đạt 250 triệu USD; doanh thu ước đạt 2.900 triệu USD và nộp ngân sách đạt khoảng 100 triệu USD.

Trong cơ cấu đầu tư, các nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, với 200 dự án, với các ngành nghề tiêu biểu như sản xuất các sản phẩm điện và điện tử, lắp ráp ô tô, sản xuất xi măng, sắt thép, gia công hàng dệt may, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác... Khu vực dịch vụ có 21 dự án tập trung vào giao thông vận tải, kinh doanh khách sạn, siêu thị... Khu vực nông nghiệp có số dự án thấp nhất do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về nguy cơ rủi ro, ảnh hưởng của thời tiết, khó khăn khi thu mua nguyên liệu đầu vào [95].

Nhìn chung, thời gian qua, khu vực FDI đã góp phần tạo ra năng lực sản xuất mới, hình thành các ngành nghề mới, công nghệ sản xuất, quản lý mới và các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao trên thị trường. Đồng thời, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hải Dương theo hướng CNH, HĐH, tạo điều kiện khai thác các nguồn lực của địa phương mà trước đây còn ở dạng tiềm năng như đất đai, nhà xưởng, NNL.

Để phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI, tỉnh Hải Dương đã cố gắng xây dựng và phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông; các ngành công nghiệp phụ trợ và hạ tầng xã hội, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của các DN. Bố trí, sắp xếp dự án theo quy hoạch về đất đai cũng như quy hoạch ngành; trong quá trình lập quy hoạch các KCN, CCN đã từng bước chú ý các vấn đề về môi trường, cấp thoát nước..., cải thiện môi trường đầu tư tại các khu vực thị trấn, huyện thị và nông thôn. Tỉnh đã tập trung thu hút đầu tư để sớm lấp đầy các KCN, CCN đã được quy hoạch chi tiết. Ngoài các KCN, CCN đã nằm trong quy hoạch, thì chưa quy hoạch phát triển thêm các KCN, CCN mới. Khi tỷ lệ lấp đầy chung

đạt từ 70% trở lên mới nghiên cứu để bổ sung thêm. Khuyến khích các DN xây dựng nhà xưởng 2-3 tầng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Trong thời gian qua, tỉnh đã tập trung thu hút và phát triển các ngành công nghiệp có thị trường, có lợi thế cạnh tranh nhằm tiếp nhận chuyển giao công nghệ, từng bước vươn lên sản xuất linh kiện, phụ tùng để tiến tới sản xuất hoàn chỉnh một số thiết bị, sản phẩm công nghiệp với công nghệ cao tại địa phương, tăng cường thu hút đầu tư vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội.

Thực hiện cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, trách nhiệm công vụ của cán bộ công chức trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, xuất nhập khẩu, lao động, môi trường…, nhằm loại bỏ phiền hà, tạo điều kiện thời gian nhanh nhất cho các nhà đầu tư khi thực hiện dự án.

Quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và DN, tạo dựng và củng cố lòng tin để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm sản xuất kinh doanh tại Hải Dương.

Tỉnh đã quan tâm đẩy mạnh đào tạo NNL, đặc biệt NNL chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của DN và xã hội. Phát triển các cơ sở, trang thiết bị và dịch vụ y tế tiên tiến hiện đại, đáo ứng nhu cầu đa dạng của người dân và DN FDI.

Chuẩn bị tốt các điều kiện xã hội như dịch vụ khách sạn, nhà hàng; vui chơi giải trí v.v..., để phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư và người lao động làm việc trong các KCN, CCN. Đồng thời, quan tâm giải quyết tốt vấn đề đời sống nhân dân vùng giao đất để làm KCN, CCN.

Bên cạnh đó đã từng bước tạo môi trường thuận lợi cho các loại hình dịch vụ như tài chính, thị trường vốn, kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, kiểm toán, xúc tiến thương mại. Hình thành và từng bước mở rộng thị trường vốn trên địa bàn; đẩy mạnh các hoạt động tài chính, ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Tạo môi trường, điều kiện thành lập công ty đầu tư tài chính, tham gia thị trường chứng khoán; khuyến khích, hỗ trợ các doanh

Một phần của tài liệu Đề Tài Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh vĩnh phúc (Trang 59 - 70)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(168 trang)