Đánh giá tác động

Một phần của tài liệu Dtm bia 8 8 (end) (Trang 28 - 34)

3.3.1. Tác động tới các thành phần môi trường.

a. Tác động đến môi trường không khí:

+ Giai đoạn thi công:

Trong giai đoạn này, các tác động đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng nhìn chung không thể trách khỏi. Tuy nhiên mức độ tác động đối với từng thành phần của môi trường sống trong giai đoạn này là ngắn. Đáng chú ý hơn cả là bụi và tiếng ồn, ngoài ra còn có các hơi khí CO, SO2, NOx, hydrocacrbon, khí thải của các phương tiện vận chuyển...

Bụi phát sinh nếu không có biện pháp cụ thể sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới cảnh quan môi trường, sức khỏe công nhân trực tiếp thi công. Mức độ tác hại đối với sức khỏe tùy thuộc vào nồng độ ô nhiễm và thời gian tiếp xúc của người công nhân với nguồn bụi. Khi tiếp xúc thời gian dài trong ngày với nồng độ bụi cao thường mắc các bệnh về đường hô hấp (mũi, họng, khí quản, phế quản ...), các bệnh ngoài da (nhiễm trùng da, làm da khô, viêm da...), các bệnh về mắt (viêm mi mắt...), các bệnh về đường tiêu hóa v.v...

Môi trường ô nhiễm bụi sẽ kéo theo ô nhiễm nguồn nước mặt, nguồn nước sử dụng của nhân dân quanh vùng và từ đó gây ra các ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và động vật nuôi. Bụi ô nhiễm này còn có tác dụng xấu đến quá trình quang hợp của cây, làm cho cây cối chậm phát triển, lá úa vàng, năng suất thu hoạch giảm.

Tác động do tiếng ồn trong quá trình thi công, do khí thải từ các phương tiện và máy thi công ảnh hưởng chủ yếu đến người công nhân trực tiếp thi công công trình nhưng nhìn chung chỉ ở mức độ nhẹ.

+ Giai đoạn dự án đi vào hoạt động:

Trong giai đoạn này ô nhiễm do bụi và tiếng ồn giảm mạnh, thế vào đấy là ô nhiễm do khí thải phát sinh từ các khu vực thu rác bẩn, bể xử lý kỵ khí, bể hiếu khí, bể nén bùn… Các hơi khí ô nhiễm có chiều hướng tăng mạnh bao gồm:

- Khí CO2: Phát sinh từ chất thải rắn thu được từ sàng chắn rác, bùn thải, từ các bể xử lý yếm khí, bể hiếu khí.

- Khí SO2, H2S, CH4, NH3 : Phát sinh tại các khu vực thu rác, bể xử lý kỵ khí, bể hiếu khí, bể nén bùn.

- Khí NO2, CO, hydro cacbon: Phát sinh từ chất thải rắn thu được từ sàng chắn rác, bùn thải phân huỷ.

- Bụi lơ lửng phát sinh tại khu vực bể khấy trộn và từ các phương tiện giao thông vận chuyển bùn thải đưa đi xử lý. Thành phần bụi lơ lửng lúc này đã bị biến đổi nhiều, trong đó có chứa các hạt hóa chất xử lý nước thải.

Khi không khí đã bị ô nhiễm các thành phần nêu trên sẽ gây trở ngại rất lớn cho quá trình hô hấp của con người nói riêng và của các sinh vật nói chung.

Lượng không khí mà cơ thể con người cần cho sự hô hấp là khoảng 10 m3 và khi tiến hành hô hấp phổi của chúng ta sẽ hấp thụ hoàn toàn các chất độc hại đó và tạo điều kiện cho chúng thâm nhập sâu vào cơ thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe và tính mạng con người.

Tác hại của một số chất khí gây ô nhiễm:

Khí CO2: Nồng độ CO2 cao gây đau đầu, khó thở, buồn nôn, chóng váng.

Khi tiếp xúc lâu dài với CO2 nồng độ rất cao có thể gây lú lẫn, mất ý thức và gây tử vong. Khí CO2 còn gây quái thai trên động vật và có khả năng gây quái thai trên người.

Khí CO: Là chất khí không màu, không mùi có ái lực mạnh với hemoglobin và chiếm chỗ oxy trong máu, gây thiếu oxy cho cơ thể. Vì thế, CO gây chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, ngất và rối loạn nhịp tim. Với nông độ 250 ppm, CO có thể gây tử vong. Người lao động làm việc liên tục ở nồng độ CO cao bị ngộ độc mạn tính, thường bị xanh xao, gầy yếu. Giới hạn nồng độ CO cho phép trong khu vực sản xuất là 30 mg/m3.

Khí SO2: Là chất khí dễ hoà tan trong nước và được hấp thụ hoàn toàn rất nhanh khi hít thở ở đoạn trên của đường hô hấp. Có mùi hăng khét ngột ngạt, người nhạy cảm với SO2 nhận biết được ở nồng độ 0,56 ppm. Khí SO2 ở nồng độ cao gây xuất tiết nước nhầy và viêm thành khí quản, làm tăng sức cản đối với sự lưu thông không khí của đường hô hấp và gây khó thở. Nồng độ giới hạn của SO2 trong môi trường không khí trung bình 1 giờ là 0,5 mg/m3.

Khí NO2: Nitơ oxit được biết đến như một chất gây kích thích viêm tấy và có tác hại đối với hệ thống hô hấp. ở nồng độ thường gặp trong môi trường lao động hoặc trong không khí xung quanh, tác hại của NO2 tương đối chậm và khó nhận biết. Các triệu chứng bệnh lý do NO2 gây ra được trình bày ở bảng sau:

Bảng 21: Một số biểu hiện bệnh lý khi tiếp xúc với NO2

Nồng độ NO2 (ppm) Thời gian tiếp xúc Triệu chứng

 500 300 - 400 150 - 200 50 - 100

48 giờ 2 - 10 ngày

3 - 5 tuần 6 - 8 tuần

Chết người

Gây viêm phổi và chết Viêm xơ cuống phổi

Viêm cuống phổi và màng phổi Khí H2S: Trong môi trường không khí, chất khí này có mùi trứng thối, gây cảm giác khó chịu đối với con người và động vật. Khi tiếp xúc với khí H2S ở nồng độ cao có thể gây tử vong tại chỗ, ở nồng độ thấp có thể gây đau mắt, mắt đỏ, nhìn mờ. Kích thích phổi gây ho, khó thở, ở mức cao hơn có thể gây phù phổi dẫn đến tử vong. Ngoài ra, còn gây kích thích da, mắt gây buồn nôn, chóng mặt, mất ý thức. Nếu tiếp xúc thời gian dài ở nồng độ thấp có thể gây rối loạn

giấc ngủ, buồn nôn. Giới hạn tối đa cho phép trong khu vực sản xuất là 10 mg/m3, ở khu vực xung quanh là 0,008 mg/m3.

Khí NH3: Là một chất khí không màu, có mùi khai khó thở và độc hại đối với cơ thể con người. Nồng độ tối đa cho phép của NH3 trong môi trường không khí là 0,2mg/m3. ở nồng độ cao gây đau đầu, mất khứu giác, kích thích dạ dày, gây nôn mửa và có nguy cơ gây phù phổi dẫn đến tử vong.

Đối với thực vật khi tiếp xúc với NH3 ở nồng độ thấp và lượng vừa phải sẽ là nguồn nguyên liệu tổng hợp đạm cho cây cối phát triển, năng suất cao. Tuy nhiên khi tiếp xúc lâu dài sẽ gây ức chế quá trình quang hợp, quá trình tổng hợp đạm của cây, làm cho cây cối vàng lá, giảm năng suất cây trồng.

Khi khuyếch tán vào môi trường nước sẽ làm thay đổi tính chất hoá lý của nước. Điều này làm giảm giá trị sử dụng nước, làm nhiễm bẩn môi trường sống của các loài thuỷ sinh vật dưới nước.

Hydrocacbon: Là các hợp chất giữa cacbon và hydro. Khi ở trạng thái khí, các hợp chất hydrocacbon là các khí không màu, có mùi đặc trưng. Hỗn hợp của hơi hydrocacbon với không khí hoặc oxy ở một tỷ lệ nhất định có thể gây nổ.

Các hợp chất hydrocacbon đều độc với cơ thể con người, đặc biệt là các hợp chất của hydrocacbon thơm (gây suy hô hấp, gây dị ứng da và gây ung thư).

Giới hạn của một số hydrocacbon trong khu vực sản xuất: Benzen (300 mg/m3), Toluen (100 mg/m3), xăng dung môi (300 mg/m3), xăng nhiên liệu (100 mg/m3).

Giới hạn của một số hydrocacbon trong không khí xung quanh: Benzen (1,5 mg/m3), Toluen (0,6 mg/m3) và xăng (5 mg/m3)

Bụi: Các loại bụi vô cơ đặc biệt, các loại bụi kim loại… có thể gây ra bệnh bụi phổi, gây phù niêm mạc, loét phế, khí quản và gây suy hô hấp. Ngoài ra bụi còn gây các chấn thương cho mắt. Bụi than, bụi bông, bụi vô cơ khác vào trong phổi gây kích thích cơ học, phát sinh phản ứng sinh hoá ảnh hưởng đến đường hô hấp.

Tiếng ồn: Tiếng ồn có ảnh hưởng đến cơ quan thính giác khi ở cường độ lớn (gây thủng màng nhĩ, gây mất khả năng nghe) và hệ tuần hoàn. Tiếng ồn có tần số thấp có tác dụng đến hệ thần kinh, làm mất tập trung tư tưởng, dễ gây tai nạn lao động, gây nôn mửa và trạng thái say sóng. Làm việc lâu dài ở khu vực có cường độ tiếng ồn lớn có thể mắc bệnh điếc nghề nghiệp. Giới hạn cho phép cường độ tiếng ồn trong khu vực sản xuất là 85 dB, từ 40 - 75 dB tuỳ theo giờ và tính chất của khu dân cư.

Nhiệt độ: Nhiệt độ có tác động rõ rệt đến cơ thể. Khi tiếp xúc ở môi trường có nhiệt độ cao cơ thể tăng tiết mồ hôi, tăng sự tuần hoàn máu dưới da hoặc run.

Khi nhiệt độ môi trường cao hơn nhiệt độ cơ thể (đặc biệt trong môi trường có độ ẩm cao) cơ thể có thể bị say nắng hoặc các triệu chứng nguy hiểm khác và có thể gây tử vong.

Ngoài ra không khí bị ô nhiễm còn có tác hại rất lớn tới súc vật, thực vật.

Đây cũng chính là nguồn tích luỹ gây ra các sự cố về môi trường như mưa axít, hiệu ứng nhà kính.

b. Tác động đến môi trường nước.

+ Giai đoạn thi công:

Nước mưa chảy tràn và nước phục vụ thi công xây dựng, lau rửa máy móc thiết bị và vệ sinh của công nhân kéo theo nhiều tạp chất có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt khu vực. Đặc biệt khi có mưa trong thời gian thi công, nước mưa chảy tràn kéo theo các tạp chất, cặn bã trên toàn bộ mặt bằng trôi vào cống rãnh, mương máng đổ ra mương thải chung làm ô nhiễm nguồn nước mặt xung quanh khu vực dự án.

+ Giai đoạn dự án đi vào hoạt động:

Do đặc thù công nghệ, trong khu vực xử lý chỉ phát sinh một lượng nhỏ nước thải sản xuất, vì thế nước thải chủ yếu là nước thải sinh hoạt và nước mưa chảy tràn.

- Nước mưa chảy tràn: Vào mùa mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất sẽ cuốn theo các chất cặn bã, các chất hữu cơ và đất cát xuống cống thoát nước. So với các loại nước thải khác, nước mưa khá sạch nên nó sẽ có tác dụng pha loãng các chất ô nhiễm khi đi vào nguồn nước mặt.

Tác động đầu tiên có thể nhận thấy ở đây là sự úng ngập mất vệ sinh môi trường. Điều này thường gặp ở những nơi địa hình thấp, hệ thống thoát nước hoạt động kém hiệu quả. Khi gặp những trận mưa to và kéo dài sẽ gây ngập úng toàn diện hoặc cục bộ, các chất bẩn tích tụ sẽ bị phân hủy phát sinh mùi hôi thối, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật, vi trùng phát triển nhanh chóng, ruồi muỗi cũng phát triển nhanh theo, khi đó hậu quả là rất dễ đưa đến các dịch bệnh lan truyền. Tác động lớn nhất do nước mưa chảy tràn gây ra là do nồng độ chất rắn lơ lửng, tổng nitơ và photpho cao, khi thải vào môi trường gây đục nguồn nước mặt, gây bồi lắng vực nước lâu dài có thể gây hiện tượng phú dưỡng dẫn tới bùn

hóa các khu vực nước nông, điều này ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của sinh vật thuỷ sinh.

- Nước thải sinh hoạt: Đây được coi là nguồn ô nhiễm tiềm ẩn, có nguy cơ cao đối với chất lượng nước mặt và nước ngầm xung quanh nếu không được qua các khâu xử lý. Việc thải bỏ bừa bãi nước thải sinh hoạt sẽ gây mất mỹ quan, phát sinh khí gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước trong khu vực.

Lâu ngày sẽ làm giảm chất lượng nước trong khu vực, suy giảm chức năng và mục đích sử dụng của nguồn nước.

- Nước thải phát sinh trong quá trình hệ thống xử lý nước thải hoạt động:

nước rửa sàn, đường đi, rửa máy móc thiết bị, dụng cụ lao động. Dòng nước này có chứa chất lơ lửng, đất đá, mùn, hợp chất hữu cơ, vô cơ, dầu mỡ… gây đục nguồn nước mặt, xảy ra hiện tượng phú dưỡng khi thành phần nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, N, P sẽ gây hiện tượng cây hoặc hoa màu phát triển tốt chủ yếu là lá, nhưng không có quả và hạt, làm thiệt hại tới năng suất cây trồng. Tuy nhiên, dòng nước thải này ít và có mức độ độc hại trung bình.

Tóm lại, việc đưa dự án vào hoạt động mà không có hệ thống phân tách các nguồn thải, không xử lý nước thải sinh hoạt đảm bảo các yêu cầu đầu ra theo quy định sẽ góp phần làm gia tăng thêm mức độ ô nhiễm nước mặt và nước ngầm tại các khu vực lân cận dự án, từ đó gây ra những tác động xấu tới cộng đồng dân cư, tạo điều kiện cho dịch bệnh lan truyền và ảnh hưởng tới sinh vật thủy sinh.

c. Tác động tới môi trường đất.

Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất chính là nước thải, khí thải và chất thải rắn. Nước thải và khí thải có chứa các hợp chất gây ô nhiễm khi đi qua môi trường đất sẽ làm biến đổi tính chất hoá lý, cơ học của đất. Nồng độ các chất ô nhiễm trong đất càng cao thì nồng độ oxy trong đất càng thấp, điều đó gây ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của các loài vi sinh vật trong đất.

Mặt khác, môi trường đất là nơi tiếp nhận cuối cùng của các dòng thải. Khi nồng độ các chất ô nhiễm cao, thành phần các chất ô nhiễm phức tạp sẽ làm thay đổi khả năng tự phục hồi của đất, ảnh hưởng đến sự tác động qua lại giữa đất - nước - không khí, từ đó dẫn đến sự thay đổi môi trường sống của các loài động thực vật trong khu vực, làm mất cân bằng sinh thái vùng.

3.3.2. Tác động tới tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội.

+ Sức khỏe cộng đồng: Tất cả các nguồn gây ô nhiễm trong quá trình hoạt động của dự án đều có thể gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ

của con người trong vùng chịu ảnh hưởng của dự án. Tuỳ thuộc vào nồng độ và thời gian tác động của các chất ô nhiễm mà mức độ tác hại của chúng đối với sức khỏe cộng đồng sẽ khác nhau.

+ Kinh tế xã hội: Quá trình hình thành và sự hoạt động của dự án sẽ góp phần thu hút (gián tiếp và trực tiếp) lao động dôi dư trong khu vực, tạo công ăn việc làm góp phần nâng cao đời sống của một bộ phận nhân dân trong vùng. Điều này cũng góp phần làm tăng dân trí và ý thức bảo vệ môi trường cho người dân.

Tuy vậy, bên cạnh các mặt tích cực đó là các mặt tiêu cực đi kèm: đất đai cho cây xanh và cảnh quan thiên nhiên bị thu hẹp, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng cũng gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống của nhân dân.

+ Giao thông vận tải: Dự án cũng sẽ góp phần cùng với các hoạt động khác trong khu vực làm cho tình trạng mất vệ sinh đường phố, bụi tăng lên do các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu. Mật độ giao thông trong khu vực tăng lên làm ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại của nhân dân, tăng nguy cơ gây tai nạn thương tích.

Một phần của tài liệu Dtm bia 8 8 (end) (Trang 28 - 34)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(51 trang)
w